Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TAND huyện Ia H' Drai, tỉnh Kon Tum

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TAND huyện Ia H' Drai, tỉnh Kon Tum
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Ia H' Drai (TAND tỉnh Kon Tum)
Số hiệu: 08/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/04/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trộm cắp TS
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN IA H’DRAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KON TUM
Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày: 23/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phú Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rô Man Duyên và bà Lò Thị Sai.
- Thư ký phiên tòa: Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia
H’Drai, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai tham gia phiên
tòa: Ông Hoàng Văn Dân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia H’Drai,
Tòa án nhân dân huyện Ia H’Drai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự
thụ số 08/2024/TLST-HS ngày 03/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 07/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Khay Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14 tháng 3 năm 1988 tại
tỉnh Thanh Hoá. Nơi trú: Thôn I, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp:
Công nhân cao su; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khay Văn T1, sinh năm 1960
và bà Vi Thị P, sinh năm 1960. Hiện cả hai làm nông và sinh sống tại Thôn I, xã
I, huyện I, tỉnh Kon Tum; vợ Lương Thị T2, sinh năm 1985, 03 con,
con lớn nhất sinh năm 2008; con nhỏ nhất, sinh năm 2023. Hiện, cùng sinh sống
tại thôn I, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum. Gia đình bị cáo có ba anh chị em, bị cáo
con út trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại - mặt tại
phiên tòa.
2. Văn H. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 09 tháng 2 năm 1986 tại
tỉnh Thanh Hoá. Nơi trú: Thôn I, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp:
Làm nông; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Đ, sinh năm 1961và Vi
Thị C, sinh năm 1958. Hiện cả hai làm nông và sinh sống tại xã T, huyện B, tỉnh
Thanh Hóa; vợ Thị M, sinh năm 1983, 02 con, con lớn nhất sinh
năm 2005, con nhỏ nhất, sinh năm 2009. Hiện, cùng sinh sống tại thôn I, I,
huyện I, tỉnh Kon Tum. Gia đình bị cáo ba anh chị em, bị cáo con thứ hai
trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Thị H1, sinh năm 1994 anh Đức T3, sinh năm
1988. Cùng cư trú tại: Thôn I, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum.
Chị Thị H1 u quyền cho anh Đức T3 tham gia tố tụng (Theo văn
bản uỷ quyền ngày 06/12/2023). (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Thị M, sinh năm 1985. Nơi trú: Thôn I, I, huyện I, tỉnh
Kon Tum. (Có mặt).
2. Chị Lương Thị T2, sinh năm 1985. Nơi trú: Thôn I, I, huyện I,
tỉnh Kon Tum. (Có mặt).
- Người m chứng: Anh n B, sinh năm 1991. Nơi trú: Thôn I, I,
huyện I, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 23/11/2023, Khay Văn T (sinh ngày:
14/3/1988, HKTT: Thôn I, I, huyện I, tỉnh Kon Tum) rủ Văn H (sinh
ngày: 09/02/1986, HKTT: Thôn I, I, huyện I, tỉnh Kon Tum) đi săn thú rừng
tại tiểu khu G thuộc địa giới hành chính I, huyện I, tỉnh Kon Tum. Khi đi, T
mang theo 01 (một) khẩu súng săn, H mang theo 01 (một) khẩu súng thể thao để
đi săn nhưng không săn được gì. Đến khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, cả hai đi về
lán rẫy của T tại 9a, khoảnh 3, tiểu khu G thuộc thôn D, I, huyện I để ăn
nhậu.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, do trước đó biết trong rẫy nhà chị Thị
H1 (Sinh ngày: 07/11/1994, HKTT: Thôn I, I, huyện I, tỉnh Kon Tum) ở thôn
D, I nuôi heo nhưng buổi tối không người trông coi nên T nảy sinh ý
định đi bắn trộm heo nhà chị H1 để về ăn thịt nên nói với H hay là đi bắn heo ở
rẫy nhà H1 về ănthì H đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe BKS 82B1-
810.56 chở Hoe ngồi sau đi đến rẫy nhà chị H1 thôn D, I, lúc đi H mang
theo khẩu súng thể thao. Khi đến khu vực lô cao su cách rẫy nhà chH1 khoảng
200m thì T để xe máy tại đây và cả hai cùng đi btheo lối mòn đến khu vực
chăn nuôi heo, bò tại rẫy nhà chH1. Quan sát xung quanh thấy không có ai nên
cả hai đi đến một chuồng nuôi heo 02 (hai) con heo lớn được nuôi nhốt bên
trong thì H lấy súng ra, gài đạn nhắm về phía con heo màu đen bắn, làm con
heo chết tại chỗ. Tiếp đó, cả hai cùng trèo vào bên trong chuồng, đưa con heo đã
bị bắn ra ngoài hàng rào. Sau đó, cả hai đưa con heo lên vị trí để xe rồi nhanh
chóng chạy xe về lán rẫy của Trắng để làm thịt chia nhau lấy một phần nội
tạng tiếp tục ngồi nhậu.
Đến khoảng 02 giờ ngày 24/11/2023 thì không nhậu nữa, H đi về dùng
xe BKS 82B1-373.08 chở phần thịt heo được chia về nhà tại thôn I, I
cất giấu trong tủ lạnh để ăn dần. Còn T thì chia nhỏ thịt heo đưa về nhà thôn I,
xã I cất trong tủ lạnh để ăn dần. Đến sáng ngày 24/11/2023, chị Lô Thị H2 khi đi
vào rẫy để cho heo, ăn thì phát hiện mất 01 (một) con heo nên đã trình báo
đến Công an I. Vụ việc sau đó được Công an I chuyển hồ cho quan
Công an huyện I thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 13/12/2023, Cơ quan điều tra đã ra yêu cầu định giá số 74/YC-CSĐT
để nghị Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng huyện I xác định
giá trị đối với 01 (một) con heo tài sản trộm cắp tại thời điểm bị chiếm đoạt.
Tại Kết luận về việc định giá tài sản tố tụng hình sự số 13/2023/KL- HĐĐG
ngày 19/12/2023 của Hội dồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tung hình
sự huyện I, kết luận: Tổng giá trị của 01 (một) con heo nặng 72kg (bảy mươi hai
kilogam), giống heo lai, lông màu đen tại thời điểm phạm tội ngày 23/11/2023 là
7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Ngày 13/12/2023, Cơ quan Công an huyện I, tỉnh Kon Tum tiến hành trưng
cầu giám định súng đạn đối với hai khẩu sung đạn Khay Văn T
Văn H đã sử dụng vào ngày 23/11/2023. Tại Kết luận giám định s350/KL-
KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh K, kết luận: 01 (một)
khẩu súng gửi đến giám định súng săn, không phải kquân dụng. Súng
còn sử dụng được (súng của Khay Văn T), 146 (một trăm bốn mươi sáu) vật kim
loại gửi đến giám định đạn chì dùng cho súng săn, không phải kquân
dụng, sử dụng bắn được cho súng trên (đạn chì sử dụng cho súng của Khay Văn
T); 01 (một) khẩu súng gửi đến giám định súng thể thao, không phải khí
quân dụng. Súng còn sử dụng được (súng của Văn H), 37 (ba mươi bảy) vật
kim loại gửi đến giám định đạn thể thao cỡ (5,56x25) mm, không phải
khí quân dụng, sử dụng bắn được cho súng trên (đạn sử dụng cho súng của
Văn H).
Ngày 17 tháng 01 năm 2024, quan Công an huyện I, tỉnh Kon Tum ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và Lệnh cấm đi khỏi
nơi cư trú đối với Khay Văn T, Hà Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại
khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại Cơ
quan Công an huyện I Khay Văn T, Văn H đã khai nhận toàn bhành vi
phạm tội của mình; lời khai của Khay Văn T, Văn H phù hợp với nội dung,
diễn biến của vụ án.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-Ia H’Drai ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện
kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai đã truy tố bị cáo Khay Văn T Văn H
về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm
truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng đánh giá tính chất, mức độ hành vi
phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm nh sự. Kiểm sát viên
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 173; điểm b, i,
s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Khay Văn
T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến
24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Hà Văn H từ 08 đến 11 tháng tù,
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 đến 22 tháng, tính từ ngày
tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã bồi thường cho
gia đình bị hại số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) nhằm khắc phục một phần
hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Bị hại đã nhận đủ tiền không
yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe tô, nhãn hiệu HONDA Blade, biển kiểm soát 82B1-
810.56, màu đỏ đen, số khung: 3646KY040455, số máy: JA36E0815754, xe
đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong và 01 (một) giấy chứng
nhận đăng xe đối với xe trên mang tên Khay Văn T. Đây phương
tiện T dùng để phạm tội, tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vchồng
bị cáo T chị Lương ThT2. Chị T2 không biết bcáo dùng đphạm tội n
đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô trên.
- 01 (một) xe tô, nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu đỏ đen, biển
kiểm soát: 82B1- 373.08, số khung: 3110EY183449, số máy:
JA31E0334092, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong 01
(một) giấy chứng nhận đăng xe đối với xe trên mang tên Văn
H. Qua xác minh, điều tra xác định chiếc xe trên không liên quan đến
hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy, đề nghị trả lại cho gia đình bị cáo.
- Tịch thu tiêu huỷ 01(một) súng thể thao dài 104cm, trên phần kim loại
hiệu 668” ?268”, 31 viên đạn thể thao cỡ (5,56x25) mm, 06 vỏ đạn thể
thao của Văn H 01 (một) con dao dài 47cm, lưỡi bằng kim loại, sắc bén
một bên dài 29cm, cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 18cm.
- 01 (một) súng săn trên thân các hiệu “COMMSO PE LM88E”, mặt
ngoài nòng có ký hiệu BUSHNELL” và 146 (một trăm bốn mươi sáu) viên đạn
chì hình nấm, màu nâu đen kích thước dài 7,8mm, đường kính 5,5mm của
Khay Văn T. Ngày 07/03/2024, quan CSĐT- Công an huyện I, tỉnh Kon
Tum chuyển toàn bộ tang vật nêu trên cho Đội Cảnh sát Quản hành chính và
trật trự xã hội Công an huyện I tiêu hủy theo quy định nên không đề cập.
Về án phí: Các bị cáo người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng điều
kiện kinh tế đặc biệt khó khăn đơn xin miễn án phí nên đề nghmiễn án
phí cho các bị cáo theo quy định.
Tại phiên toà, bị cáo Khay Văn T Văn H thừa nhận hành vi phạm
tội của mình nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không ý
kiến tranh luận gì. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều không bị mớm
cung, ép cung hay dùng nhục hình buộc phải nhận tội.
Bị hại là anh Đức T3 trình bày tại phiên tòa: Sau khi sự việc xảy ra, các
bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho tôi với tổng số tiền 8.000.000 đồng. Tôi đã
nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhất trí với ý kiến luận tội
của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai
trái, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an
huyện I, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên huyện I trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại những người tham gia tố tụng khác không
người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng anh Văn B vắng mặt. Xét thấy, việc
vắng mặt của người làm chứng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, họ
đã có giấy báo xin xét xử vắng mặt, có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó,
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày
23/11/2023, bị cáo Khay Văn T Văn H đã có hành vi lét lút, đột nhập vào
khu vực chăn nuôi heo, tại rẫy nhà chị Thị H1 anh Đức T3 tại thôn
D, I, huyện I, tỉnh Kon Tum. Quan sát xung quanh thấy không ai nên các
bị cáo đi đến một chuồng nuôi heo 02 (hai) con heo lớn được nuôi nhốt bên
trong. Sau đó, Văn H dùng khẩu súng thể thao của mình, gài đạn, bắn chết
một con heo nặng 72 kg giống heo lai, lông màu đen. Sau khi bắn xong, cả hai
nhanh chóng lấy tài sản trộm cắp được đưa về lán rẫy của Khay Văn T tại thôn
D, I để làm thịt heo chia nhau. Tại Bản kết luận về việc định giá tài sản tố
tụng hình sự số 13/2023/KL-HĐĐG ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá tài
sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện I, kết luận: Tổng gtrị của 01
(một) con heo nặng 72kg (Bảy mươi hai kilogam), giống heo lai, lông màu đen
tại thời điểm định giá là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó,
tổng hợp hành vi hậu quả, Hội đồng xét xđủ sở kết luận hành vi trên
của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản
1 Điều 173 BLHS như Cáo trạng số 06/CT-VKS- Ia H’Drai ngày 01 tháng 4
năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H’Drai, tỉnh Kon Tum truy tố
có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm
cho hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị
cáo lợi dụng sự hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt i
sản. c bị cáo đều người đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức hành vi
của mình sai trái nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét
xử xét thấy cần phải xử phạt các bcáo một mức án tương xứng với tính chất,
mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo c
bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, chuẩn
bị ttrước. Bị cáo Khay Văn T là người khởi xướng đồng thời cũng là người
thực hành, bị cáo nảy sinh ý định đi bắn trộm heo nhà bị hại để về ăn thịt nên rủ
Văn H cùng thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Văn H người thực
hành, bị cáo dùng khẩu súng thể thao của mình, trực tiếp bắn chết một con heo.
Sau đó, cả hai bị cáo cùng nhau lấy tài sản trộm cắp được đưa về lán rẫy của
Khay Văn T mổ thịt và chia nhau.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra,
truy tố tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng. Sau khi sự việc xảy ra, đã bồi thường cho gia đình bị hại
8.000.000 đồng (Bị cáo Khay Văn T bồi thường 4.000.000 đồng, bcáo Văn
H bồi thường 4.000.000 đồng). Bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ một phần hình
phạt cho các bcáo. Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét các bị cáo nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này ra, các bị cáo luôn
chấp hành đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi trú; các b cáo nơi trú ràng;
nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
không tình tiết ng nặng trách nhiệm hình sự. Theo hướng dẫn tại văn bản
hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 Nghị quyết Hướng dẫn áp
dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao tcác bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 của Bộ luật
hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo, không cần thiết cách ly các bị cáo ra
khỏi cộng đồng, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát trong thời
gian chấp hành án vẫn bảo đảm khả năng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị
cáo, cũng nphòng ngừa chung, mà không gây nguy hiểm cho hội, không
ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[5] Ngoài ra, qua xác minh, điều tra xác định: 01 (một) khẩu súng của Khay
Văn T súng săn, không phải khí quân dụng 146 (một trăm bốn mươi
sáu) viên đạn đạn chì dùng cho súng săn, không phải khí quân dụng. 01
(một) khẩu súng thể thao của Văn H, không phải khí quân dụng, 37 (ba
mươi bảy) viên đạn đạn thể thao, không phải khí quân dụng. Đây là
công cụ thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cấm sử dụng. Khay Văn
T Văn H đều chưa tiền án, tiền sự gì. Do đó, hành vi của Khay Văn T,
Hà Văn H chưa đủ yếu tố cấu thành tội Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc
công cụ hỗ trợđược quy định tại Điều 306 Bộ luật hình sự. Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện I đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khay
Văn T về hành vi “Tàng trữ súng săn” với số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng,
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với n H về hành vi Tàng
trữ, sử dụng súng thể thaovới số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng là phù
hợp nên không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên toà, các bị cáo đã tự
nguyện đứng ra bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Đức T3 với tổng số
tiền là 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không
yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[7] Về xử vật chứng: Đối với 01 (một) xe tô, nhãn hiệu HONDA
Blade, biển kiểm soát 82B1-810.56, màu đỏ đen, số khung: 3646KY040455,
số máy: JA36E0815754, xe đã qua sử dụng 01 (một) giấy chứng nhận đăng
xe đối với xe trên mang tên Khay Văn T. Đây là phương tiện T
dùng để phạm tội. Qua xác minh, điều tra xác định chiếc xe trên thuộc
quyền sở hữu của vợ chồng bị cáo Khay Văn T chị Lương Thị T2. Chị T2
hoàn toàn không biết việc bị cáo dùng xe để đi trộm cắp. Do đó, cần phải
tịch thu
1
/
2
giá trị của chiếc xe mô biển kiểm soát 82B1-810.56 tại thời điểm
thi hành án để sung vào Ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại
1
/
2
giá trị tài sản còn
lại tại thời điểm thi hành án cho chị Lương Thị T2.
- 01 (một) xe tô, nhãn hiệu HONDA Wave RSX, màu đỏ đen, biển
kiểm soát: 82B1- 373.08, số khung: 3110EY183449, số máy:
JA31E0334092, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong 01
(một) giấy chứng nhận đăng xe đối với xe trên mang tên Văn
H. Qua xác minh, điều tra và tại phiên toà hôm nay xác định chiếc xe mô tô trên
không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy, cần trả lại xe
tô biển kiểm soát: 82B1- 373.08 cho bị cáo Hà Văn H và và chị Lò Thị M là phù
hợp.
- 01 (một) con dao dài 47cm, lưỡi bằng kim loại, sắc bén một bên dài
29cm, cán bằng ghình trụ tròn dài 18cm. Đây công cụ phạm tội, không còn
giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01(một) súng thể thao dài 104cm, trên phần kim loại có ký hiệu “668” và
“?268” 31 viên đạn thể thao cỡ (5,56x25) mm 06 vỏ đạn thể thao của
Văn H. Đây các công cụ dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Thuộc loại Nhà
nước cấm tàng trữ, lưu hành và cấm sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là có cơ sở.
- 01 (một) súng săn trên thân các hiệu “COMMSO PE LM88E”, mặt
ngoài nòng có ký hiệu BUSHNELL” và 146 (một trăm bốn mươi sáu) viên đạn
chì hình nấm, màu nâu đen kích thước dài 7,8mm, đường kính 5,5mm của
Khay Văn T. Qua xác minh, điều tra xác định những công cụ trên thuộc quyền
sở hữu của Khay Văn T (không thuộc loại khí quân dụng), không liên quan
đến vụ án. Ngày 07/03/2024, quan CSĐT- Công an huyện I, tỉnh Kon Tum
chuyển toàn bộ tang vật nêu trên cho Đội Cảnh t Quản hành chính trật
trự xã hội Công an huyện I xử lý theo quy định nên không đề cập.
[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí
hình sự thẩm. Thỏa thuận vbồi thường được các bên thực hiện trước ngày
mở phiên tòa nên không phải chịu án phí dân sự. Các bị cáo người đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn
toàn bộ án phí nên Hội đồng xét xử xét miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo theo
quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố c bị cáo Khay Văn T Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài
sản”.
- Áp dụng Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản
2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Khay Văn T 10 (Mười) tháng , nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án
(23/4/2024).
Xử phạt: Bị cáo Văn H 08 (T4) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án (23/4/2024).
Giao bị cáo Khay Văn THà Văn H cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I,
tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa
phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được
hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi
hành án hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, tTòa án thể
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng
án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử
thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự .
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước
1
/
2
giá trị xe mô tô, nhãn hiệu HONDA
Blade, biển kiểm soát 82B1-810.56, màu đỏ đen, số khung: 3646KY040455,
số máy: JA36E0815754, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong,
tại thời điểm thi hành án; kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng xe
biển kiểm soát 82B1-810.56 mang tên Khay Văn T;
Hoàn trả cho chị Lương Thị T2
1
/
2
giá trị chiếc xe , nhãn hiệu
HONDA Blade, biển kiểm soát 82B1-810.56, màu đỏ đen, số khung:
3646KY040455, số máy: JA36E0815754, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra
tình trạng bên trong tại thời điểm thi hành án.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dao dài 47cm, lưỡi bằng kim loại, sắc bén
một bên dài 29cm, cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 18cm; 01 bao xác rắn màu đỏ
được niêm phong, bên ngoài chữ của Hoàng Công H3, A T5, Nguyễn
Ngọc Q dấu tròn đỏ nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG
AN TỈNH KON TUM” bên trong gồm: 01(một) súng thể thao dài 104cm, trên
phần kim loại ký hiệu “668” “?268” 31 (Ba mươi mốt) viên đạn thể
thao cỡ (5,56x25) mm và 06 (Sáu) vỏ đạn thể thao;
Trả lại cho bị cáo Văn H chị Thị M 01 (một) xe , nhãn
hiệu HONDA Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 82B1- 373.08, số
khung: 3110EY183449, số máy: JA31E0334092, xe đã qua sử dụng, không
kiểm tra tình trạng bên trong và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đối
với xe trên mang tên Hà Văn H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 của Công an huyện I
với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia H’Drai).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều
12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí tòa án
kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự thẩm
cho bị cáo Khay Văn THà Văn H.
- Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/4/2024) các bị cáo, bị hại, người quyền lợi
nghĩa vliên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử lại vụ
án theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- Các bị cáo;
- Bị hại; Người có QLNVLQ;
- VKSND huyện Ia H’Drai;
- VKSND tỉnh Kon Tum;
- CCTHA DS huyện Ia H’Drai;
- Công an huyện Ia H’Drai;
- TAND tỉnh Kon Tum;
- TAND cấp cao tại Đà nẵng;
- Vụ Giám đốc kiểm tra - TANDTC;
- Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Phú Lợi
Tải về
Bản án số 08/2024/HS-ST Bản án số 08/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2024/HS-ST Bản án số 08/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất