Bản án số 09/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang về tội hủy hoại rừng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2019/HS-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang về tội hủy hoại rừng |
|---|---|
| Tội danh: | 189.Tội hủy hoại rừng (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Quang Bình (TAND tỉnh Hà Giang) |
| Số hiệu: | 09/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUANG BÌNH,
TỈNH HÀ GIANG
Bản án số: 09/2019/HS-ST
Ngày 24-9-2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Quý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Minh Thập - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện B.
2. Ông Trần Hữu Ước - Chủ tịch Hội Nông dân huyện B.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Mạnh Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang
tham gia phiên toà: Ông Lù Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà
Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2019/TLST-HS ngày
15/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 10/9/2019
đối với:
Bị cáo: Hoàng Hưng Q, sinh ngày 20/4/1942, tại xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang;
nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ
văn hóa: 9/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Hoàng Văn X (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ (đã chết); có vợ là Hoàng Thị N
và 07 con, con lớn sinh năm 1966, con nhỏ sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không;
nhân thân: Tốt; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2019; hiện
bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Bị hại: Ủy ban nhân dân huyện B do ông Phùng Viết A, sinh năm 1972;
nơi cư trú: Tổ U, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; chức vụ: Phó Chủ tịch, là
người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện B,
tỉnh Hà Giang; có mặt.
2. Anh Hoàng Hải H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện B,
tỉnh Hà Giang; có mặt.
3. Anh Lục Văn D, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ R, phường K, thành phố
M, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
2
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Hạt Kiểm lâm huyện B do ông Nguyễn Trọng K, chức vụ: Kiểm lâm
viên, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
2. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B do ông Đặng Đình E, chức vụ:
Chuyên viên, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
3. Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện B do ông Cao Xuân I,
chức vụ: Phó Trưởng phòng, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
4. Văn phòng quản lý đất đai huyện B do ông Bùi Văn L, chức vụ: Cán bộ,
là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
5. UBND xã S, huyện B do ông Nguyễn Văn P, chức vụ: Chủ tịch, là người
đại diện theo pháp luật; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Từ năm 1973, Hoàng Hưng Q tự khai phá diện tích rừng khoảng 10.000m
2
để làm nhà lán, đào ao, trồng hoa mầu, đồng thời tự nhận trông coi, bảo vệ khu
rừng này, đặc điểm là rừng tự nhiên (rừng hỗn giao gỗ - vầu), vị trí đầu nguồn
nước, thuộc loại rừng sản xuất với diện tích khoảng 60.000m
2
(bao gồm cả
10.000m
2
trên), sau khi được phân rõ mốc gianh giới, diện tích đất rừng này thuộc
một phần thửa đất số 308, tờ bản đồ số 02 xã S, tỷ lệ 1/10.000 (địa phương gọi là
khu rừng G); thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa phận thôn O, xã S,
huyện B, tỉnh Hà Giang (theo Bản đồ điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp và ba
loại rừng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 - 2025, được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Giang phê duyệt tại Quyết định số 1619/QĐ-UBND ngày 30/7/2018). Năm 2011
UBND huyện B tiến hành khảo sát dự án trồng cây cao su, trong đó có khảo sát tại
diện tích rừng mà bị cáo Q tự nhận trông coi, bảo vệ, nhưng chưa kiểm tra đến
quyền sử dụng đất thì dự án dừng triển khai. Năm 2016 bị cáo Q đến UBND xã S
đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa được thực hiện.
Trong khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử
dụng đất, vào thời gian cuối tháng 8 năm 2018 bị cáo Q đã thuê anh Hoàng Văn C
trú cùng thôn T mở rộng đường qua khu rừng tự nhiên đến lán của gia đình bị cáo,
anh C đồng ý và đã sử dụng chiếc máy xúc của anh Lục Văn D trú tại tổ R, phường
K, thành phố M, tỉnh Hà Giang để san ủi, mở đường, chiều rộng trung bình 03 mét,
chiều dài 1.005 mét với tổng diện tích là 3.015m
2
. Khi mở đường anh C đã phá bỏ
54 cây gỗ các loại có đường kính từ 03 đến 15cm thuộc gỗ từ nhóm VI đến nhóm
VIII (gỗ Kháo, Thầu Dầu, Ba Soi) và 1.042 cây vầu có đường kính 5-7cm.
Sau khi mở đường xong vào khoảng thời gian đầu tháng 9 năm 2018 bị cáo Q
nhờ anh Hoàng Hải H là cháu ruột của bị cáo trú cùng thôn T đi phát rừng ở khu
vực rừng bị cáo tự nhận trông coi, bảo vệ để trồng cây lâm nghiệp, anh H đồng ý rồi
cùng bị cáo Q dùng dao (loại dao quắm và dao bằng) để phát rừng, đến đầu tháng
11 năm 2018 bị cáo và anh H đã phát diện tích 45.328m
2
. Trong khi phát rừng bị
cáo và anh H đã chặt, phá 1.006 cây gỗ các loại có đường kính từ < 3 đến 35cm
3
thuộc gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII (gỗ Kháo, Sồi, Thầu Dầu, Ba Soi) và 17.730
cây vầu có đường kính từ < 5 đến 10cm.
Tổng diện tích bị san ủi, chặt, phá cây rừng là 48.343m
2
; tổng số cây bị san
ủi, chặt, phá gồm 1.060 cây gỗ các loại (Kháo 585 cây, Sồi 109 cây, Ba Soi 201
cây, Thầu Dầu 165 cây) và 18.772 cây vầu. Số cây gỗ, cây vầu này để tại chỗ với
ý định chờ cây khô sẽ đốt cháy rồi mới trồng cây mới nhưng đã bị cơ quan chức
năng phát hiện. Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao cho UBND xã S, huyện B quản
lý toàn bộ số cây trên.
Tại Bản kết luận số 67/KL-HĐĐG ngày 19/4/2019 của Hội đồng định giá
tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quang Bình kết luận: Trị giá 585 cây gỗ Kháo
= 32.340.000đ; 109 cây gỗ Sồi = 4.221.000đ; 201 cây gỗ Ba Soi = 6.030.000đ;
165 cây gỗ Thầu Dầu = 3.300.000đ; 18.772 cây vầu = 66.928.000đ. Tổng trị giá là
112.809.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS, ngày 14/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Hoàng Hưng Q về tội Hủy
hoại rừng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo đã trông coi, bảo vệ diện tích rừng khu rừng G
từ những năm 1973, bị cáo nghĩ rằng mình trông coi, bảo vệ rừng đã lâu là được
quyền sử dụng nên đã phát rừng với mục đích trồng cây lâm nghiệp, phát triển
kinh tế. Đến nay bị cáo thấy chưa được cấp có thẩm quyền cho phép đã tự ý chặt,
phá rừng là vi phạm pháp luật, bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền theo yêu cầu
của bị hại là 40.000.000đ, bị cáo tuổi cao, già yếu, xin được giảm nhẹ hình phạt và
cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện theo ủy quyền của bị hại yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại do
hành vi hủy hoại rừng gây ra, số tiền là 40.000.000đ, nộp vào ngân sách nhà nước
(theo Biên bản làm việc tại Tòa án giữa UBND huyện và bị cáo ngày 09/9/2019),
bị cáo đã thực hiện xong, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho
bị cáo. Toàn bộ số lâm sản gồm 1.060 cây gỗ các loại và 18.772 cây vầu đã bị chặt
khô, giá trị không lớn nên giao cho bị cáo sử dụng.
- Những người làm chứng trình bày khoảng thời gian từ cuối tháng 8 đến
đầu tháng 11 năm 2018 có được đi san ủi, mở rộng thêm đường trên đất rừng diện
tích 3.015m
2
; có được hộ phát rừng, chặt, phá diện tích 45.328m
2
khu rừng G
thuộc thôn O, xã S, huyện B là do bị cáo thuê và nhờ làm hộ, chỉ biết khu rừng này
bị cáo trông coi lâu năm, không biết rừng chưa được cấp phép.
- Những người tham gia tố tụng khác trình bày khu rừng bị cáo Q phát có
tổng diện tích 48.343m
2
, là rừng tự nhiên (rừng hỗn giao gỗ - vầu), thuộc loại rừng
sản xuất, thuộc một phần thửa đất số 308, tờ bản đồ số 02 xã S, tỷ lệ 1/10.000 (địa
phương gọi là khu rừng G); thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa phận thôn
O, xã S, huyện B, tỉnh Hà Giang theo Bản đồ điều chỉnh quy hoạch đất lâm nghiệp
và ba loại rừng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 - 2025, được UBND tỉnh Hà Giang
phê duyệt tại Quyết định số 1619/QĐ-UBND ngày 30/7/2018. Do vị trí ở đầu
nguồn nước nên không giao cho cá nhân sử dụng, đồng thời diện tích đất rừng này
4
thuộc địa phận xã S nên không giao cho hộ gia đình bị cáo sử dụng, năm 2018 bị
cáo tự ý phát rừng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép là vi
phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo do không hiểu biết, cho rằng mình trông coi,
bảo vệ rừng đã lâu là được quyền sử dụng nên đã phát rừng với mục đích trồng
cây lâm nghiệp, phát triển kinh tế, nên cần xem xét cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên bố bị cáo Hoàng Hưng Q phạm tội Hủy hoại rửng. Áp dụng điểm đ khoản 2
Điều 243, các điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử
phạt bị cáo 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 40.000.000đ,
bị cáo đã thực hiện xong, nên không xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự. Tịch thu tiêu hủy 01con dao (loại dao bằng), 02 con dao (loại dao quắm) là
dụng cụ, công cụ phạm tội, không còn giá trị và 01 đoạn gốc cây gỗ Sồi, 01 đoạn
gốc cây gỗ Kháo, 01 đoạn gốc cây gỗ Thầu Dầu, 01 đoạn gốc cây gỗ Ba Soi, 01
đoạn gốc cây vầu là vật do bị cáo hủy hoại rừng, không còn giá trị. Cho bị cáo được
quyền sử dụng 1.060 cây gỗ các loại và 18.772 cây vầu tại diện tích đất rừng đã
chặt, phá.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, cho bị cáo được miễn toàn bộ án phí theo
quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát huyện
Quang Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử là hợp pháp; về tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập
trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai
của người làm chứng; báo cáo vụ việc; biên bản kiểm tra; biên bản khám nghiệm
hiện trường kèm lý lịch gỗ, sơ đồ, bản ảnh; biên bản xác định hiện trường kèm sơ
đồ, bản ảnh; biên bản định giá tài sản; vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội được thể hiện: Trong khoảng thời gian từ cuối
tháng 8 đến đầu tháng 11 năm 2018, bị cáo Hoàng Hưng Q đã có hành vi thuê
Hoàng Văn C dùng máy xúc san ủi, mở đường trên đất rừng chưa được cấp có
thẩm quyền cho phép với diện tích 3.015m
2
sau đó nhờ Hoàng Hải H cùng bị cáo
dùng dao chặt, phá rừng với diện tích 45.328m
2
. Tổng diện tích rừng bị hủy hoại
là 48.343m
2
, trạng thái là rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - vầu, chức năng là rừng sản
5
xuất thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa phận thôn O, xã S, huyện B, tỉnh
Hà Giang. Số lượng, chủng loại cây rừng bị chặt phá là 18.772 cây vầu và 1.060
cây gỗ các loại, tổng trị giá 112.809.000đ.
Theo quy định tại Điều 243 Bộ luật Hình sự:
"1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng
thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01
năm đến 05 năm:
a)...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
năm đến 07 năm."
a)…
đ) rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m
2)
đến dưới 50.000 mét
vuông (m
2
)".
Như vậy hành vi của bị cáo thuê người san ủi, mở đường trên đất rừng, nhờ
người cùng bị cáo chặt, phá rừng khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép ở
rừng sản xuất với diện tích 48.343m
2
, gây thiệt hại số lâm sản 18.772 cây vầu và
1.060 cây gỗ các loại, tổng trị giá 112.809.000đ, đã phạm tội Hủy hoại rừng theo
quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát truy tố bị
cáo về tội Hủy hoại rừng theo điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự là đúng
người, đúng tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm
các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, bảo vệ
môi trường. Bị cáo biết rõ khu rừng này chưa được cấp có thẩm quyền giao sử
dụng nhưng vẫn thực hiện hành vi san ủi, chặt, phá với số diện tích bị hủy hoại lớn
(48.343m
2
), thuộc tội phạm nghiêm trọng, cần phải xử lý tương xứng với tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo do nhận thức hạn chế, cho
rằng mình trông coi, bảo vệ rừng đã lâu là thuộc quyền sử dụng nên đã phát rừng
với mục đích trồng cây lâm nghiệp, phát triển kinh tế, mặt khác do cơ quan
chuyên môn và UBND xã thiếu sự kiểm tra để phát hiện ngăn chặn kịp thời, dẫn
đến tội phạm xẩy ra, nên cần xem xét cho bị cáo.
[3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không
có tình tiết tăng nặng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; là người trên 70 tuổi;
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt,
đã tham gia quân đội từ năm 1960 đến năm 1965, là hội viên Hội Nông dân Việt
Nam, hội viên Hội Cựu chiến binh, hội viên Hội Người cao tuổi, có thành tích trong
công tác khuyến học, khuyến tài và công tác Cựu chiến binh được tặng giấy khen và
Kỷ niệm chương, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm
b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi quyết
định hình phạt. Xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo
luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết
giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo bản thân, là người tuổi cao, già yếu. Do đó, thấy
không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình
sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo được sự giáo dục, cải tạo và đấu
tranh phòng, chống tội phạm.
6
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình
sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu,
chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo không giữ chức
vụ gì, làm nghề trồng trọt, sinh sống trong vùng nông thôn, thu nhập thấp và
không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, là người cao tuổi. Do đó, Hội đồng xét
xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
[5] Về hành vi làm thuê san ủi, mở đường của anh Hoàng Văn C và hành vi
giúp hộ phát rừng của anh Hoàng Hải H là ngay tình, hoàn toàn không biết rừng chưa
có giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, nên không bị coi là hành
vi vi phạm pháp luật để phải xử lý.
[6] Đối với UBND xã S chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý, bảo vệ
diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê trên địa bàn xã theo quy định tại
điểm c, khoản 3, Điều 102 Luật Lâm nghiệp; Hạt Kiểm lâm huyện B có chức năng
quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp, nhưng chưa
thực hiện đầy đủ nhiệm vụ phối hợp với UBND xã S tổ chức bảo vệ rừng thuộc sở
hữu toàn dân chưa giao, chưa cho thuê theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều
104 Luật Lâm nghiệp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình đã
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý là phù hợp. Không cần thiết phải
tiếp tục kiến nghị trong bản án này.
[7] Chiếc máy xúc anh Hoàng Văn C sử dụng là phương tiện thực hiện hành
vi hủy hoại rừng, nhưng hành vi san ủi, mở đường thuê là ngay tình, hoàn toàn không
biết rừng chưa có giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, nên không
bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, không bị coi là phương tiện phạm tội, đồng
thời chủ sở hữu chiếc máy xúc là anh Lục Văn D đã bán cho một người không rõ
tên tuổi, lai lịch vào khoảng tháng 12 năm 2018 nên không truy tìm được. Cơ quan
cảnh sát điều tra không thu giữ để xử lý là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số
tiền 40.000.000đ, nộp vào ngân sách nhà nước, do hành vi hủy hoại rừng, xâm
phạm đến tài sản, gây thiệt hại 18.772 cây vầu và 1.060 cây gỗ các loại. Xét thấy
yêu cầu bồi thường của bị hại là hợp tình, hợp lý theo quy định tại Điều 48 Bộ luật
Hình sự và các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Bị cáo đã thực hiện bồi
thường xong số tiền 40.000.000đ (phiếu thu số 01, ngày 18/9/2019 của UBND
huyện), nên không xem xét.
[9] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01con dao (loại dao bằng), 02
con dao (loại dao quắm) là dụng cụ, công cụ phạm tội, không còn giá trị và 01
đoạn gốc cây gỗ Sồi, 01 đoạn gốc cây gỗ Kháo, 01 đoạn gốc cây gỗ Thầu Dầu, 01
đoạn gốc cây gỗ Ba Soi, 01 đoạn gốc cây vầu là vật do bị cáo hủy hoại rừng,
không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toàn bộ số cây gỗ và cây vầu đã chặt, phá trên diện
tích 48.343m
2
rừng tại khu rừng G, thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa
phận thôn O, xã S, huyện B, tỉnh Hà Giang giao cho bị cáo sử dụng.
7
[10] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo có
đơn xin miễn toàn bộ án phí đã được Tòa án chấp nhận, nên cho bị cáo được miễn
toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[11] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Hưng Q phạm tội Hủy hoại rừng.
Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, o, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Hưng Q 03 (ba) năm tù,
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên
án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Hưng Q cho UBND xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Hoàng Hưng Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã
cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, các
điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01con dao (loại
dao bằng) dài 53cm, bản rộng 5.5cm, sống dao dầy 0,5cm, dao có phần lưỡi bằng
kim loại dài 30cm, phần chuôi bằng gỗ dài 23cm; 01 (một) con dao (loại dao
quắm) dài 45,5cm cả chuôi, bản rộng 4,5cm, dao có phần lưỡi bằng kim loại dài
26cm, phần chuôi bằng gỗ dài 19,5cm; 01 (một) con dao (loại dao quắm) dài
68,2cm cả chuôi, bản rộng 05cm, dao có phần lưỡi bằng kim loại dài 29cm, phần
chuôi bằng gỗ hình trụ tròn có chu vi 11cm; 01 (một) đoạn gốc cây gỗ Sồi dài
30cm, đường kính 09cm; 01 (một) đoạn gốc cây gỗ Kháo dài 24cm, đường kính
06cm; 01 (một) đoạn gốc cây gỗ Thầu Dầu dài 30cm, đường kính 09cm; 01 (một)
đoạn gốc cây gỗ Ba Soi dài 24cm, đường kính 04cm; 01 (một) đoạn gốc cây vầu
dài 24cm, đường kính 04cm.
Tình trạng, đặc điểm chi tiết của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng,
tài sản giữa Cơ quan điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình
ngày 15/8/2019.
Cho bị cáo được quyền sử dụng 1.060 cây gỗ các loại (Kháo 585 cây, Sồi 109
cây, Ba Soi 201 cây, Thầu Dầu 165 cây) và 18.772 cây vầu đã chặt, phá trên diện
tích 48.343m
2
rừng tại khu rừng G, thuộc lô 39655, khoảnh 7, tiểu khu 330, địa
phận thôn O, xã S, huyện B, tỉnh Hà Giang.
8
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6,
điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Cho bị cáo Hoàng Hưng Q được
miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị
cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu
thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp bản án
được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi
hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hánh án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi có liên quan trong quá trình thi hành án có
các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Giang; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Hà Giang;
- Sở Tư pháp Hà Giang;
- Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh;
- VKSND huyện Quang Bình;
- Công an huyện Quang Bình;
- CCTHADS huyện Quang Bình;
- Hạt Kiểm lâm huyện B;
- UBND các xã V, S;
- Bị cáo, bị hại;
- Lưu hồ sơ, VP, AV.
Nguyễn Xuân Quý
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng