Bản án số 10/2019/HSST ngày 17/04/2019 của TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2019/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2019/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2019/HSST ngày 17/04/2019 của TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa về tội mua bán trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cam Ranh (TAND tỉnh Khánh Hòa) |
| Số hiệu: | 10/2019/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/04/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 10/2019/HSST
Ngày: 17/4/2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Thanh
Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Triều - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham gia
phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh
Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
07/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 16/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc N - sinh năm 1998 tại: Bình Định; Nơi cư trú: Tổ dân phố Hòa
T, phường N, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa:
12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông: Nguyễn Ngọc Nh – sinh năm: 1976 và bà: Đỗ Thị Nh – sinh năm: 1978; vợ,
con: chưa; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/10/2018 - có mặt
tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Võ Thị B - sinh năm: 1996
Trú tại: Tổ dân phố Nghĩa B, phường CN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa –
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Hà Thanh Th - sinh năm: 1998
Trú tại: Tổ dân phố Lộc Hưng, phường Cam Lộc, thành phố C, tỉnh Khánh
Hòa – Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Đặng Thị L - sinh năm: 1994
Trú tại: Thôn T, xã E, huyện P, tỉnh Đăk Lăk – Vắng mặt tại phiên tòa.
4. Trần Tấn T - sinh năm: 1971
2
Trú tại: Tổ dân phố HT, phường CN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa – Vắng
mặt tại phiên tòa.
5. Lê Thị Ngọc TH – sinh năm: 1971
Trú tại: Tổ dân phố NC, phường CN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa – Vắng
mặt tại phiên tòa.
6. Nguyễn Xuân H – sinh năm: 1965
Trú tại: Tổ dân phố NA, phường CN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa – Vắng
mặt tại phiên tòa.
7. Phạm Hùng Ch – sinh năm: 1987
Trú tại: Tổ dân phố NA, phường CN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa – Vắng
mặt tại phiên tòa.
8. Nguyễn Thành B – sinh năm: 1985
Trú tại: Xóm 5, xã V H, huyện TP, tỉnh BT – Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 19/10/2018 đến ngày 24/10/2018, Nguyễn Ngọc N mua ma túy của
người tên L (chưa rõ lai lịch) tại khu vực nhà thờ Xuân Ninh ở phường Cam N,
thành phố C và tại khách sạn K ở phường B thành phố C và bán lại cho những người
nghiện để kiếm lời. Cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 01 giờ ngày 19/10/2018, Võ Thị B gọi điện thoại cho N để
mua ma túy, N đồng ý. Nghĩa đến phòng 107 nhà nghỉ 71 của ông Trần Tấn T do
Nguyễn Thành B làm quản lý ở tổ dân phố T, phường CN, thành phố C bán 01 bịch
ma túy cho B với giá 300.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 21/10/2018, Võ Thị B gọi điện thoại cho N để
mua ma túy. N đồng ý. N đến phòng 302 khách sạn L của bà Lê Thị Ngọc T ở tổ dân
phố N, phường CN thành phố C bán 01 bịch ma túy cho B với giá 500.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 18 giờ ngày 22/10/2018, Hà Thanh Th gọi điện thoại cho n để
mua ma túy. Nghĩa đồng ý. Nghĩa đến phòng 302 khách sạn Lâm Thủy ở tổ dân phố
nghĩa m, phường N, thành phố C bán 01 bịch ma túy cho Th với giá 400.000 đồng.
Lần 4: Khoảng 02 giờ ngày 24/10/2018, Hà Thanh Th gọi điện thoại cho
Nghĩa để mua ma túy. Nghĩa đồng ý và hẹn Thịnh đến phòng trọ của Nghĩa ở tổ dân
phố A, phường N, thành phố C (chủ phòng trọ là anh Phạm Hùng Ch). Tại đây,
Nghĩa bán 01 bịch ma túy cho Th với giá 300.000 đồng.
Đến khoảng 11 giờ ngày 24/10/2018, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C tiến hành kiểm tra phòng trọ của
Nghĩa ở tổ dân phố Nghĩa A, phường N, thành phố C phát hiện và thu giữ: 03 bịch
nilong màu trắng có chứa chất tinh thể màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 568 ngày 28/10/2018, Phòng kỹ thuật hình sự
3
Công an tỉnh K kết luận: tinh thể trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy loại
Methamphetamine, có khối lượng 0.3866g.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-HS ngày 26/02/2019, Viện kiểm sát nhân
dân thành phố C, tỉnh K đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội “Mua bán trái phép
chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015
sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C giữ nguyên nội dung bản
cáo trạng nêu trên; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251;
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị
cáo Nguyễn Ngọc N;
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N từ 08 năm đến 09 năm tù. Về
vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO,
màu trắng (bị vỡ mặt lưng), số imel: 355684042961997, gắn sim số 01672563747,
vỡ màn hình, đã qua sử dụng.Tịch thu tiêu hủy: 01 cân tiểu ly màu đen, 08 bị nilong
bên trong còn dính một ít tinh thể màu trắng.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án thể hiện các bị
cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội
đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm
cải tạo, sớm trở về gia đình.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài
liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Từ ngày 19/10/2018 đến ngày
24/10/2018, Nguyễn Ngọc N có hành vi 02 lần bán ma túy cho Võ Thị B và 02 lần
bán ma túy cho Hà Thanh Th. Thu giữ của Nghĩa 0.3866 gam ma túy loại
Methamphetamine.
4
[2.1] Về tính chất và định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc
N đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại
điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, cáo trạng số 09/CT-VKS-HS ngày 26/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố C đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về điều khoản nêu trên là có căn cứ,
đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Ngọc N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm
đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây nguy
hại và gây mất trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy cần xử lý nghiêm minh, phải cách
ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa
chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải. Vì vậy nghĩ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị
cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
[3] Về vật chứng vụ án: Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên căn cứ
khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật hình sự năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu
trắng (bị vỡ mặt lưng), số imel: 355684042961997, gắn sim số 01672563747, vỡ
màn hình, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cân tiểu ly màu đen, 08 bị nilong bên trong còn dính một
ít tinh thể màu trắng.
[4]. Đối với người tên L, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C chưa
điều tra làm rõ được lai lịch nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau. Đối với anh
Phạm Hùng Ch cho N thuê nhà trọ, Trần Tấn T là chủ nhà nghỉ 71, Nguyễn Thành B
là quản lý nhà nghỉ 71 và Lê Thị Ngọc T là chủ khách sạn Lâm Th không biết
Nguyễn Ngọc N bán ma túy tại nhà trọ, nhà nghỉ và khách sạn của mình nên không
truy cứu trách nhiệm hình sự
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Ngọc N phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

5
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc N 08 (tám) năm tù về tội tội “Mua bán trái
phép chất ma túy”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt giam (ngày 24/10/2018).
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu
trắng (bị vỡ mặt lưng), số imel: 355684042961997, gắn sim số 01672563747, vỡ
màn hình, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cân tiểu ly màu đen, 08 bị nilong bên trong còn dính một
ít tinh thể màu trắng.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2019 giữa
cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Cam Ranh và cơ quan Thi hành án dân sự thành
phố Cam Ranh).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Ngọc N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí
Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Ngọc N được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
Nơi nh
ận
:
- TAND tỉnh K;
- VKSND tỉnh K;
- Sở tư pháp tỉnh K;
- VKSND tp C;
- Cơ quan điều tra tp C;
- CCTHADS tp C;
- Bị cáo;
- Lưu: hồ sơ, án văn.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 02/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của TAND tỉnh Hà Nam về về tội mua bán trái phép chất ma túy
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 23/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm