Bản án số 10/2024/HSST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2024/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2024/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2024/HSST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Nô (TAND tỉnh Đắk Nông) |
| Số hiệu: | 10/2024/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Nguyễn Văn Linh bị xử phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 của BLHS |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 10/2024/HSST
Ngày: 29-3-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạnh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển, ông Lê Khải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông
Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 03 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
mở phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS, ngày
28/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS, ngày 18
tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh ngày 30/4/1988; tại: tỉnh Nghệ An; Nơi đăng
ký NKTT và trú tại: Buôn K, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông;
trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và bà: Lê Thị C, sinh năm 1966; bị cáo là con
thứ hai trong gia đình có 04 anh em; Tiền án: 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày
14/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS năm 2015
(Bản án số 12/2019/HSST, chưa được xóa án tích). Ngày 10/3/2021 vị Tòa án nhân dân
huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo
quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015 với tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015
(Bản án số 02/2021/HSST, chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không; Về nhân thân:
Ngày 25/02/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk nông xử phạt 03 năm
tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999,
theo Bản án số 09/2014/HSST, đã được xóa án tích; Ngày 31/8/2020 bị UBND xã N,
huyện L, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 82/QĐ-
UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 01/12/2020 chấp hành xong
quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã.
Biện pháp ngăn chặn áp dụng: Bị tạm giữ từ ngày 13/11/2023, sau đó chuyển
tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
(Bị cáo có mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/11/2023, Nguyễn Văn
L đi xe khách từ Vũng Tàu đến thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông, thì Nguyễn Văn
L xuống xe và đi bộ đến khu vực chợ huyện C tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến
ngã tư đèn xanh, đèn đỏ gần chợ, Nguyễn Văn L gặp và hỏi một người đàn ông (chưa
xác định được nhân thân, lai lịch) chỗ để mua ma túy. Khi người đàn ông trả lời có
bán ma túy, thì Nguyễn Văn L đưa 200.000 đồng cho người đàn ông và nhận lại 01
đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa ma túy. Nguyễn
Văn L đi đến tiệm thuốc tây thuộc thị trấn E, huyện C mua 01 bơm kim tiêm. Sau đó,
Nguyễn Văn L đi nhờ xe của người đi đường đến Trung tâm y tế huyện K, tỉnh Đắk
Nông ngủ qua đêm. Đến khoảng 01 giờ 00 ngày 13/11/2023, Nguyễn Văn L lấy một
phần ma túy đã mua ra sử dụng bằng cách tiêm vào cơ thể, số ma túy còn lại trong
đoạn ống nhựa được Nguyễn Văn L hàn lại và để vào ví cất trong người. Đến 07 giờ
45 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn L đang ở khu vực thuộc thôn N, xã N, huyện K,
tỉnh Đắk Nông thì bị Công an huyện Krông Nô bắt quả tang, thu giữ trong người
Nguyễn Văn L 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín 02 đầu, kích thước
(0,6x3)cm, bên trong có chứa chất rắn màu trắng và một số tang vật có liên quan.
Nguyễn Văn L khai nhận chất rắn màu trắng bị thu giữ là ma túy, loại heroin.
Tại bản Kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 14/11/2023 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01
đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (0,6x3)cm được niêm
phong trong bì thư ký hiệu M gửi giám định là ma túy; là Heroine (Heroin) có khối
lượng là 0,1293 gam. Hoàn lại sau giám định là 0,1136 gam.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-KrN ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Krông
Nô để xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định
tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã phân tích,
đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn
Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249
của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
*/ Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 06 (sáu) năm đến 07
(bảy) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn áp dụng hình phạt bổ
sung cho bị cáo Nguyễn Văn L.
*/ Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 của BLTTHS; Áp dụng Điều 47
của BLHS:
- Tịch thu tiêu hủy 0,1136 gam Heroin còn lại sau giám định; 01 đoạn ống
nhựa đựng mẫu giám định và 01 bơm kim tiêm loại 03ml/cc đã qua sử dụng do không
còn giá trị sử dụng.
3
- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô ra quyết định trả
lại 01 ví da màu nâu, có khóa kéo và số tiền 560.000 đồng cho Nguyễn Văn L là chủ
sở hữu hợp pháp.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen viền đỏ (đã qua sử
dụng), số IMEI1: 3577401041127733, số IMEI2: 357740104727730 cho Nguyễn Văn
L là chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Tòa án
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn L nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm
tội, bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa
những lỗi lầm sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông
Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà
bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện
Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có
trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.
[2] Nhận định: Nguyễn Văn L là người nghiện ma túy, vào khoảng 20 giờ ngày
12/11/2023 Nguyễn Văn L đến khu vực chợ huyện C thuộc thị trấn E, huyện C, tỉnh
Đắk Nông mua của một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân lai lịch) 200.000
đồng ma túy để sử dụng cá nhân. Sau khi có ma túy, Nguyễn Văn L lấy một phần ma
túy ra sử dụng, số còn lại Nguyễn Văn L cất giấu trong người. Đến 07 giờ 45 phút, ngày
13/11/2023 khi Nguyễn Văn L đang ở khu vực thuộc thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk
Nông thì bị Công an huyện Krông Nô bắt quả tang, thu giữ trong người Nguyễn Văn L
0,1293 gam ma túy, loại Heroin. Trước đó, ngày 10/3/2021 Nguyễn Văn L bị Tòa án
nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản” thuộc trường hợp “Tái phạm” chấp hành xong hình phạt ngày 27/02/2022 chưa
được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Hành vi của bị cáo đã cấu
thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249
của BLHS.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo đã
4
phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249
của BLHS.
Điều 249 BLHS quy định:
1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
….
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 10 năm:
a) …
o) Tái phạm nguy hiểm.
[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo
là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự,
hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất
ma túy, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng.
Trong thời gian gần đây, nổi nên tình trạng tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng
trái phép chất ma túy một cách nghiêm trọng, đây là một vấn nạn của xã hội chính từ
ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, vì vậy cần phải có một hình phạt tương
xứng để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những ai đã và đang có ý
định phạm tội, nhằm nhanh chóng loại bỏ loại tội phạm này ra khỏi xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng điểm
s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách
khoan hồng của pháp luật nhà nước ta. Tuy nhiên cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi
đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo học tập, lao động cải tạo trở thành người
công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu; Ngày 25/02/2014 bị Tòa án nhân
dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”
theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của BLHS năm 1999 (Bản án số 09/2014/HSST,
đã được xóa án tích); Ngày 14/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk
Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2
Điều 173 của BLHS năm 2015 (Bản án số 12/2019/HSST, chưa được xóa án tích);
Ngày 31/8/2020 bị UBND xã Nam Ka, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã theo Quyết định số 82/QĐ-UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma
túy, ngày 01/12/2020 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã;
Ngày 10/3/2021 vị Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng
tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015
với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản
1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (Bản án số 02/2021/HSST, chưa được xóa án tích).
5
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106
của BLTTHS:
- Đối với 0,1136 gam Heroin còn lại sau giám định; 01 đoạn ống nhựa đựng
mẫu giám định và 01 bơm kim tiêm loại 03ml/cc đã qua sử dụng do không còn giá trị
sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô ra quyết định trả lại 01 ví da
màu nâu, có khóa kéo và số tiền 560.000 đồng cho Nguyễn Văn L là chủ sở hữu hợp
pháp là phù hợp cần chấp nhận.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen viền đỏ (đã qua sử
dụng), số IMEI1:3577401041127733, số IMEI2:357740104727730 cần trả lại cho
Nguyễn Văn L là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
[6] Trong vụ án này còn có những vấn đề sau:
- Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn L do chưa xác định được nhân
thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô tiếp tục xác minh, khi nào
có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn L, Công an
huyện Krông Nô đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
- Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định do vậy cần
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Xử
phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 13/11/2023.
2. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106
của BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy 0,1136 gam Heroin còn lại sau giám định; 01 đoạn ống
nhựa đựng mẫu giám định và 01 bơm kim tiêm loại 03ml/cc đã qua sử dụng do không
còn giá trị sử dụng.
- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Nô ra quyết định trả
lại 01 ví da màu nâu, có khóa kéo và số tiền 560.000 đồng cho Nguyễn Văn L là chủ
sở hữu hợp pháp.
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen viền đỏ (đã qua sử
dụng), số IMEI1: 3577401041127733, số IMEI2: 357740104727730 cho Nguyễn Văn
L là chủ sở hữu hợp pháp.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện K
và Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô).

6
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của BLTTHS; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị
cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-TAND tỉnh ĐắkNông; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
-Phòng NVHS CA tỉnh Đắk Nông;
-VKS ND huyện Krông Nô;
-Đội điều tra Công an huyện Krông Nô; (đã ký)
-Cơ quan THAHS Công an huyện Krông Nô;
-Chi cục THADS huyện K;
-Bị cáo;
-Lưu HS. Nguyễn Thế Hạnh
7
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm