Bản án số 09/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang về tội hủy hoại rừng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2019/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang về tội hủy hoại rừng
Tội danh: 189.Tội hủy hoại rừng (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Quang Bình (TAND tỉnh Hà Giang)
Số hiệu: 09/2019/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUANG BÌNH,
TỈNH HÀ GIANG
Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 24-9-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Quý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hng Minh Thp - Chủ tịch Hi Cựu chiến binh huyện B.
2. Ông Trần Hữu Ước - Chủ tịch Hội Nông dân huyện B.
- Thư ký phiên toà: Ông Mạnh Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Giang
tham gia phiên toà: Ông Lù Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, ti tr s Tòa án nhân dân huyn Quang Bình, tnh Hà
Giang, xét x sơ thm công khai v án hình s sơ thm th lý s 07/2019/TLST-HS ngày
15/8/2019 theo Quyết đnh đưa v án ra t x s 06/2019/QĐXXST-HS ngày 10/9/2019
đi vi:
B cáo: Hoàng Hưng Q, sinh ngày 20/4/1942, tại xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang;
nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; ngh nghip: Trồng trọt; tnh đ
n hóa: 9/10; n tc: Tày; gii nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vit Nam;
con ông Hoàng Văn X ã chết) và bà Hoàng Thị Đ ã chết); có vợ Hng ThN
07 con, con lớn sinh năm 1966, con nhỏ sinh năm 1986; tiền án, tin sự: Kng;
nhân thân: Tốt; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2019; hiện
bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Bị hại: Ủy ban nhân dân huyện B do ông Phùng Viết A, sinh năm 1972;
nơi trú: Tổ U, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Giang; chức vụ: Phó Chủ tịch,
người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1970; nơi trú: Thôn T, V, huyện B,
tỉnh Hà Giang; có mặt.
2. Anh Hoàng Hải H, sinh năm 1993; nơi trú: Thôn T, V, huyện B,
tỉnh Hà Giang; có mặt.
3. Anh Lục Văn D, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ R, phường K, thành phố
M, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
2
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Hạt Kiểm lâm huyện B do ông Nguyễn Trọng K, chức vụ: Kiểm lâm
viên, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
2. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B do ông Đặng Đình E, chức vụ:
Chuyên viên, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
3. Phòng Nông nghip và phát trin nông thôn huyện B do ông Cao Xuân I,
chc vụ: Phó Trưởng phòng, nời đại din theo ủy quyền; có mt.
4. Văn phòng quản lý đất đai huyện B do ông Bùi Văn L, chức vụ: Cán bộ,
là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
5. UBND xã S, huyện B do ông Nguyễn Văn P, chức vụ: Chủ tịch, là người
đại diện theo pháp luật; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu có trong h sơ v án và din biến ti phiên tòa, nội dung v án
đưc m tt n sau:
Tnăm 1973, Hoàng Hưng Q tự khai phá diện tích rừng khoảng 10.000m
2
để làm nhà lán, đào ao, trồng hoa mầu, đồng thời tnhận trông coi, bảo vệ khu
rừng này, đặc điểm rừng tự nhiên (rừng hỗn giao gỗ - vầu), vị trí đầu nguồn
nước, thuộc loại rừng sản xuất với diện tích khoảng 60.000m
2
(bao gồm cả
10.000m
2
trên), sau khi được phân mốc gianh giới, diện tích đất rừng này thuộc
một phần thửa đất số 308, tờ bản đồ số 02 S, tỷ lệ 1/10.000 ịa phương gọi
khu rừng G); thuộc 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa phận thôn O, S,
huyện B, tỉnh Giang (theo Bản đồ điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp ba
loại rừng tỉnh Giang giai đoạn 2016 - 2025, được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Giang phê duyệt tại Quyết định số 1619/QĐ-UBND ngày 30/7/2018). Năm 2011
UBND huyện B tiến hành khảo sát dự án trồng cây cao su, trong đó có khảo sát tại
diện tích rừng bcáo Q tự nhận trông coi, bảo vệ, nhưng chưa kiểm tra đến
quyền sử dụng đất thì dự án dừng triển khai. Năm 2016 bcáo Q đến UBND S
đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa được thực hiện.
Trong khi chưa được quan Nhà nước thẩm quyền công nhận quyền sử
dụng đất, vào thời gian cuối tháng 8 năm 2018 bo Q đã thuê anh Hoàng Văn C
trú ng thôn T mở rộng đường qua khu rừng tự nhiên đến lán của gia đình bị o,
anh C đồng ý và đã sử dụng chiếc máy xúc của anh Lục Văn D trú tại tổ R, phường
K, thành phM, tỉnh Hà Giang để san ủi, mở đường, chiều rộng trung bình 03 mét,
chiều dài 1.005 mét với tổng diện tích 3.015m
2
. Khi mở đường anh C đã phá bỏ
54 cây gỗ các loại đường kính từ 03 đến 15cm thuộc gỗ từ nhóm VI đến nhóm
VIII (gỗ Kháo, Thầu Dầu, Ba Soi) 1.042 cây vầu có đường kính 5-7cm.
Sau khi mở đường xong vào khoảng thời gian đầu tng 9 năm 2018 bị cáo Q
nhờ anh Hoàng Hải H cháu ruột của bị cáo trú cùng thôn T đi phát rừng khu
vực rừng bị cáo tự nhận trông coi, bảo vệ để trồng cây lâm nghiệp, anh H đồng ý rồi
cùng bcáo Q dùng dao (loại dao quắm dao bằng) để phát rừng, đến đầu tháng
11 năm 2018 bị cáo anh H đã phát diện tích 45.328m
2
. Trong khi phát rừng bị
cáo anh H đã chặt, phá 1.006 y gỗ các loại đường nh từ < 3 đến 35cm
3
thuộc gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII (gỗ Kháo, Sồi, Thầu Dầu, Ba Soi) 17.730
cây vầu đường kính từ < 5 đến 10cm.
Tổng diện tích bị san ủi, chặt, phá cây rừng 48.343m
2
; tổng số cây bị san
ủi, chặt, phá gồm 1.060 cây gỗ các loại (Kháo 585 cây, Sồi 109 cây, Ba Soi 201
cây, Thầu Dầu 165 cây) 18.772 cây vầu. Số cây gỗ, cây vầu này đtại chỗ với
ý định chờ cây khô sẽ đốt cháy rồi mới trồng cây mới nhưng đã bị cơ quan chức
năng phát hiện. quan cảnh sát điều tra đã giao cho UBND xã S, huyện B quản
toàn bộ số cây trên.
Tại Bản kết luận số 67/KL-HĐĐG ngày 19/4/2019 của Hội đồng định giá
tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quang nh kết luận: Trị giá 585 cây gỗ Kháo
= 32.340.000đ; 109 cây gỗ Sồi = 4.221.000đ; 201 cây gỗ Ba Soi = 6.030.000đ;
165 cây gỗ Thầu Dầu = 3.300.000đ; 18.772 cây vầu = 66.928.000đ. Tổng trị giá là
112.809.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS, ngày 14/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Quang Bình, tỉnh Giang truy tố bcáo Hoàng Hưng Q về tội Hủy
hoại rừng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- B o khai nhận toàn bộ nh vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên, đề
nghị Hội đồng xét xử xem t, bị cáo đã trông coi, bảo vệ din tích rng khu rừng G
từ nhng năm 1973, bị o nghĩ rằng mình trông coi, bảo vệ rừng đã lâu được
quyền sử dụng nên đã phát rừng với mục đích trồng cây lâm nghiệp, phát triển
kinh tế. Đến nay bị cáo thấy chưa được cấp thẩm quyền cho phép đã tý chặt,
phá rừng vi phạm pháp luật, bị o đã bồi thường thit hại số tiền theo u cầu
của bị hại là 40.000.000đ, b o tuổi cao, già yếu, xin được giảm nh nh phạt
cho b cáo đưc ởng án treo.
- Đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại do
hành vi hủy hoại rừng gây ra, số tiền 40.000.000đ, nộp o ngân ch nhà nước
(theo Biên bản làm việc tại Tòa án giữa UBND huyện và bị cáo ngày 09/9/2019),
bị cáo đã thực hiện xong, đnghHi đồng t xử xem xét gim nh hình phạt cho
bị cáo. Toàn bộ số lâm sản gồm 1.060 cây gỗ các loại18.772 cây vầu đã bị chặt
khô, giá trị không lớn nên giao cho bị cáo sử dụng.
- Những người làm chứng trình bày khoảng thời gian từ cuối tháng 8 đến
đầu tháng 11 năm 2018 được đi san ủi, mở rộng thêm đường trên đất rừng diện
tích 3.015m
2
; được hộ phát rừng, chặt, phá diện tích 45.328m
2
khu rừng G
thuộc thôn O, xã S, huyện B là do bị cáo thuê và nhờ làm hộ, chỉ biết khu rừng này
bị cáo trông coi lâu năm, không biết rừng chưa được cấp phép.
- Những người tham gia ttụng khác trình bày khu rừng bcáo Q phát
tổng diện tích 48.343m
2
, là rừng tự nhiên (rừng hỗn giao gỗ - vầu), thuộc loại rừng
sản xuất, thuộc một phần thửa đất số 308, tờ bản đồ số 02 S, tỷ lệ 1/10.000 (địa
phương gọi khu rừng G); thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa phận thôn
O, xã S, huyện B, tỉnh Hà Giang theo Bản đồ điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp
ba loại rừng tỉnh Giang giai đoạn 2016 - 2025, được UBND tỉnh Giang
phê duyệt tại Quyết định số 1619/QĐ-UBND ngày 30/7/2018. Do vị trí đầu
nguồn nước nên không giao cho cá nhân sử dụng, đồng thời diện tích đất rừng này
4
thuộc địa phận S nên không giao cho hgia đình bị cáo sử dụng, năm 2018 bị
cáo tự ý phát rừng khi chưa được cơ quan nhà ớc thẩm quyền cho phép là vi
phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo do không hiểu biết, cho rằng mình trông coi,
bảo vệ rừng đã lâu được quyền sử dụng nên đã phát rừng với mục đích trồng
cây lâm nghiệp, phát triển kinh tế, nên cần xem xét cho bị cáo.
- Đại diện Vin kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề ngh Hội đồng t
xử tuyên bbo Hng Hưng Q phạm tội Hủy hoại rng. Áp dụng điểm đ khoản 2
Điều 243, các điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật nh sự. Xử
pht bị cáo 03 năm , nhưng cho hưng án treo, thời gian th tch 05 m. Không
áp dụng hình phạt bsung đi với bo.
Về trách nhiệmn sự: Bị hại yêu cầu bồi tờng thit hại số tiền 40.000.000đ,
bị cáo đã thực hiện xong, nên không xem xét.
Vvật chng: Áp dụng Điều 47 B luật Hình s, Điều 106 Bộ lut Tố tụng hình
sự. Tịch thu tiêu hủy 01con dao (loại dao bằng), 02 con dao (loại dao quắm)
dụng cụ, công cụ phạm tội, không còn giá trị 01 đoạn gốc cây gỗ Sồi, 01 đoạn
gốc cây gỗ Kháo, 01 đoạn gốc cây gỗ Thầu Dầu, 01 đoạn gốc cây gỗ Ba Soi, 01
đoạn gốc cây vầu là vật do bị cáo hủy hoại rừng, không còn g tr. Cho b cáo được
quyền sử dụng 1.060 cây gỗ các loại và 18.772 cây vầu tại diện tích đất rừng đã
chặt, phá.
Ván phí: Bị o người cao tui, cho bị o được min toàn bộ án phí theo
quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát huyện
Quang Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, không khiếu nại, tố o. Do đó, c hành vi, quyết định của quan
điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá tnh điều tra, truy tố,
xét xử hợp pháp; về tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập
trong hồ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bcáo khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai
của người làm chứng; báo cáo vụ việc; biên bản kiểm tra; biên bản khám nghiệm
hiện trường kèm lịch gỗ, đồ, bản ảnh; biên bản xác định hiện trường kèm
đồ, bản ảnh; biên bản định giá tài sản; vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội được thể hiện: Trong khoảng thời gian từ cuối
tháng 8 đến đầu tháng 11 m 2018, bcáo Hoàng Hưng Q đã hành vi thuê
Hoàng Văn C dùng máy xúc san ủi, mđường trên đất rừng chưa được cấp
thẩm quyền cho phép với diện ch 3.015m
2
sau đó nhờ Hoàng Hải H cùng bị cáo
dùng dao chặt, phá rừng với diện tích 45.328m
2
. Tổng diện tích rừng bị hủy hoại
48.343m
2
, trạng thái là rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - vầu, chức năng rừng sản
5
xuất thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa phận thôn O, S, huyện B, tỉnh
Giang. Số lượng, chủng loại y rừng bị chặt phá 18.772 cây vầu 1.060
cây gỗ các loại, tổng trị giá 112.809.000đ.
Theo quy định tại Điều 243 Bộ luật Hình sự:
"1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc hành vi khác hủy hoại rừng
thuộc một trong các trường hợp sau đây, tbị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ 01
năm đến 05 năm:
a)...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 03
năm đến 07 năm."
a)…
đ) rừng sản xuất diện tích từ 10.000 mét vuông (m
2)
đến dưới 50.000 mét
vuông (m
2
)".
Như vậy hành vi của bị cáo thuê người san ủi, mở đường trên đất rừng, nhờ
người cùng bị cáo chặt, phá rừng khi chưa được cấp thẩm quyền cho phép
rừng sản xuất với diện tích 48.343m
2
, y thiệt hại số lâm sản 18.772 cây vầu
1.060 cây gỗ các loại, tổng trị giá 112.809.000đ, đã phạm tội Hủy hoại rừng theo
quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát truy tố bị
cáo về tội Hủy hoại rừng theo điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự đúng
người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho hội, xâm phạm
các quy định của Nhà nước vquản lý, bảo vệ, phát triển, sdụng rừng, bảo vệ
môi trường. Bị o biết khu rừng này chưa được cấp thẩm quyền giao sử
dụng nhưng vẫn thực hiện hành vi san ủi, chặt, phá với số diện tích bị hủy hoại lớn
(48.343m
2
), thuộc tội phạm nghiêm trọng, cần phải xử tương xứng với tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo do nhận thức hạn chế, cho
rằng mình trông coi, bảo vệ rừng đã lâu thuộc quyền sử dụng nên đã phát rừng
với mục đích trồng cây lâm nghiệp, phát triển kinh tế, mặt khác do quan
chuyên môn UBND thiếu sự kiểm tra để phát hiện ngăn chặn kịp thời, dẫn
đến tội phạm xẩy ra, nên cần xem xét cho bị cáo.
[3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh: Bị cáo nhân thân tốt, không
nh tiết tăng nặng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thưng thit hi; nời trên 70 tuổi;
thành khn khai báo, ăn năn hối cải; phm tội lần đầu, bị hại xin giảm nh hình phạt,
đã tham gia quân đội từ năm 1960 đến m 1965, hội viên Hội ng n Vit
Nam, hội viên Hội Cựu chiến binh, hội viên Hội Người cao tuổi, có thành tích trong
ng tác khuyến học, khuyến tài và côngc Cựu chiến binh được tặng giấy khen
Kỷ niệm chương, đây là nh tiết gim nhtrách nhiệm hình s quy đnh tại các điểm
b, o, s khon 1, khon 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cn áp dng cho bị o khi quyết
đnhnh phạt. Xét thy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tộiy bị cáo
luôn n trọng c quy tắc hội, chấp hành đúng chính ch, pháp luật, thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ ng dân nơi trú, i trú cụ thể, ràng, nhiu tình tiết
giảm nhẹ, khnăng tự cải tạo bản thân, nời tuổi cao, già yếu. Do đó, thấy
không cn thiết phảich ly bị cáo ra khỏi hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình
sự cho bị cáo được ởng án treo ng đảm bảo được sự giáo dục, cải tạo đấu
tranh phòng, chống tội phạm.
6
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình
sự, bị cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu,
chứng cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo không giữ chức
vụ gì, làm nghề trồng trọt, sinh sống trong vùng nông thôn, thu nhập thấp
không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, người cao tuổi. Do đó, Hội đồng xét
xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
[5] Vnh vi m thuê san ủi, mở đường của anh Hoàng n C nh vi
giúp hộ pt rng của anh Hoàng Hi H ngaynh, hoàn tn không biết rng ca
giấy tờ của quan nhà c thẩm quyền cho phép, n không bị coi là hành
vi vi phạm pháp luật để phải xử lý.
[6] Đối với UBND S chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý, bảo vệ
diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê trên địa bàn theo quy định tại
điểm c, khoản 3, Điều 102 Luật Lâm nghiệp; Hạt Kiểm lâm huyện B chức năng
quản lý, bảo vrừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp, nhưng chưa
thực hiện đầy đủ nhiệm vụ phối hợp với UBND xã S tổ chức bảo vệ rừng thuộc sở
hữu toàn dân chưa giao, chưa cho thuê theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều
104 Luật Lâm nghiệp. quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình đã
kiến nghị quan thẩm quyền xem xét xử phù hợp. Không cần thiết phải
tiếp tục kiến nghị trong bản án này.
[7] Chiếc máy xúc anh Hoàng Văn C sdụng phương tiện thực hiện hành
vi hy hoại rừng, nhưng hành vi san i, mở đường th ngay tình, hoàn toàn không
biết rừng chưa có giy tờ của quan nhà nước có thẩm quyn cho phép, nên không
bị coi hành vi vi phạm pháp luật, không bcoi phương tiện phạm tội, đồng
thời chủ sở hữu chiếc máy xúc là anh Lục Văn D đã bán cho một người không
tên tuổi, lai lịch vào khoảng tháng 12 năm 2018 nên không truy tìm được. Cơ quan
cảnh sát điều tra không thu giữ để xử lý là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số
tiền 40.000.000đ, nộp vào ngân sách nhà nước, do hành vi hủy hoại rừng, xâm
phạm đến tài sản, gây thiệt hại 18.772 cây vầu 1.060 cây gỗ các loại. Xét thấy
yêu cầu bồi thường của bị hại là hợp tình, hợp lý theo quy định tại Điều 48 Bộ lut
Hình sự các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Bị cáo đã thực hiện bồi
thường xong số tiền 40.000.00 (phiếu thu số 01, ngày 18/9/2019 của UBND
huyện), nên không xem xét.
[9] Về vật chứng: quan điều tra thu giữ 01con dao (loại dao bằng), 02
con dao (loại dao quắm) dụng cụ, công cụ phạm tội, không còn giá trị 01
đoạn gốc cây gỗ Sồi, 01 đoạn gốc cây gỗ Kháo, 01 đoạn gốc cây gỗ Thầu Dầu, 01
đoạn gốc cây gỗ Ba Soi, 01 đoạn gốc cây vầu vật do bcáo hủy hoại rừng,
kng còn giá tr nên tch thu tiêu hủy theo quy định tại Điu 47 B luật Hình sự và Điều
106 Bộ lut Ttng nh s. Toàn bộ số cây gỗ cây vầu đã chặt, phá trên diện
tích 48.343m
2
rừng tại khu rừng G, thuộc 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa
phận thôn O, xã S, huyện B, tỉnh Hà Giang giao cho bị cáo sử dụng.
7
[10] V án p: B cáo người cao tuổi, hoàn cảnh kinh tế k kn, bị cáo có
đơn xin miễn toàn bộ án phí đã được a án chp nhận, n cho bị o đưc miễn
toàn bộ án phí nh sự thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thưng vụ Quốc hội quy định
về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, qun sử dụng án phí lệ p T án.
[11] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hưng Q phạm tội Hủy hoại rừng.
Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, o, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bcáo Hoàng Hưng Q 03 (ba) năm tù,
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên
án thẩm.
Giao bcáo Hoàng ng Q cho UBND V, huyện B, tỉnh Giang giám
sát, go dục trong thời gian ththách.
Trong trường hợp bcáo Hoàng Hưng Q thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án thể quyết
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã
cho hưởng án treo.
Vvật chứng: n c đim a khon 1 Điều 47 Bộ lut Hình sự; khoản 1, các
điểm a, c khon 2 Điu 106 B lut Ttng hình s. Tịch thu tiêu hủy 01con dao (loại
dao bằng) dài 53cm, bản rộng 5.5cm, sống dao dầy 0,5cm, dao phần lưỡi bằng
kim loại dài 30cm, phần chuôi bằng gỗ dài 23cm; 01 (một) con dao (loại dao
quắm) dài 45,5cm cả chuôi, bản rộng 4,5cm, dao có phần lưỡi bằng kim loại dài
26cm, phần chuôi bằng gỗ dài 19,5cm; 01 (một) con dao (loại dao quắm) dài
68,2cm cả chuôi, bản rộng 05cm, dao phần lưỡi bằng kim loại dài 29cm, phần
chuôi bằng ghình trụ tròn chu vi 11cm; 01 (một) đoạn gốc cây gỗ Sồi dài
30cm, đường kính 09cm; 01 (một) đoạn gốc cây gỗ Kháo dài 24cm, đường kính
06cm; 01 (một) đoạn gốc cây gỗ Thầu Dầu dài 30cm, đường kính 09cm; 01 (một)
đoạn gốc cây gỗ Ba Soi dài 24cm, đường kính 04cm; 01 (một) đoạn gốc cây vầu
dài 24cm, đường kính 04cm.
Tình trạng, đặc điểm chi tiết của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng,
tài sản giữa quan điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang nh
ngày 15/8/2019.
Cho bịo được quyền sử dụng 1.060 cây gỗ các loại (Kháo 585 cây, Sồi 109
cây, Ba Soi 201 cây, Thầu Dầu 165 cây) 18.772 cây vầu đã chặt, phá trên diện
tích 48.343m
2
rừng tại khu rừng G, thuộc 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa
phận thôn O, xã S, huyện B, tỉnh Hà Giang.
8
Ván phí: Căn c khoản 2 Điều 135 Bộ lut Tố tụng hình sự; khon 1 Điều 6,
điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, min, giảm,
thu, nộp, quản lý s dng án p lệ p T án. Cho bo Hng Hưng Q được
miễn toàn bộ án phí nh s sơ thẩm số tin 200.000đ.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. B
cáo, b hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu
thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp bản án
được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi
hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hánh án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi có liên quan trong quá trình thi hành án có
các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Giang; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Hà Giang;
- Sở Tư pháp Hà Giang;
- Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh;
- VKSND huyện Quang Bình;
- Công an huyện Quang Bình;
- CCTHADS huyện Quang Bình;
- Hạt Kiểm lâm huyện B;
- UBND các xã V, S;
- Bị cáo, bị hại;
- Lưu hồ sơ, VP, AV.
Nguyễn Xuân Quý
Tải về
Bản án số 09/2019/HS-ST Bản án số 09/2019/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất