Bản án số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 10/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Phong (TAND tỉnh Bắc Ninh)
Số hiệu: 10/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀN ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 10/2020/HS-ST
Ngày 17/ 02/2020
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hanh phúc
.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Trọng Thinh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Long, Ông Nghiêm Đình Chế
- Thư ký phiên toà; Ông Nguyễn Xuân Ph
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Ngọc Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/TLST-HS ngày
06/01/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11 /2020/QĐXXST-HS ngày
05/02/2020 đối với bị cáo:
Hoàng Yên T, sinh năm 1993 ti huyện Yên Sơn, tnh Tun Quang.
Nơi ĐKHTT: thôn Phúc Ninh , xã Tiến B, huyn Yên Sơn, tinh Tuyên Quang
Ngh nghip: Lao đng t do Trình đ văn hoá: lp 09/12.
Dân tc: Kinh ; gii tính: Nam; tôn giáo: không; quc tch: Vit Nam
Con «ng: Hoàng n T ( chết )
Con bà: Trn Th L, sinh năm 1957
V, con: chưa
Tin án: Ngày 12/3/2014 b TAND huyn Sơn Dương, tnh Tun Quang
phạt 5 năm tù v ti “Cướp tài sn. Ngày 17/01/2018 chp hành xong hình
phạt tù.
Tin s: không
Nhân thân: Ngày 04/02/2010 b TAND huyện n Sơn, tnh Tun
Quang pht 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thi gian th thách là 12
tháng v ti “Trm cắp tài sn.
B bt tm giữ, tm giam tngày 25/10/2019 đến nay ( có mặt tại phiên
toà ).
2
Ngưi b hi: Ông Trần Văn H, sinh năm 1964
HKTT; tn n ng, xã n Trung, huyện n Phong, tnh Bắc Ninh (
mặt ti phiên toà )
Anh Đỗ n D, sinh năm 1979
HKTT; thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (
vắng mt ti phiên tòa )
Anh Trương Quc Kh, sinh năm 1987.
HKTT; thôn Đông Yên, xã Đông Phong, huyện n Phong, tnh Bắc Ninh
( mặt ti phiên tòa ).
Ngưi có quyền lợi nghĩa v liên quan:
Anh Trần Tun Ph, sinh năm 1984
T ti: s 94, đường nh Thun, phưng Tam Quang, tp Tun Quang,
tnh Tun Quang ( vng mt ti phiên tòa ).
Anh Lê Minh Q, sinh năm 1975
T ti: s 220, t G11, phưng Phan Thiết, tp Tuyên Quang, tnh Tun
Quang ( vng mt ti phiên tòa ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSYP ngày 04/01/2020 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Yên Phong truy tố hành vi phạm tội của bị cáo:
Bcáo Hoàng Yên T thuê trọ tại nhà ông Trần n H. Do không công ăn
việc làm, bị cáo T lên mạng Youtube xem các clip cắt khóa bằng kìm thủy lực
đặt mua 01 chiếc kìm thủy lực trên mạng hội facebook với giá 1.250.000đ, mục
đích để trộm cắp tài sản. Trong thời gian ở trọ nhà ông H, T quan sát thấy ki-ốt bán
tạp hóa của gia đình ông Trần Văn H tại tầng 1 ban đêm khóa cửa ngoài, không
ai trông coi, quản lý nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
Khoảng 00 giờ ngày 21/10/2019 bị cáo T từ phòng trọ mang theo ba bên
trong kìm thủy lực, găng tay đi ra ngoài. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, T quay
lại ki ốt nhà ông H rồi đeo găng tay, ngắt cầu dao điện của ki ốt tại cột điện đối
diện, sau đó T dùng m thủy lực cắt khóa ngoài cửa xếp đi vào trong quán T phát
hiện trên giá bán hàng giữa tạp hóa 01 túi nilon bên trong một tệp tiền mặt
nhiều mệnh giá thẻ nạp điện thoại các mệnh giá. T lấy toàn bsố tiền mặt cùng
số thẻ điện thoại này. Sau đó T đi bộ ra vòng xuyến Khu Công nghiệp n Phong,
Bắc Ninh ngồi đợi xe khách để đi về Tuyên Quang, đến 7 giờ cùng ngày T bắt
được xe khách về Tuyên Quang, trên xe khách bị cáo T kiểm tra số tiền mặt thấy có
01 tờ tiền polime mệnh giá 500.000đ, 02 tờ mệnh polime giá 200.000đ, 15 tờ mệnh
3
giá 100.000đ, 10-12 tờ mệnh giá 50.000đ và một số tờ tiền mệnh giá 20.000đ
10.000đ, tổng cộng khoảng 3.500.000đ. T kiểm tra số thẻ nạp điện thoại thấy
tổng số 118 thẻ nạp, trong đó 03 thẻ mệnh giá 100.000đ, 40 thẻ mệnh giá
50.000đ, 30 thẻ mệnh giá 20.000đ của mạng Viettel; 05 thẻ mệnh giá 50.000đ, 40
thẻ mệnh giá 20.000đ của mang Vinaphone, tổng số tiền theo mệnh giá thẻ
3.950.000đ, sau khi đến thành phố Tuyên Quang, T bán số thẻ nạp điện thoại trộm
cắp được cho anh Ph với giá 1.100.000đ.
Vật chứng thu giữ : 01 thẻ nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000đ, seri
10004030120079 chưa sử dụng; 01 kìm thủy lực dài 34cm, tay cầm màu vàng, trên
than ghi chữ HY-16 nhiều chữ Trung Quốc đã qua sử dụng; 01 cbằng
kim loại màu trắng dài 20cm; 01 vít màu vàng dài 18cm, một đầu hai cạnh, một
đầu vát nhọn; 01 vít dài 18,5cm, một đầu hai cạnh, một đầu dạng bút thđiện;
01 chiếc kéo dài 31,5cm, chuôi nhựa màu đen có ghi chữ HATAKA và 01 đôi găng
tay màu bạc do bị cáo T giao nộp khi bị bắt giữ.
18 th nạp điện thoại Viettel mệnh giá 50.000đ; 10 thẻ nạp điện thoại
Vinaphone mệnh giá 20.000đ; 05 thnạp điện thoại Vinphone mệnh giá 50.000đ
do anh Trần Tuấn Ph giao nộp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 98/KL-ĐG ngày 21/11/2019, Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận tổng giá trị của số
thẻ nạp điện thoại mà bị cáo T trộm cắp của ông H là 3.950.000đ.
Vtrách nhiệm dân sự: Ngày 16/11/2019 quan cảnh sát điều tra đã trả lại
cho ông Trần Văn H số thẻ nạp điện thoại đã thu hồi được, ông H nhận lại số tài
sản trên yêu cầu bị o phải bồi thường giá trị số tài sản không thu hồi được.
Anh Trần Tuấn Ph không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về mặt dân sự.
Qúa trình điều tra, bị cáo Hoàng Yên T còn khai nhận thực hiện 02 vụ trộm cắp
tài sản cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ 00 ngày 29/9/2019 bị cáo T dùng kìm cộng lực cắt
khóa cửa ngoài của cửa hàng điện thoại “Thegioidong.com thôn Ấp Đồn,
Yên Trung do anh Đỗ Văn D làm chủ để trộm cắp tài sản, T lục tìm trong tủ đựng
điện thoại trộm cắp được 01 điện thoại di động nhãn hiệu 0ppo F11 màu xanh
(còn mới nguyên hộp); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy
A70 màu xanh còn mới chưa qua sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam sung S7 Edge màu vàng gold; 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6
màu vàng gold đã qua sử dụng bị cáo T cất vào trong túi xách đi về phòng trọ.
Đến khoảng 7 giờ sáng cùng ngày, bị cáo T đi xe khách về thành phố Tuyên Quang
bán số điện thoại trộm cắp được cho anh Minh Quang được số tiền
9.800.000đ sau đó anh Quang đã bán số điện thoại trên cho một số người khách
hàng không quen biết.
4
Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7 Edge màu vàng gold 02
chiếc iPhone6 đã qua sdụng, do không thu được điện thoại, bản thần người bị hại
anh D chỉ nhớ mất 02 chiếc điện thoại 0ppo lại F11 màu xanh 01 chiếc điện
thoại Samsung Galaxy A70 màu xanh đều còn mới nhưng không nhớ mất mấy
chiếc điện thoại cũ, đặc điểm, tình trạng cụ thể của những chiếc máy này nên không
căn cứ để định giá. Do vậy quan điều tra không căn cứ để yêu cầu định
giá tài sản đối với số điện thoại cũ đã mất.
Về bồi thường anh D yêu cầu bị cáo T phải bồi thường cho anh giá trị 01 chiếc
điện thoại 0ppo F11 và 01 điện thoại Samsung Galaxy A70 theo giá trị định giá.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 00 ngày 11/9/2019 bị cáo T dùng vít tháo tấm
nhựa bịt sườn bên phải của cửa hàng tạp hóa Kh Nhàn thôn Ấp Đồn, n
Trung do anh Trương Văn Kh là chủ để trộm cắp tài sản. T lục tìm trộm cắp 01 tập
tiền mặt các mệnh giá từ 1.000đ, 2.000đ, 5.000đ, 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ,
100.000đ và một số thẻ nạp điện thoại các mạnh giá. T cất số tài sản trộm cắp được
vào trong hộp nhựa cất vào trong túi xách và đi về phòng trọ. Bị cáo T kiểm đếm số
tiền mặt bị cáo trộm cắp được là 4.000.000đ, các thẻ nạp điện thoại từ 20.000đ đến
100.000đ hai mạng Viettel Vinaphone, s tiền theo mệnh giá th điện thoại
khoảng 8.000.000đ. Đến khoảng 7 giờ cùng ngày bị cáo T đi xe khách về thành phố
Tuyên Quang bán số thẻ điện thoại trên cho một cửa hàng tạp hóa được 6.000.000đ
(hiện bị cáo T không nhớ địa chỉ cụ thể cửa hàng trên). Số tiền trên bị cáo T tiêu sài
cá nhân hết.
Do không thu được vật chứng các thẻ nạp điện thoại bị cáo T lấy trộm
tại cửa hang anh Kh nên không có căn cứ để định giá tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: anh Trương Quốc Kh yêu cầu bị cáo phải bồi thường
số tài sản bị trộm cắp theo quy định của pháp luật..
Vật chứng thu giữ: 01 túi xách màu đđen đã qua sử dụng; 01 hộp nhựa bên
trong chiếc kìm thủy lực màu đỏ bị hỏng không sử dụng được; 01 kìm thủy lực
màu vàng, tay cầm màu đen, thân kìm hình chữ HY-16” đã qua sử dụng; 01 kéo
cắt tôn màu đen, thân kéo ghi chữ ‘HATAKAđã qua sử dụng; 01 tô vít bốn cạnh
mài nhọn, chuôi màu vàng, đã qua sdụng; 01 vít hai đầu, một đầu bốn cạnh,
một đầu hai cạnh, phần chuôi cầm tay bằng nhựa trong, đã qua sử dụng; 01 mỏ lết
màu trắng, thân ghi chữ “200mm Weishida” đã qua sử đụng; 01 hộp nhựa màu
vàng.
Vtrách nhiệm dân sự: Toàn bộ tài sản bị cáo trộm cắp của ông H, anh Kh
anh D đến nay quan điều tra mới thu được số thẻ điện thoại mà bị cáo trộm cắp
nhà ông H, số còn lại chưa thu hồi được theo biên bản định giá tài nay ông H, anh
Kh và anh D đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Với hành vi trên Cáo trạng của VKSND huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo
Hoàng Yên T với tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS .
5
Tại phiên tòa bị cáo T khai nhận: Toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo
trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng
người , đúng tội và đúng pháp luật khôngoan sai gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm cải tạo tốt để được trở về đoàn tụ
cùng gia đình hội, bị cáo nhất trí với ý kiến của ông H anh Kh không
yêu cầu bị cáo phải bồi thường những tài sản do bị cáo trộm cắp đến nay chưa bồi
thường cho ông H anh Kh, bị cáo xin lỗi cám ơn ông H anh Kh đã cho bị
cáo cơ hội để làm lại cuộc đời.
Ông H trình bày: ông đã nghe rõ lời khai của bị cáo T tại phiên tòa hôm nay về
thời gian không gian địa điểm cũng như hành vi phạm tội của bị cáo ông không
ý kiến gì. Về trách nhiệm dân sự ông đã được quan điều tra trả cho ông số thẻ
điện thoại, số tiền mặt còn lại đến nay bị cáo chưa bồi thường cho ông xong ông
thấy hoàn cảnh gia đình của bị cáo bố đã mất, mẹ già nên ông không yêu cầu bị
cáo T phải bồi thường cho ông số tiền còn lại chưa bồi thường. còn về hình phạt
ông xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Kh trình bày: anh đã nghe lời khai của bị cáo tại phiên tòa về hành vi
phạm tội của bị cáo anh không ý kiến gì. Còn về trách nhiệm dân sự đến nay bị
cáo vẫn chưa bồi thường cho anh được đồng nào, nay anh được biết gia đình bị cáo
bố mất sớm, mẹ già, vợ con chưa có điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn,
anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tài sản mà bị cáo đã trộm cắp
của anh.
Ti phiên tòa đi din VKSND huyn Yên Phong thc hành quyền công t
đã phân tích đánh giá chng c hành vi phm ti ca bị cáo, tình tiết tăng nặng
gim nh cũng như nhân thân của b cáo gi nguyên bản Cáo trng s 11/CT-
VKSYP ngày 04/01/2020 đã truy t và đ ngh HĐXX tun b b cáo Hoàng
Yên T phm ti “Trm cắp tài sn áp dng khon 1 điều 173, đim s, khon
1,2 Điu 51, đim g, h khon 1 Điu 52, Điu 38 BLHS. X pht T t 20
tháng đến 22 tháng tù.
V trách nhim dân s : Căn c Điều 48 BLHS, Điu 589 BLDS. Buc b
cáo Hoàng n T phi bi thưng cho anh Đ Văn D 13.800.000đ
V vt chứng: Căn c Điu 47 BLHS, Điu 106 BLTTHS. Tch thu tiêu
hy: 01 túi xách; 01 hộp nhựa, bên trong chiếc kìm thy lực b hỏng; 01
kìm thy lc; 01 kéo ct tôn; 01 tô vít bn cnh; 01 tô vít hai đu, một đu bn
cnh, một đu hai cnh; 01 mỏ lết; 01 đôi găng tay vi thun; 01 hp nhựa u
vàng.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên toà, trên sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của
Kiểm sát viên, bị cáo, những người tham gia tố tụng.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội khẩn cấp ,
thu giữ vật chứng, đơn trình báo lời khai của người bị hại, người liên quan các
chứng cứ khác trong hồ vụ án đủ sở kết luận: Trong tháng 9 10/2019
bị cáo Hoàng Yên T đã thực hiện 03 hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thề khoảng 01 gi
ngày 11/9/2019 bị cáo T trộm cắp của anh Kh số tiền mặt 4.000.000đ cùng một
số thẻ nạp điện thoại trị giá 6.000.000đ. Khoảng 02 giờ ngày 29/9/2019 T trộm cắp
của anh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu 0ppo F11 trị giá 9.100.000đ, 01 chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xanh trị giá 4.700.000đ.
Khoảng 01 giờ ngày 21/10/2019 bị cáo T trộm cắp của ông H số tiền 3.500.00
cùng một số thẻ nạp điện thoại giá trị 3.950.000đ. số tài sản là tiền mặt thẻ
nạp điện thoại do bị cáo T trộm cắp của ông H, anh D, anh Kh bị cáo bán lấy tiền
ăn tiêu cá nhân hết.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội đã xâm phạm đến tài sản
của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng
nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa Ph, bởi lẽ bị cáo đã lợi dụng shcủa
người bị hại bị cáo đã nén nút trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu nhân hết
đến nay bị cáo chưa bồi thường cho người bị hại được đồng nào. Hành vi đó cần
phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục chung và phòng ngừa riêng đối với bị cáo.
Xét tính chất mức độ thấy: Tính chất mức độ ít nghiêm trọng. Xong bcáo
coi thường pháp luật lợi dụng sự hở của chủ sở tài sản bị cáo đã có hành vi trộn
cắp của người bị hại để bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân đến nay không có khả năng bồi
thường chỉ trong vòng thời gian từ tháng 9 đến tháng 10/2019 bị cáo đã thực 03
hành vi trộm cắp với tổng giá trị tài sản do bị cáo trộm cắp là 31.250.000đ.
Xét vnhân thân thấy: bị cáo đã 01 tiền án chưa được xóa án tích bị cáo
không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện để trở thành người lương thiện, bị cáo
lại lao vào con đường phạm tội lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài
ra vào năm 2010 bị cáo cũng bị xử phạt 06 tháng treo tuy đây không coi tiền
án tiền sự xong Hội đồng xét xthấy bị cáo nhân thân xấu cần bắt bị cáo phải
cách ly khỏi hội một thời gian nhất định thì mới thể cải tạo bị cáo trở thành
người lương thiện và có ích cho xã hội.
Xét tình tiết giảm nhẹ thấy: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra cũng như tại
phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình
tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, người bị hại xin giảm nh
hình phạt cho bị o nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại
khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 2 lần trn tái phạm theo
quy định tại điểm g, h khoản 1 điều 52 BLHS.
7
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa anh Kh ông H không yêu cầu bị cáo
phải bồi thường cho anh ông số tài sản do bị cáo T đã trộm cắp chưa bồi
thường cho anh cho ông. Riêng anh Đỗ Văn D yêu cầu bị cáo phải bồi thường
cho anh D số tài sản do bị cáo trộm cắp được theo biên bản định giá tài sản
13.800.000đ. Xét thấy yêu cầu trên của anh Kh, ông H anh D hoàn toàn t
nguyện phù hợp với pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vvật chứng: Quá trình điều tra quan điều tra thu giữ gồm: 01 túi xách
màu đỏ đen đã qua sử dụng; 01 hộp nhựa bên trong là chiếc kìm thủy lực màu đỏ bị
hỏng, không sử dụng được; 01 kìm thủy lực màu vàng, tay cầm màu đen, thân kìm
ghi chữ ‘HY-16” đã qua sử dụng; 01 kéo cắt tôn màu đen, thân kéo ghi chữ
‘HATAKA’ đã qua sử dụng; 01 vít bốn cạnh mài nhọn, chuôi màu vàng, đã qua
sử dụng; 01 tô vít hai đầu, một đầu bốn cạnh, một đầu hai cạnh, phần chuôi cầm tay
bằng nhựa trong đã qua s dụng; 01 mỏ lết màu trắng, thân ghi chữ ‘200mm
Weishida” đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay bằng vải thun màu trắng xám, đã qua sử
dụng; 01 hộp nhựa màu vàng. Xét thấy svật chứng trên ng cụ phạm tội cũng
như giá trị sử dụng không còn cần tịch thu tiêu hủy.
Liên quan trong vụ này có: anh Trần Tuấn Ph anh Minh Quang người
đã mua số thẻ nạp điện thoại số điện thoại di động bị cáo T trộm cắp được
nhưng không biết nguồn gốc số tài sản trên do T trộm cắp nên quan
điều tra chỉ nhắc nhở mà không xử lý hình sự là phù hợp.
Việc truy tố mức án do Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo căn cứ
đúng pháp luật, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân
của bị cáo cần được chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Yên T phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 điểm g, h khoản 1
Điều 52, Điều 38 BLHS.
Xphạt: Hoàng Yên T 24 tháng thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm
giam 24/10/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS, Điều 589 BLDS
Buộc bị cáo Hoảng Yên T phải bồi thường cho anh Đỗ Văn D 13.800.000đ.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01
túi xách màu đđen đã qua sử dụng; 01 hộp nhựa, bên trong chiếc kìm thủy lực
màu đỏ bị hỏng, không sử dụng được; 01 kìm thủy lực màu vàng, tay cầm màu đen,
thân kìm ghi chữ ‘HY-16’ đã qua sử dụng; 01 kéo cắt tôn màu đen, thân kéo ghi
8
chữ ‘HATAKA’ đã qua sdụng; 01 vít bốn cạnh mài nhọn, chuôi màu vàng, đã
qua sử dụng; 01 vít hai đầu, một đầu bốn cạnh, một đầu hai cạnh, phần chuôi
cầm tay bằng nhựa trong, đã qua sử dụng; 01 mỏ lết màu trắng, thân ghi chữ
200mm Weishida” đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay bằng vải thun màu trắng xám,
đã qua sdụng; 01 hộp nhựa màu vàng. Hiện các vật chứng trên do Chi cục thi
hành án dân sự huyện Yên Phong quản lý.
Áp dụng điều 135, 136 B luật t tụng hình sự, Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Hoàng Yên T phải chịu 200.000đ án phí HS-ST và 675.000đ án phí DS-
ST.
Trường hợp bên nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi
suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Nếu không thỏa thuận thì
thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
B cáo, ngưi b hi có mt có quyn kháng cáo trong hn 15 ngày kt ngày tuyên án
sơ thm.
Ngưi b hi, người có quyn li nghĩa v liên quan vng mt có quyn kháng cáo
trong hn 15 ngày kể từ ny nhn đưc kết qu tng đt bn án.
Hi thm nhân dân
Nguyn Thế Long Nghm Đình Chế
Thm phán Ch ta phiên tòa
Nơi nhận T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tØnh B¾c Ninh;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
.
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND huyện Yên Phong ;
- C«ng an huyện Yên Phong;
9
- Chi côc THADS huyện Yên Phong
- Nh÷ng ngêi tham gia tè tông;
- Lu.
ơng Trọng Thinh
Hi thm nhân dân
Thm phán Ch ta phiên tòa
10
Đ Như Vũ Nguyn Vit Trung
Tải về
Bản án số 10/2020/HS-ST Bản án số 10/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất