Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 09-01-2024 của TAND TX. Hoài Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản (mua thức ăn chăn nuôi)
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 10/2024/DS-ST Bình Định
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 10/2024/DS-ST Bình Định
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2024/DS-ST ngày 09-01-2024 của TAND TX. Hoài Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản (mua thức ăn chăn nuôi) |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về mua bán hàng hóa |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Hoài Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) |
| Số hiệu: | 10/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/01/2024 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Lê Văn M và Phạm C tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản (mua thức ăn chăn nuôi) |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 10/2024/DS-ST
Ngày: 09 - 01- 2024
V/v“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài
sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Á
Bà Trần Thị Thu Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền là Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh
Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2023/TLST-DS ngày
27 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 291/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1965
Địa chỉ: Khu phố 3, phường Tam Quan, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
2. Bị đơn: Anh Phạm C, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị D, sinh năm
1983
Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định
2
(Ông M, anh C có mặt, chị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
nhưng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 10 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án
và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Lê Văn M trình bày:
Từ năm 2018 cho đến năm 2020, vợ chồng anh Phạm C, chị Phạm Thị D
có mua thức ăn chăn nuôi của ông M và còn nợ lại ông M số tiền 193.215.000
đồng (Một trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng). Ông M đòi
nhiều lần nhưng không chịu trả. Do đó, ông M yêu cầu Tòa giải quyết buộc vợ
chồng anh C, chị D phải có trách nhiệm trả lại cho ông số tiền còn nợ nói trên.
Ông M yêu cầu vợ chồng anh C, chị D trả một lần số tiền nợ cho ông. Ông
không yêu cầu lãi suất. Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản tự khai ngày 03/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa, bị đơn anh Phạm C trình bày:
Từ năm 2018 cho đến năm 2020, vợ chồng anh C có mua thức ăn chăn
nuôi của ông Lê Văn M và hiện còn nợ lại của ông M số tiền 193.215.000 đồng
(Một trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng) như ông M trình
bày là đúng. Vì làm ăn thua lỗ, điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh C
chưa có điều kiện trả nợ cho ông M. Nay ông M khởi kiện yêu cầu trả nợ thì anh
C xin trả dần cho ông M mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi
hết nợ. Mong Tòa xem xét giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị D
không nộp văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo của Tòa
án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng,
người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật; người tham gia
tố tụng có nguyên đơn và bị đơn anh Phạm C chấp hành đúng quy định của pháp
luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị D không chấp hành
đúng quy định của pháp luật; Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông M, buộc vợ chồng anh Phạm C, chị Phạm Thị D liên
đới trả cho ông M số tiền 193.215.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu hai
trăm mười lăm nghìn đồng), ông M không yêu cầu trả lãi suất nên không xem
xét. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm C là người khuyết tật nên được miễn án
3
phí, chị Phạm Thị D chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông M có đơn
khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh C, chị D phải có trách nhiệm trả cho ông số tiền
193.215.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng)
theo các giấy ghi nội dung nhận nợ từ năm 2018 đến năm 2019 và không yêu
cầu trả lãi suất nên được xác định là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài
sản” theo Điều 430 Bộ luật dân sự 2015.
Bị đơn vợ chồng anh C, chị D đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Khu phố T,
phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn,
tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị D được Tòa án triệu tập hai lần
nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều
228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị D.
[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của ông M, yêu cầu vợ
chồng anh C, chị D cùng có nghĩa vụ trả cho ông số tiền 193.215.000 đồng (Một
trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng), thấy rằng: Anh C thừa
nhận vợ chồng có mua bán thức chăn nuôi với ông M và hiện còn nợ lại số tiền
193.215.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng)
như ông M trình bày là đúng.
[3.1] Xét các giấy ghi nội dung nhận nợ giữa anh C và ông M thấy rằng:
Trong một số giấy ghi nội dung mua bán, chị D có ghi tên để xác nhận việc trả
nợ. Tại phiên tòa, anh C cũng thừa nhận vợ chồng anh cùng thực hiện giao dịch
mua bán với ông M và còn nợ ông M số tiền 193.215.000 đồng (Một trăm chín
mươi ba triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng), nhưng vì chị D bận công việc nên
không đến Tòa để trình bày ý kiến được.
Điều này cho thấy hợp đồng mua bán tài sản giữa ông M và vợ chồng anh
C, chị D là có thật và hợp pháp, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
4
[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng yêu cầu chị D có mặt tại Tòa để làm việc nhưng chị D không hợp tác,
không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 và
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định tại các Điều 91; 96 Bộ luật tố tụng
dân sự 2015, chị D không có mặt để trình bày ý kiến, tuy nhiên, việc mua bán
này được anh C thừa nhận và mục đích là để phục vụ chi tiêu chung, trang trải
cuộc sống hàng ngày của gia đình, chăm lo các con ăn học. Đây là những nhu
cầu thiết yếu của gia đình được quy định tại các điều 27, khoản 1 Điều 30 và
khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình nên buộc chị D cùng có trách nhiệm
liên đới trả nợ cùng anh C là phù hợp.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc vợ chồng anh
C, chị D không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên mua, xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của ông M. Do đó, việc ông M khởi kiện yêu cầu vợ
chồng anh C, chị D phải trả cho ông M số tiền 193.215.000 đồng), không yêu
cầu lãi suất là phù hợp theo quy định tại điều 430, 440 Bộ luật dân sự 2015 nên
Hội đồng xét xử chấp nhận. Việc bị đơn đề nghị xin được trả dần số nợ trên
không được ông M đồng ý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận nên vợ chồng anh C, chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
9.660.750 đồng (193.215.000.000 x 5%). Tuy nhiên, anh C là người khuyết tật
nên được miễn án phí phần của anh C, còn lại chị D phải chịu án phí 4.830.375
đồng (Bốn triệu tám trăm ba mươi nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng).
[6] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 288, 357, 430, 440 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 27, khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân
gia đình;
5
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn M.
Buộc vợ chồng anh Phạm C, chị Phạm Thị D liên đới trả cho ông Lê Văn
M số tiền 193.215.000 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu hai trăm mười lăm
nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường
hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể
từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm C là người khuyết tật nên được
miễn án phí. Chị Phạm Thị D phải chịu 4.830.375 đồng (Bốn triệu tám trăm ba
mươi nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Hoàn trả cho ông Lê Văn M số tiền 4.830.375 đồng (Bốn triệu tám trăm
ba mươi nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng) tiền tạm ứng án phí ông M đã nộp
theo Biên lai thu số 0003179 ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành
án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc
không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được
tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ
ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
6
4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành
án Dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND thị xã Hoài Nhơn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Phường
7
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Định;
- VKSND thị xã Hoài Nhơn;
- Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Phường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm