Bản án số 09/2018/HSST ngày 09/08/2018 của TAND huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa về tội cố ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2018/HSST

Tên Bản án: Bản án số 09/2018/HSST ngày 09/08/2018 của TAND huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa về tội cố ý gây thương tích
Tội danh: 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lang Chánh (TAND tỉnh Thanh Hóa)
Số hiệu: 09/2018/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/08/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
T ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LANG CHÁNH Độc lp T do Hnh phúc
TỈNH THANH H
Bn án s:09/2018/HSST
Ngày 09/8/2018
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH- TỈNH THANH H
Vi thành phn Hi đồng xét x gm có
- Thm phán Ch to phiên toà: : Trương Th H
- Các Hi thm nhân dân: Ông Lương Văn Th và Ông Vì Văn H
- Thư ký Toà án ghi biên bn phiên toà: Ông Văn M cán b Toà án nhân dân
huyn Lang Chánh Thanh Hoá.
- Đại din Vin Kim sát nhân dân huyn Lang Chánh tham gia phiên toà:
Ông Đinh Văn L Kim sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2018, ti tr s Toà án nhân dân huyn Lang Chánh, tnh
Thanh Hoá , xét x sơ thm v án hình s th lý s 10/2018/HSST ngày 09 tháng 7
năm 2018 đối vi:
B cáo: Lê Th T, sinh năm 1970 ti Xã Giao Thiện, huyn Lang Chánh, tnh
Thanh Hoá.
Trú ti: Thôn Chiềng Lẹn, xã Giao Thiện, huyn Lang Chánh, tnh Thanh Hoá.
Ngh nghip: Làm rung; Trình độ văn hoá: Không
Dân tc: Thái; Tôn giáo: không.
Con ông: Lê Văn Th (Đã chết); và bà: Lê Th N. B cáo có chồng là Lang Văn
D và 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nh sinh năm 1998.
Tin án, tin s: không.
B cáo tại ngoại và đang được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại
phiên tòa;
Người bào cha cho b cáo: Lê Th Thu V, Tr giúp viên pháp lý thuộc
Trung tân tr giúp pháp lý số 2
2
Địa chỉ: Phố Lê Duẩn, thị trấn Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa (có
mt)
Người b hi: Ch Lê Th T sinh năm 1966.
Địa ch: Thôn Chiềng Lẹn, xã Giao Thiện, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.
(Có mt).
Người phiên dịch cho người b hại: Ông Phạm Văn B - sinh năm 1972
Địa ch nơi làm việc: Phòng Thanh tra thuộc UBND huyện Lang Chánh, tỉnh
Thanh Hóa; (Có mặt)
Người làm chứng:
1. Anh Lê Văn D - sinh năm 1970 (Vắng mặt);
2. Bà Lê Th P - sinh năm 1958 (Có mặt);
Đều trú tại: Thôn Chiềng Lẹn, xã Giao Thiện, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh
Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt sau:
Khong 16 gi ngày 03/02/2018 Lê Thị T thấy Lê Thị Th cư trú tại thôn Chiềng
Lẹn, Giao Thiện chi mắng Thị T cháu dâu của mình nên chị T đã lời qua
tiếng li vi Th. Sau s việc đó chị T v nhà phát hiện thấy đoạn ng dẫn nước t
trên khe đồi nhà mình b chặt đứt. Nghi ng Th ni cht ng dẫn nước nên chị T
đến nhà bà Thị P (còn gọi Mười) thôn Chiềng Lẹn, Giao Thiện gp chng
Thanh Lang Văn D nói v vic T cht ng dẫn nước nhà mình. Sau đó D v nhà
hỏi Th v việc Th chặt ng dẫn nước nhà chị T không, Th nói với anh D
không. Khoảng hơn 17 giờ cùng ngày Th đến nhà chị T. Lúc đó chị T đang ngồi nu
cơm trong bếp. Th hi ch T ti sao lại nói tôi người cht ng dẫn nước, giữa Th
ch T có lời qua tiếng li với nhau. Th đã cầm một đoạn g dng củi kích thước khong
hơn một mét, đường kính khoảng 04 centimet tại đống củi nơi ch T ngi nấu cơm. Th
3
cm thanh ci bng tay phi vụt theo hướng t trên xuống trúng vào vùng mặt trước
cng tay phi ca ch T. Sau khi b đánh chị T đứng lên rồi quay người b chy. Th
tiếp tc cầm đoạn ci bng tay phi vụt trúng vùng lưng bên phải ca ch T. Ch T tiếp
tc b chy khỏi nhà nên Th ném đon ci g dùng để đánh T vào đống ci rồi đi về
nhà mình.
Sau khi b đánh, chị T chạy đến nhà bà Lê Thị P và kể lại toàn b s vic cho bà
P biết. Đến 09 gi 15 phút ngày 04/02/2018 chị T đến bnh viện Đa khoa huyện Lang
Chánh điều tr. Đến 15 gi 30 phút ngày 05/02/2018 chị T ra vin.
Ngày 20/3/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh ra quyết định trưng
cầu giám đnh s 09/CQĐT trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa giám đnh
mức độ tn hi sc khỏe do thương tích gây nên đi vi ch Thị T.
Ti bn kết luận giám định pháp y v thương tích số 158/2018/TTPY ca Trung
tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết lun: Ch T b gãy kín 1/3 giữa xương trụ phải, các sẹo
phn mềmng mặt ngoài cổ tay phi, vết sẹo lưng bên phải. Tng t l thương tích là
12%( mười hai phần trăm).
Ngày 19/4/2018 người b hại Lê Thị T có đơn đ ngh đưc bồi thường thit hi
gm:
1.Tin mt thu nhp trong thi gian điều tr 03 tháng ch phi ngh và không đi
làm thuê đưc, s tin thu nhp là: 1.700.000đ/tháng x 3 tháng = 5.100.000đ;
2.Tin mt thu nhp t làm rung là 3.000.000đ;
3.Tin t mua thuc ung là 1.900.000đ;
4.Tin bi thường tn tht tinh thn là 30.000.000đ. Tng s tiền là 40.000.000đ
(bốn mươi triệu đồng).
V vt chng ca v án: Cơ quan CSĐT đã tổ chức truy tìm vật chng ca v án
đoạn ci g mà Lê Thị Th đã dùng đ gây thương tích cho chị Thị T nhưng
không phát hiện được đoạn ci g đặc điểm như Th khai báo.
4
Tại bản Cáo trạng số 10/CTr- KSĐT-TA ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Lang Chánh đã truy tố bị cáo Lê Th Th v tội Cý gây thƣơng
tích” theo Khoản 2 Điều 134 BLHS.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh
vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đnghị Hội đồng xét xử tuyên b: Lê Th Th
phạm tội "C ý gây thương tích". Áp dụng: Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1
Điều 51 Điều 65 BLHS; xử phạt b cáo Lê Th Th từ 24(Hai bốn) đến 30(Ba mươi)
tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 (bốn mươi tám) đến 60
(sáu mươi ) tháng, giao b cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong
thời gian th thách.
Vtrách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trách nhiệm bồi thường chi phí hợp
lý trong việc điều trị thương tích cho ch Lê Th T theo qui định của pháp luật.
V án phí: B cáo là người dân tộc thiểu s đang sinh sống vùng kinh tế đặc
biệt khó khăn nên đề ngh HĐXX miễn nộp tiền án phí cho b cáo theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay, người bào chữa cho bị cáo cũng đồng ý với quan điểm
của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Th Th về tội Cý gây thương tíchtheo Khoản
2 Điều 134 của BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, s Khoản 1 Điều 51
của BLHS, do b cáo có nhiều tình tiết giảm nh đề ngh HĐXX xem xét áp dụng Điều
54, Điều 65 của BLHS xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị o t 18
tháng 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian th thách 36 đến 44 tháng; giao
b cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục b cáo;
Về phần bồi thường: Theo đơn đề nghị của người bị hại là chưa phù hợp, đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ vào Điều 590 BLDS buộc b cáo bồi thường chi phí
hợp lý cho người b hại theo qui định của pháp luật.
V án phí: B cáo là người dân tộc thiểu s đang sinh sống xã có điều kiện kinh
tế đặc biệt khó khăn, đã có đơn đ ngh và được chính quyền địa phương xác nhận, gia
5
đình b cáo thuộc h nghèo, nên đ ngh HĐXX xem xét miễn nộp tiền án phí cho b
cáo theo quy định của pháp luật.
Bcáo Th Th đã thành khẩn khai báo nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với đại
diện Viện kiểm sát. B cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan
hồng của pháp luật, cho b cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để
b cáo có điều kiện cải tạo tr thành người tốt.
Người b hại đ ngh HĐXX giải quyết v mức hình phạt theo quy định của pháp
luật, yêu cầu b cáo phải bồi thường thiệt hại theo đơn đề ngh ngày 19/4/2018.Ngoài
ra người b hại không yều cầu thêm gì v phần bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định ttụng của quan điều tra, cán bộ Điều tra Công
an huyện Lang Chánh, Kiển sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện trình tự, thủ tục đúng thẩm quyền theo quy định
của pháp luật.
[2] V tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Lê Th Th tại phiên toà phù hợp với
các chứng cứ, tài liệu có trong hồ vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng
khác tại phiên toà đủ sở để kết luận: Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 03/02/2018, do
ch T có nghi ng b cáo Th chặt đứt ống dẫn nước sinh hoạt t trên đồi v nhà mình,
khi biết việc đó b cáo Th đến nhà ch T hỏi tại sao lại nghi ng việc đó cho b cáo, khi
đến nhà ch T, giữa b cáo và ch T lời qua tiếng li với nhau. Th đã cầm một đoạn
g dng củi kích thước khoảng hơn một mét, đường kính khoảng 04 centimet tại đống
củi nơi ch T ngi nấu cơm. Th cm thanh ci bng tay phi vụt theo hướng t trên
xuống trúng vào vùng mặt trước cng tay phi ca ch T. Sau khi b đánh chị T đứng
lên rồi quay người b chy. Th tiếp tc cầm đon ci bng tay phi vụt trúng vùng
6
lưng bên phải ca ch T. Ch Tuân tiếp tc b chy khỏi nhà nên Th ném đon ci g
dùng để đánh ch T vào đống ci rồi đi về nhà mình. Theo biên bn xem xét đấu vết
trên thân th ngày 04/02/2018 ca cơ quan cnh sát điu tra Công an huyn Lang
Chánh thì 1/3 cng tay phi ch T có vết sưng n bm tím, t máu, c tay phi xước da,
n nh, vết xây xước da sưng n ti vùng lưng bên phi. Hậu quả làm ch T tổn hại
12% sức khoẻ, hành vi của Lê Th Th phạm tội “ Cố ý gây thương tích” . Vì vậy, Viện
kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh truy tố bị cáo Lê Th Th vtội Cố ý gây
thương tích” theo khoản 2 Điều 134 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[3] Xét về tính chất vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo nguy
hiểm cho hội, trực tiếp xâm phạm sức khoẻ của người khác, bị cáo đã dùng gậy
đánh vào tay, lưng và gây thương tích cho ch T. Để kỷ cương pháp luật được tôn
trọng, trật tự an toàn xã hội được duy trì, tính mạng, sức khoẻ của mọi người được bảo
vệ, để giáo dục người phạm tội, hành vi của bị cáo phải được xử nghiêm minh theo
qui định của BLHS.
Song Hội đồng xét xcũng xét, sau khi gây thương tích cho ch T b cáo thành
khẩn khai nhận và rất ăn năn, hối hận v hành vi của mình gây ra, b cáo đã ch động
nhiều lần đến nhà ch T xin lỗi và bồi thường thiệt hại một phần cho ch T, nhưng
không gặp được ch T hay người nhà của ch T. Trước khi đưa r án ra xét x bị cáo
đã t nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả do b cáo gây ra, s tiền là
5.000.000đ (Năm triệu đồng). Mặt khác người b hại cũng có lỗi một phần, bị cáo là
người dân tộc thiểu s, không có trình độ học vấn nên nhận thức v pháp luật còn hạn
chế; đây những tình tiết giảm nh được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51
BLHS, xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình để bị cáo thấy được
chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm tr thành người tốt.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh: B cáo không có tình tiết
tăng nặng, và có nhiều tình tiết giảm nh đã nêu trên .Ttrước đến nay bị cáo nhân
thân tốt, không có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, có chỗ ở ổn định rõ ràng, có khả
7
năng tự cải tạo tốt, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội
mà áp dụng Điều 65 của BLHS, cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính
quyền địa phương nơi bị cáo thường trú quản giáo dục cũng đủ điều kiện để bị
cáo cải tạo trở thành công dân tốt.
Vbồi thường thiệt hại: Việc ch Lê Th T bị thương phải điều trị thương tích
hậu quả do hành vi phạm tội của b cáo gây ra, vậy ch T yêu cầu b cáo phải bồi
thường thiệt hại trong việc điều trị thương tích là căn cứ để chấp nhận. Tuy nhiên,
yêu cầu bồi thường của ch Tuân chưa phù hợp với thực tế, nên cần xem xét để chấp
nhận những yêu cầu hợp lý như sau:
1- Đối với khoản mất thu nhập của ch T t ngày b Thanh gây thương tích cho
đến khi bình phục hoàn toàn và có th lao động được lại bình thường là 03 tháng, bình
quân thu nhập của ch T là 1.700.00đ/tháng x 03 tháng = 5.100.000đ. Đối với yêu cầu
trên của ch Tuân HĐXX thấy rằng, căn c vào độ tuổi lao động tại địa phương v mức
thu nhập của ch T yêu cầu là phù hợp, nên có căn c để chấp nhận.
2- Đối với tiền mất thu nhập của ch T đi Bệnh viện điều tr 02 ngày và tiền mất
thu nhập của chồng ch T là người đi chăm sóc, c 2 người là 04 và tính 01 ngày mất
thu nhập của ch T đi giám định sức khỏe là 05 ngày mất thu nhập, tính mức thu nhập
lao động bình quân của chồng ch T tại địa phương là 150.000đ/ngày/người là
750.000đ.
3- Đối với khoản tiền ch T t mua thuốc uống 1.90.000đ, không có kê đơn ch
dẫn của Bác S, ch T không xuất trình được hoá đơn chứng t để chứng minh nên
HĐXX không có cơ s để chấp nhận.
4- Đối với khoản tiền ch T yêu cầu mất thu nhập t làm ruộng là 3.000.000đ.
HĐXX xét thấy đã buộc b cáo bồi thường tiền mất thu nhập 3 tháng là 5.100.000đ
như đã yêu cầu trên, nên không có cơ s để yêu cầu b cáo bồi thường v mất thu nhập
t làm ruộng đối với ch T.
8
5- Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất v tinh thần, ch T yêu cầu 30.000.000đ
(Ba mươi triệu đồng). Xét về trường hợp vết thương của ch T ch 12% do đó không
ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên tổn thất về tinh thần không lớn. vậy chỉ chấp nhận
buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ch T bằng 12 (Mười hai) tháng
lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm là 1.390.000đ/tháng; 12 tháng x
1.390.000đ/tháng = 16.680.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng);
Tổng cộng số tiền buộc b cáo phải bồi thường cho ch T là: 22.530.000đ (Hai
mươi hai triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
Để đảm bảo cho việc bồi thường khắc phục hậu quả của mình gây ra, khi Tòa án
thụ và trước khi đưa ván ra xét xử, bị cáo đã tự nguyện nộp 5.000.000đ (Năm
triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lang Chánh, theo Biên lai thu tiền số:
AA/20105/0001054, ngày 03/8/2018. Sau khi bản án hiệu lực pháp luật người b
hại được nhận số tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lang Chánh. B cáo Lê
Th Th còn phải bồi thường tiếp cho ch T s tiền 17.350.000đ (Mười baỷ triệu ba
trăm năm mươi nghìn đồng).
Ván phí: Bcáo là người dân tộc thiểu s đang sinh sống vùng kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn đề ngh miễn nộp tiền án phí nên HĐXX xem xét
miễn nộp toàn b tiền án phí HSST và án phí DS theo giá ngạch cho b cáo theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Th Th phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình
sự.
Xphạt: Lê Th Th 24 (Hai bốn) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian
thử thách 48 (Bốn tám) tháng. Tính từ ngày tuyên án thẩm, giao bị cáo cho
9
UBND xã Giao Thiện, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục b cáo
trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy
định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo c ý vi phạm nghĩa v 02
lần tr lên thì Tòa án có th quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Vtrách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590, Điều
357 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Lê Th Th trách nhiệm bồi thường cho ch Lê
Th T số tiền chi phí hợp lý sau:
1- Đối với khoản mất thu nhập của ch Tuân 03 tháng sau khi bình phục sức
khỏe là 5.100.000đ (Sáu triệu đồng);
2- Đối với khoản mất thu nhập của ch Tuân và chồng ch T nằm điều tr tại
bệnh viện và tiền mt thu nhập đi giám định sức khỏe 750.000đ;
3 Bồi thường khoản tiền tổn thất v tinh thần 16.680.000đ (Mười sáu triệu sáu
trăm tám mươi nghìn đồng);
Tổng cộng số tiền buộc b cáo Th phải bồi thường cho ch T là 22.530.000đ (Hai
mươi hai triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
Chấp nhận b cáo đã t nguyện bồi thường 5.000.000đ (Năm triệu đồng)
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lang Chánh, theo Biên lai thu tiền số:
AA/20105/0001054, ngày 03/8/2018. Sau khi bản án hiệu lực pháp luật người b
hại được nhận lại số tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lang Chánh.
B cáo Lê Th Th còn phải bồi thường tiếp cho ch T s tiền 17.530.000đ (Mười
bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
Ktừ ngày bản án hiệu lực pháp luật ch T đơn đề nghị thi hành án, nếu
bị cáo Th không nộp đủ số tiền còn phải bồi thường thì phải chịu lãi đối với số tiền còn
10
phải bồi thường theo mức lãi xuất bản do Ngân hàng nhà nước qui định tương ứng
với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội. Miễn nộp
toàn b tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân s cho bị cáo.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 luật Thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hánh án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại
các Điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Án xử công khai thẩm mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại.
Bị cáo, người bị hại quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tngày
tuyên án sơ thẩm.
i nhận: T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo,người bị hại, người bào chữa; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND H. Lang Chánh,VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- CQĐT Công an huyện Lang Chánh;
- Chi cục THADS Lang Chánh;
- Hồ sơ thi hành án hình sự;
- CQTHAHSCông an huyện lang Chánh;
- Lưu hồ sơ vụ án; Trƣơng Thị H
Tải về
Bản án số 09/2018/HSST Bản án số 09/2018/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất