Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TAND huyện Ia H' Drai, tỉnh Kon Tum
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 09/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TAND huyện Ia H' Drai, tỉnh Kon Tum |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ia H' Drai (TAND tỉnh Kon Tum) |
| Số hiệu: | 09/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/04/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Ma Tuý |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN IA H’DRAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KON TUM
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày: 24/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phú Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Cao và bà Hồ Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia
H’Drai, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai tham gia phiên
tòa: Ông Hoàng Văn Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia H’Drai,
Tòa án nhân dân huyện Ia H’Drai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự
thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 03/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 08/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Lô Văn B. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 09 tháng 5 năm 1986 tại: tỉnh
Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Công
nhân; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Văn H, sinh năm 1960 và bà Lô Thị
C, sinh năm 1962. Hiện đang sống và làm nông tại xã M, huyện K, tỉnh Nghệ
An; Có vợ là Hà Thị T, sinh năm 1985, có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 2014,
con nhỏ nhất, sinh năm 2022, cùng sinh sống tại thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon
Tum. Gia đình bị cáo có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2019, Lô Văn B bị Cơ quan Công an
huyện I, tỉnh Kon Tum xử phạt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với
mức phạt tiền là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPVPHC ngày 10/6/2019 của Công
an huyện I, đến ngày 19/07/2019 Lô Văn B đã nộp phạt đầy đủ số tiền nêu trên,
nên xử phạt vi phạm hành chính đã được xóa. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ
ngày 29/12/2023 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị T, sinh năm
1985. Nơi cư trú: Thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).
- Người chứng kiến: Ông Lương Văn B1. Nơi cư trú: Thôn B, xã I, huyện I,
tỉnh Kon Tum. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 27/12/2023, Lô Văn B (Sinh ngày: 09/5/1986, HKTT: Thôn B,
xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum) là đối tượng nghiện ma túy đã đón xe khách đi đến

khu vực bến xe tỉnh G để tìm mua ma túy. Tại đây, B gặp được một người đàn
ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy với số tiền 500.000 đồng (do
nhiều lần xuống đây mua ma túy nên B biết địa điểm bán). Sau khi nhận được
ma túy, B đón xe về lại nhà ở thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, khi đang dắt xe máy chuẩn
bị đi ra khỏi nhà thì B bị lực lượng chức năng phát hiện có biểu hiện nghi vấn
nên đã dừng xe để tiến hành kiểm tra. Thời điểm kiểm tra, phát hiện trong túi
quần đùi phía sau bên phải của B có 01 (một) gói thuốc lá màu trắng, trên gói
thuốc lá có ký hiệu GOLDEN EAGLE bên trong có chứa 01 (một) bì nilon trong
suốt có chứa 01 (một) cục chất bột màu trắng nghi là ma túy (H1), bên ngoài túi
nilon được buộc bằng dây cao su màu vàng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên
bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong đồ vật, tài liệu có liên
quan và đưa Lê Văn B2 và tang vật về trụ sở Công an huyện I để xử lý theo quy
định.
Ngày 30/12/2023, Cơ quan Công an huyện I ra Quyết định trưng cầu giám
định số 33/QĐ-ĐTTH đến Phòng K (PC09) Công an tỉnh K, giám định: 01
(một) cục chất bột màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ trên người Lô Văn B theo
biên bản bắt người người phạm tội quả tang ngày 29/12/2023. Tại Kết luận giám
định số 371/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh K,
kết luận: Mẫu cục chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì màu
trắng gửi giám định là ma túy; loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là:
Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính
phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng là: 0,373
gam.
Ngày 04/01/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện I ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Lô Văn B về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.Tại Cơ quan
CSĐT - Công an huyện I Lô Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình; lời khai của B phù hợp với nội dung, diễn biến của vụ án.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-Ia H’Drai ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện
kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai đã truy tố bị cáo Lô Văn B về tội “Tàng trữ
trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm
truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm
tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lô Văn B từ 18 đến 24 tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/12/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong
bì niêm phong bằng giấy màu trắng, bên ngoài ghi chữ CÔNG AN TỈNH KON
TUM, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ số 371/KL-KTHS tại mép dán mặt sau
có chữ ký của Nguyễn Hàn N và chữ ký của Nguyễn Ngọc Q được đóng dấu
niêm phong hình tròn màu đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM,

PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, bên trong gồm: 01 túi nilon không màu; 01
(Một) phong bì đựng mẫu vật gửi giám định và mẫu vật gửi giám định, có khối
lượng đã trừ bì là 0,367 gam; 01 (một) vỏ thuốc lá màu trắng bên ngoài có ký
hiệu GOLDEN EAGLE; 01 (một) cọng dây cao su màu vàng.
Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
Pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo Lô Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của mình và
nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến tranh luận
gì. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều không bị mớm cung, ép cung hay
dùng nhục hình buộc phải nhận tội.
Lời khai của người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đúng với
những gì đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện I.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với
gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an
huyện I, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên huyện I trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người
nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày
29/12/2023, tại thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum, bị cáo Lô Văn B đã có
hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, được cất dấu trong túi quần
đùi phía sau bên phải của bị cáo. Khi bị cáo đang chuẩn bị đi ra khỏi nhà thì bị
lực lượng chức năng phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm
giữ và niêm phong đồ vật, tài liệu có liên quan. Tại Kết luận giám định số
371/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh K, kết luận:
01(một) cục chất bột màu trắng là ma túy; loại: Heroine, có tên khoa học là:
Diacetylmorphine, có khối lượng là: 0,373 gam. Như vậy, tổng hợp hành vi và
hậu quả, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,373
gam Heroine để sử dụng của bị cáo Lô Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng
trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như như
Cáo trạng số 08/CT-VKS-Ia H’Drai, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum truy tố là có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất
ma tuý. Bị cáo có đầy đủ năng lực và điều kiện để nhận thức được tác hại của
ma túy là chất gây nghiện làm ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống kinh tế cho
bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép để sử dụng.
Bản thân bị cáo lại là người nghiện ma tuý, tội phạm liên quan đến ma túy là
một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội
phạm khác như trộm cắp, đánh bạc…ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bức xúc trong quần
chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức
án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội
của bị cáo, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo
dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời
vẫn đảm bảo công tác tuyên truyền, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 10/06/2019
bị Công an huyện I xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt số
02/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) về
hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đến ngày 19/07/2019 Lô Văn B đã
nộp phạt đầy đủ số tiền nêu trên. Do vậy, tính đến ngày phạm tội mới ngày
29/12/2023, bị cáo đã được xóa tiền sự nên không coi là có tiền sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, nên xem xét áp dụng cho bị cáo khi
quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Ngoài ra, trong vụ án này còn có đối tượng bán ma tuý cho B. Theo lời
khai của bị cáo, do chỉ mới quen biết và bán ma túy để bị cáo sử dụng nên bị cáo
không nhớ cũng như không rõ thông tin nhân thân lai lịch. Do đó, Cơ quan điều
tra sẽ tiếp tục tiến hành điều tra làm rõ đối tượng bán ma túy cho bị cáo khi có
đủ cơ sở sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với chị Hà Thị T là vợ của bị cáo Lô Văn B, tuy nhiên việc mua ma
túy để sử dụng và cất giấu chỉ có bản thân B biết, chị T không hề biết hay có sự
trao đổi, bàn bạc gì đối với việc làm trên của B. Do đó, T không đồng phạm với
Lô Văn B về hành vi “Tàng trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT - Công an
huyện I không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hà Thị T về
hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249
Bộ luật hình sự là có cơ sở.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ tang vật của bị cáo đã
được niêm phong gồm: 01 (một) phong bì niêm phong bằng giấy màu trắng, bên
ngoài ghi chữ CÔNG AN TỈNH KON TUM, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ
số 371/KL-KTHS tại mép dán mặt sau có chữ ký của Nguyễn Hàn N và chữ ký
của Nguyễn Ngọc Q được đóng dấu niêm phong hình tròn màu đỏ có nội dung
“CÔNG AN TỈNH KON TUM, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, bên trong
gồm: 01 túi nilon không màu; 01 (Một) phong bì đựng mẫu vật gửi giám định và
mẫu vật gửi giám định, có khối lượng đã trừ bì là 0,367 gam, xét đây là những
chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

01 (một) vỏ thuốc lá màu trắng bên ngoài có ký hiệu GOLDEN EAGLE;
01 (một) cọng dây cao su màu vàng. Các vật chứng nêu trên bị cáo dùng vào
việc tàng trữ ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là có cơ
sở.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lô Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lô Văn B 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bằng
giấy màu trắng, bên ngoài ghi chữ CÔNG AN TỈNH KON TUM, PHÒNG KỸ
THUẬT HÌNH SỰ số 371/KL-KTHS tại mép dán mặt sau có chữ ký của
Nguyễn Hàn N và chữ ký của Nguyễn Ngọc Q được đóng dấu niêm phong hình
tròn màu đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM, PHÒNG KỸ THUẬT
HÌNH SỰ”, bên trong gồm: 01 túi nilon không màu; 01 (Một) phong bì đựng
mẫu vật gửi giám định và mẫu vật gửi giám định, có khối lượng đã trừ bì là
0,367 gam; 01 (một) vỏ thuốc lá màu trắng bên ngoài có ký hiệu GOLDEN
EAGLE; 01 (một) cọng dây cao su màu vàng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 của Công an huyện I
với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia H’Drai).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng
hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/
2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án. Buộc bị cáo Lô Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2024) bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử lại vụ án theo trình
tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người có QLNVLQ;
- VKSND huyện Ia H’Drai;
- VKSND tỉnh Kon Tum;
- CCTHA DS huyện Ia H’Drai;
- Công an huyện Ia H’Drai;
- TAND tỉnh Kon Tum;
- TAND cấp cao tại Đà nẵng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Vụ Giám đốc kiểm tra - TANDTC;
- Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Phú Lợi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm