Bản án số 10/2020/HS-ST ngày 19/06/2020 của TAND huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 10/2020/HS-ST ngày 19/06/2020 của TAND huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nguyên Bình (TAND tỉnh Cao Bằng)
Số hiệu: 10/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGUYÊN BÌNH
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 10/2020/HS-ST
Ngày: 19-6-2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đoàn Tụ
Hoàng Thị Tuyết
Thư ký phiên toà: Ông Trn Văn Dũng - Thm tra viên Tòa án nhân dân huyn
Nguyên Bình, tnh Cao Bng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
tham gia phiên toà: Bà Nông Thùy Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện
Nguyên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-
HS ngày 22 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
09/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 m 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý Tòn D; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 20/7/1990 tại xã K, huyện Q, Cao Bằng
Nơi đăng HKTT chỗ : Xóm D (nay xóm T), K, huyện N,
tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Làm ruộng
Trình độ văn hoá: 6/12 PT; Dân tộc: Dao;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Đặng Chòi T (sinh năm: 1965) Mùi N (sinh năm:
1962); Cùng trú tại: Xóm D (nay là xóm T), xã K, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Vợ: Đặng Mùi C (tên gọi khác: Đặng Ngọc T), sinh m: 1990, trú tại:
Xóm D (nay là xóm T), xã K, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2020 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Lý Tòn N; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày: 03/12/1990 tại K, Q, Cao Bằng
2
Nơi đăng HKTT chỗ : Xóm C (nay xóm T), K, huyện N,
tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Làm ruộng
Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Dao;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Kiềm S (sinh năm: 1971); Ttại: Xóm C (nay m T),
xã K, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
Con bà Bàn Mùi H (hiện đang bị truy nã)
Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Vợ: Phùng Mùi K, sinh năm: ………; Trú tại: Xóm C (nay là xóm T), xã
K, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2020 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi liên quan: Chị Đặng Mùi C (tên gọi khác: Đặng
Ngọc T); Sinh năm: 1990; Địa chỉ: Xóm D (nay xóm T), K, huyện N, tỉnh
Cao Bằng. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Thanh P; Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Xóm G, thị trấn A, huyện N,
tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
2. Vương Khánh T; Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Xóm G, thị trấn A, huyện
N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
3. Triệu Tòn C; Sinh năm: 1994; Địa chỉ: m G, thị trấn A, huyện N,
tỉnh Cao Bằng. mặt.
4. Lục Đức T; Sinh năm: 1994; Địa chỉ: Xóm B, H, huyện N, tỉnh Cao
Bằng. Vắng mặt.
5. Nông Văn V; Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Xóm U, H, huyện N, tỉnh
Cao Bằng. Vắng mặt.
6. Nông Văn H; Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Xóm D, K, huyện N, tỉnh
Cao Bằng. Vắng mặt.
7. Trương Đình H; Sinh năm: 1978; Địa chỉ: Xóm D, K, huyện N, tỉnh
Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 50 phút ngày 25/02/2020 tổ công tác đội điều tra tổng hợp
Công an huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại địa bàn xã K,
huyện N phát hiện nhiều đối tượng vào nhà Tòn D biểu hiện nghi vấn
mua bán trái phép chất ma túy. Qua theo dõi đã phát hiện bắt quả tang hai
đối tượng Tòn D, sinh năm 1990 Tòn N, sinh năm 1990, cùng trú
3
tại xóm T, K, huyện N, tỉnh Cao Bằng đứng trong bếp nhà D, thu giữ của
đối tượng Tòn D 01 lọ nhựa nắp màu vàng, bên trong lọ nhựa 10 gói
giấy nhỏ, loại giấy nhiều chữ viết hình vẽ, Tòn D khai nhận đó là ma
túy (heroine) mua với một người đàn ông bến xe Cao Bằng với số tiền
2.200.000 đồng hai ngày trước đó. Qua khám xét chcủa Tòn D thu giữ
của bị cáo D 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu
VIVO số tiền 2.240.000 đồng; Thu giữ của bị cáo Tòn N 01 chiếc điện
thoại di động màu vàng đồng nhãn hiệu OPPO số tiền 770.000 đồng. Tổ
công tác tiến hành niêm phong vật chứng đưa các đối tượng về trụ sở Công
an huyện để phục vụng tác điều tra theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận:
Bị cáo Lý Tòn D và bị cáo Lý Tòn N đều là những người nghiện ma túy.
Bị cáo D bán ma túy từ cuối năm 2019 cho đến ngày bị bắt, bán nhiều lần cho
nhiều người như: Thanh P, Triệu Tòn C cùng trú tại xóm G, thị trấn A;
Nông Văn V trú tại xóm U, xã H 02 lần; Lục Đức T trú tại xóm B, xã H 03 lần;
Trương Đình H t tại xóm D, K 03 lần. Mỗi lần bị cáo bán ma túy từ
100.000 đồng đến 200.000 đồng. Bị cáo N sau nhiều lần mua ma túy với bị cáo
D đã đồng ý đi bán ma túy cho D được D cho sử dụng ma túy, ngoài ra còn
góp tiền cùng D đi mua ma túy vsử dụng và chia nhỏ bán kiếm lời. Bị cáo N
được bán ma túy nhiều lần cho Vương Khánh T, Thanh P, Triệu Tòn C
cùng trú tại xóm G, thị trấn A; Lc Đức T trú tại xóm B, H. Mỗi lần bị cáo
bán ma túy từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Khoảng 11 giờ ngày
25/02/2020, bị cáo N đến nhà bị cáo D với mục đích xin ma túy đsdụng.
Khi đến nhà D, N hỏi “còn không? cho tao chơi tý”, bị cáo D đi vào buồng ngủ
lấy 01 gói ma túy từ lọ nhựa màu trắng có nắp màu vàng ra cùng nhau sử dụng.
Đang sử dụng ma túy thì bị cáo D nhận cuộc điện thoại của Thanh P, sinh
năm 1983, trú tại xóm G, thị trấn A, nghe điện thoại xong bị cáo D lấy từ trong
lọ nhựa ra 01 gói ma túy đưa cho bị cáo N bảo N đưa xuống dưới suối cho
P. Bcáo N cầm i ma túy tách thành 02 gói nhỏ dùng xe máy đi đưa ma
túy cho P. Tại khe suối cách nhà bị cáo D khoảng 1km, P đưa tiền cho bị cáo N
500.000 đồng nhận ma túy. Bị cáo N về đưa tiền cho bcáo D. Đến khoảng
14 giờ cùng ngày, Vương Khánh T trú tại thị trấn A gọi điện cho bị cáo N hỏi
mua ma túy, N hẹn T ở khu vực gần đỉnh dốc D, xã K, huyện N, T đưa 500.000
đồng và N đưa ma túy. Khi N quay trở về nD, vừa bước vào nhà thì bị Công
an huyện Nguyên nh bắt giữ. Nguồn gốc số heroine thu gido cả hai bị cáo
góp tiền cùng mua về sử dụng và bán kiếm lời. Hình thức mua bán liên lạc qua
điện thoại, hẹn địa điểm các đối tượng nghiện giao tiền rồi nhận ma túy
tương ứng với số tiền đã giao.
Đối với người đàn ông không rõ lai lịch bị cáo D khai mua ma túy với tại
thành phố Cao Bằng do không thể xác định được nên không căn cứ xử
theo quy định của pháp luật.
4
Tại biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi
giám định ngày 26/02/2020, kết quả cân xác định 10 gói chất bột màu trắng thu
giữ được của bị cáo Lý Tòn D khối lượng tịnh là 1,7648 gam (một phẩy bẩy
sáu bốn tám gam).
Tại bản kết luận giám định số 84/GĐMT ngày 13/3/2020 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận chất bột màu trắng bên trong
phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại heroine.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSNB ngày 21 tháng 5 năm 2020 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo
Tòn D Tòn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình giữ
nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đề nghị tuyên bố các bị cáo
Tòn D và Lý Tòn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của
Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo Tòn D t07
(bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, đề nghị xử phạt bị cáo
Tòn N từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng . Không đề nghị áp
dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 2 Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Vật chứng thu
giữ được của đối tượng Tòn D tại xóm T (D), K, Q, Cao Bằng ngày
25/02/2020”, mặt sau chữ của thành phần tham gia niêm phong 04
hình dấu giáp lai của quan CSĐT Công an huyện Nguyên nh, tỉnh Cao
Bằng.
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 02 chiếc điện thoại thu giữ được
của các bị cáo Tòn D và Tòn N do xác định các bị cáo đều dùng điện
thoại để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy.
- Tịch thu sung quỹ s tiền 2.240.000 đồng thu giữ được ca Lý Tòn D.
- Trả lại cho bị cáo Lý Tòn N số tiền 770.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người quyền lợi liên quan chị Đặng Mùi C (tên gọi
khác: Đặng Ngọc T) trình bày: Chị vợ của bị cáo D, chị không biết bị cáo D
nghiện ma túy cũng như việc chồng chị (D) bán ma túy cho người khác. Hàng
ngày chị đi làm ruộng, làm rẫy chkhông được đưa tiền cho bị cáo D, thỉnh
thoảng cũng đưa tiền cho Chồng chị để ăn sáng, mua quà cho con, nộp tiền
học bán tcho con trường yêu cầu xin lại số tiền chồng đã tiêu bớt,
còn 1.700.000,đ số tiền mà bị cáo D khai nguồn gốc do chị đưa.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện
chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi liên quan.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện Nguyên Bình, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên
Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về
hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do
đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận kết luận
điều tra bản cáo trạng truy tố các bị cáo đúng với hành vi vi phạm pháp
luật của mình. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Từ cuối năm 2019, các bị
cáo Tòn D Lý Tòn N đã nhiều lần góp tiền cùng mua ma túy về sử dụng
và bán kiếm lời hoặc bị cáo D mua ma túy, bị cáo N sử dụng cùng và đi bán ma
túy cho bị cáo D. Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 25/02/2020, bị cáo D đưa 01 gói
ma y cho bị cáo N để đem bán cho Thanh P, sinh năm 1983, trú tại thị
trấn A. Bị cáo N chia gói ma túy thành 02 gói nhỏ và bán cho P và T đều trú tại
thị trấn A. Quá trình bắt quả tang khám xét thu giữ của bị cáo Lý Tòn D 1,7648
gam (một phẩy bẩy sáu bốn tám gam) heroine. Các bị cáo Lý Tòn D và Lý Tòn
N được bán heroine cho nhiều người, nhiều lần cho đến ngày bị bắt giữ. Mặt
khác, các đối tượng nghiện đều khai nhận được mua heroine với hai bị cáo để
sử dụng nhiều lần. Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù
hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, những người làm chứng,
phù hợp với vật chứng thu giữ các tài liệu chứng cứ khác đã được các
quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ vụ án. Do vậy cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố các bị cáo Lý Tòn D, Tòn N
về tội Mua bán trái phép chất ma y theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
251 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của các bị cáo mua ma
túy về sử dụng cho bản thân đồng thời mục đích để bán lại cho nhiều đối tượng
nghiện khác nhằm kiếm lời. Hành vi, mục đích phạm tội ràng, ma túy thu
giữ được khối lượng tịnh 1,7648 gam (một phẩy bẩy u bốn tám gam)
loại Heroine đã thỏa mãn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật
hình sự.
Xét không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị
cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:
6
Các bị cáo Tòn D Tòn N không tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo nên cần cho
các bcáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Tòn D Tòn N đều nhân
thân xấu, sinh ra lớn lên ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đều
đã lập gia đình, đầy đnăng lực trách nhiệm hình sự nhận thức hội.
Mặc biết pháp luật của Nnước nghiêm cấm xử phạt rất nghiêm khắc
loại tội phạm về ma tuý, nhưng do lười lao động chân chính, để thỏa mãn nhu
cầu cầu của bản thân để kiếm lời, các bị cáo đã coi thường pháp luật, cố tình
phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản
của nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay m gia tăng tệ
nạn sử dụng ma tuýtội phạm khác địa phương, gây mất an ninh trật tự, gây
xôn xao luận, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án. Trong vụ án này,
bị cáo Lý Tòn D người biết sử dụng ma túy trước (sử dụng từ năm 2016), biết
tác hại của việc s dụng ma túy đối với sức khỏe bản thân và kinh tế gia đình
nhưng khi N bị nghiện đã không giúp bạn khuyên nhủ cùng nhau cai nghiện
n nhờ” N bán ma túy cho mình cùng mình bán ma túy, hơn nữa lượng ma
túy thu giữ được của D 1,7648gam nên cần hình phạt nghiêm khắc hơn
đối với D. Cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ
điều kiện để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện có
ích cho hội, đảm bảo tính giáo dục riêng các bị cáo phòng ngừa tội phạm
chung.
Xét thấy các bị cáo đã phải đi chấp hành án, không có điều kiền về kinh tế
nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình snăm
2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Đối với số heroine thu giữ của bị cáo Lý Tòn D là vật nhà nước cấm lưu
hành, sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ được của hai bị cáo xác định
các bị cáo dùng đliên lạc nhân và trao đổi mua bán ma túy cần tịch thu
phát mại sung quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 2.240.000 đồng thu giữ của bị cáo D trong đó 1.740.000
đồng, quá trình điều tra bị cáo D khai tiền chị Đặng Mùi C (vợ bị cáo) đưa
cho để chi tiêu hàng ngày, 500.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có, còn chị C
khai không được đưa tiền cho bị cáo D. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị C xác nhận
có được đưa tiền 2.500.000 đồng cho chồng trước đó khoảng 5 đến 6 ngày để
đi nộp học cho con, đến thời điểm này không thấy giáo nhắc nhở nên khẳng
định chồng đã nộp tiền học cho con. Bị cáo D khai trong số tiền bị thu giữ xác
nhận vợ đưa tiền 2.500.000 đồng để nộp học, chưa nộp đã tiêu dùng
nhân còn 1.740.000 đồng tiền bán ma túy vào trong chỗ tiền bị thu giữ.
Do tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra được căn cứ chứng minh nguồn gốc số
7
tiền bị thu giữ. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo bán ma túy cho các đối tượng
từ cuối năm 2019 nhiều lần cho đến ngày bbắt với số tiền từ 100.000 đồng
đến 500.000 đồng, đã được hưởng lợi tviệc bán ma túy nên cần tịch thu sung
quỹ nhà nước toàn bộ số tiền thu giữ được của bị cáo D.
- Đối với số tiền 770.000 đồng thu giữ của bị cáo N, bị cáo khai do chơi
xổ số ngoài thành phố trúng thưởng ngày 24/2/2020 mà có. Không căn
cứ chứng minh nguồn gốc số tiền bị thu giữ ngày 25/02/2020 của bị cáo N là do
bán ma túy . Nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi
hành án.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ
phí tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lý Tòn D Tòn N phạm tội "Mua bán trái
phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của
Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Lý Tòn D và Lý Tòn N.
Xử phạt: Bị cáo Lý Tòn D 08 (tám) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 25/02/2020.
Xử phạt: Bị cáo Tòn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 25/02/2020.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015
Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Vật chứng thu
giữ được của đối tượng Tòn D tại xóm T (D), K, Q, Cao Bằng ngày
25/02/2020”, mặt sau chữ của thành phần tham gia niêm phong 04
hình dấu giáp lai của quan CSĐT Công an huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao
Bằng.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động
màn hình cảm ứng màu đen nhãn hiệu VIVO số IMEI1: 866045038176770,
số IMEI2: 866045038176762 của bị cáo Lý Tòn D.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động
màn hình cảm ứng, mặt trước màn hình đã bị rạn nứt, mặt sau điện thoại di
động màu vàng đồng, nhãn hiệu OPPO số IMEI1: 863437037769619, số
IMEI2: 863437037769601 của bị cáo Lý Tòn N.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.240.000 đồng thu giữ của bị cáo
Lý Tòn D.
8
- Trả lại cho bị cáo Tòn N stiền 770.000 đồng nhưng tạm giữ để
đảm bảo thi hành án.
Vật chứng vụ án được lưu kho bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản
số: 13 ngày 26 tháng 5 năm 2020.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ
phí tòa án.
Các bị cáo Tòn D Tòn N mỗi bcáo phải chịu 200.000 đồng án
phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi liên quan.
Báo quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi liên quan trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- Sở Tư pháp;
- VKSND huyện;
- Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Các bị cáo;
- Người có quyền lợi liên quan;
- UBNDK;
- Lưu HS;
- Lưu AV.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
Hoàng Thị Thu Lịch
Tải về
Bản án số 10/2020/HS-ST Bản án số 10/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất