Bản án số 08/2021/DS-ST ngày 16/04/2021 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2021/DS-ST ngày 16/04/2021 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ea Kar (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 08/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng QĐ khởi kiện yêu cầu ông Q, bà Th trả nợ khoản vay. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 08/2021/DS-ST
Ngày 16 tháng 4 năm 2020
“ V/v tranh chấp về hợp đồng
tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Nik Êban; ông Vũ Mạnh Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2021 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 285/2020/TLST- DS ngày 13 tháng 10 năm
2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-DS ngày 15 tháng
3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ. Địa chỉ: 21 CL, phường
CL, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hữu Đ. Chức vụ: Chủ tịch hội đồng
quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quốc N. Chức vụ: Tổng giám đốc –
Công ty TNHH Quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng thương Mại cổ phần
QĐ. Địa chỉ: Tầng 2, toà nhà B4 L, đường Phạm Ngọc Th, quận Đ, thành phố Hà
Nội.
- Người được uỷ quyền lại: Bà Đinh Thị L. Chức vụ: Phó giám đốc Trung
tâm xử lý nợ công ty MB AMC. Địa chỉ: Tầng 2, toà nhà B4 KL, đường Phạm
Ngọc Th, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người được uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Xuân A. Chức vụ:
Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: Số 37 Tr, thành phố T, tỉnh Đắk Lắk (theo văn bản
uỷ quyền ngày 18/12/2020)(Có mặt).
2
2. Bị đơn: Ông Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th. Cùng địa chỉ: Thôn B,
xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 31/8/2020, các lời khai và tại phiên toà người
được uỷ quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân A trình bày:
- Ngày 20/9/2018, ông Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th có vay của Ngân
hàng thương Mại cổ phần QĐ (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 500.000.000
đồng với thời hạn vay 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân ngày
20/09/2018. Lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%/ lãi suất
trong hạn theo hợp đồng cho vay số 777030.18.341.4404456.TD ngày 20/9/2018.
Thời hạn định kỳ trả lãi và gốc theo đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày
20/9/2018 như sau: Nợ gốc được thanh toán 10 kỳ (mỗi kỳ là 12 tháng), mỗi kỳ
50.000.000 đồng và trả vào ngày 15 của tháng dương lịch. Kỳ trả lãi đầu tiên sẽ bắt
đầu vào ngày giải ngân và kết thúc vào ngày 14/3/2019, trả tiền lãi 06 tháng một
lần.
Khi thực hiện hợp đồng cho vay trên, ông Q, bà Th có thế chấp cho Ngân
hàng 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với
diện tích 18844,2m
2
tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại thôn 6a, xã Ea Ô,
huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BO 068807 ngày 11/10/2016 mang tên ông Lương Văn Q và
bà Nguyễn Thị Th theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
777043.18.341.4404456.BĐ ngày 20/9/2018.
Đến ngày 24/9/2019, ông Q, bà Th trả được cho ngân hàng 50.000.000 tiền
gốc; ngày 21/6/2020 trả được 35.300.000 đồng tiền gốc và ngày 26/9/2020 trả
được 22 đồng tiền gốc, trong khi tiền gốc phải trả đến ngày 20/9/2020 là
100.000.000 đồng. Ngoài ra, đến ngày 14/6/2020 ông Q bà Th đã trả cho ngân
hàng được 88.268.666 đồng tiền lãi, trong khi tiền lãi phải trả đến ngày khởi kiện
31/8/2020 là 105.325.241 đồng.
Việc ông Q và bà Th không trả đủ, tiền gốc và lãi theo đề nghị giải ngân kiêm
khế ước nhận nợ ngày 20/9/2018 của ngân hàng. Như vậy đã vi phạm vào điểm c, d,
mục 8.4.2 khoản 8.4 Điều 8 hợp đồng cho vay số 777030.18.341.4404456.TD ngày
20/9/2018 của ngân hàng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng và ngân
hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết buộc ông Q, bà Th phải trả cho ngân hàng số nợ là 467.178.708 đồng.
Trong đó nợ gốc là 414.699.978 đồng, nợ lãi trong hạn từ ngày xét xử 16/4/2021 là
51.004.946 đồng, lãi quá hạn từ ngày 20/9/2020 đến ngày xét xử 16/4/2021 là
1.473.784 đồng. Trường hợp ông Q, bà Th không trả được nợ hoặc không trả hết
3
nợ thì đề nghị Toà án giải quyết cho Ngân hàng được quyền yêu cầu Chi cục thi
hành án dân sự huyện EaKar phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 777043.18.341.4404456.BĐ ngày 20/9/2018 để thu hồi nợ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã mở phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông Q, bà Th đã được
triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Toà án để làm việc nên không tiến hành
hoà giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét
xử.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Bị đơn đã được Tòa án niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng
mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng quy định
của pháp luật.
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư
cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của
Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại
phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ là
có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Q, bà Th
phải trả cho ngân hàng số nợ là 467.178.708 đồng, trong đó nợ gốc là 414.699.978
đồng, nợ lãi là 52.478.730 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ khởi kiện yêu cầu ông
Q, bà Th phải trả cho ngân hàng số nợ 467.178.708 đồng, trong đó nợ gốc là
414.699.978 đồng , nợ lãi là 52.478.730 đồng và trả lãi phát sinh cho đến khi trả
hết nợ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt
là BLTTDS) đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Do bị đơn có nơi cư trú tại
huyện EaKar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q, bà Th vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa
án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông Q, bà Th theo đúng quy
định của pháp luật nhưng ông Q, bà Th không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa
hôm nay ông Q, bà Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản
2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt ông Q, bà Th.
4
[2] Về nội dung: Ngày 20/9/2018, ông Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th
có vay của Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ (sau đây viết tắt là ngân hàng) số
tiền 500.000.000 đồng với thời hạn vay 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày
giải ngân ngày 20/09/2018. Lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng
150%/ lãi suất trong hạn theo hợp đồng cho vay số 777030.18.341.4404456.TD
ngày 20/9/2018. Thời hạn định kỳ trả lãi và gốc theo đề nghị giải ngân kiêm khế
ước nhận nợ ngày 20/9/2018 như sau: Nợ gốc được thanh toán 10 kỳ (mỗi kỳ là 12
tháng), mỗi kỳ 50.000.000 đồng và trả vào ngày 15 của tháng dương lịch. Kỳ trả
lãi đầu tiên sẽ bắt đầu vào ngày giải ngân và kết thúc vào ngày 14/3/2019, trả tiền
lãi 06 tháng một lần.
Nay đã quá thời hạn trả nợ gốc 02 kỳ với số tiền 100.000.000 đồng nhưng
ông Q, bà Th mới trả được cho ngân hàng được 85.300.022 đồng tiền gốc. Ngoài
ra, đến ngày 09/01/2020 ông Q bà Th đã trả cho ngân hàng được 88.268.666 đồng
tiền lãi, như vậy đã không thực hiện đúng với nội dung hợp đồng đã cam kết về
việc trả gốc và lãi theo thoả thuận, đã vi phạm vào điểm c, d, mục 8.4.2 khoản 8.4
Điều 8 hợp đồng cho vay số 777030.18.341.4404456.TD ngày 20/9/2018 của ngân
hàng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng và ngân hàng
được quyền khởi kiện để thu toàn bộ nợ trước hạn. Từ những chứng cứ mà các
đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Xét
thấy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ nên HĐXX cần buộc ông Q, bà Th phải
trả cho Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ số tiền nợ là 467.178.708 đồng. Trong
đó nợ gốc là 414.699.978 đồng, nợ lãi trong hạn từ ngày xét xử 16/4/2021 là
51.004.946 đồng, lãi quá hạn từ ngày 20/9/2020 đến ngày xét xử 16/4/2021 là
1.473.784 đồng và trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ là phù hợp với quy định
của pháp luật.
Đối với tài sản là 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất với diện tích 18844,2m
2
tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 52 tọa lạc
tại thôn 6a, xã Ea Ô, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 068807 ngày 11/10/2016 mang tên ông
Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th. Đây là những tài sản đã được thế chấp nhằm
bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của ông Q, bà Th. Do vậy, trong trường hợp
ông Q, bà Th không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy
đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự
huyện EaKar xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
777043.18.341.4404456.BĐ ngày 20/9/2018 theo quy định của luật thi hành án
dân sự để thu hồi nợ.
[3] Về chi phí tố tụng: Đối với số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định

5
tại chỗ là 2.000.000 đồng, do nguyên đơn đã tạm ứng. Nay, do yêu cầu của nguyên
đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Q, bà Th phải trả cho Ngân hàng thương Mại
cổ phần QĐ 2.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là đúng theo
quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông
Q, bà Th phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho
nguyên đơn ((theo mức 400.000.000 đồng x 5%) + (67.178.708 đồng x 4%)).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158; Điều 165; điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân
sự. Điều 463, khoản 1, điểm a, b khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự. Điều
6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th phải trả cho Ngân hàng
thương Mại cổ phần QĐ số tiền nợ là 467.178.708 đồng, trong đó nợ gốc là
414.699.978 đồng, nợ lãi là 52.478.730 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa
thuận theo hợp đồng vay số 777030.18.341.4404456.TD ngày 20/9/2018 cho đến
khi thi hành án xong.
- Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ phải trả lại cho ông Lương Văn Q và
bà Nguyễn Thị Th 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 068807 đã được
UBND huyện EaKar cấp ngày 11/10/2016 mang tên ông Lương Văn Q và bà
Nguyễn Thị Th sau khi ông Q, bà Th trả nợ xong.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Q, bà Th không thực hiện
nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thương Mại
cổ phần QĐ, thì Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ có quyền yêu cầu Cơ quan
Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 18844,2m
2
tại thửa đất số 43, tờ
bản đồ số 52 tọa lạc tại thôn 6a, xã Ea Ô, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được
UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 068807 ngày
11/10/2016 mang tên ông Lương Văn Q, bà Nguyễn Thị Th theo hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số 777043.18.341.4404456.BĐ ngày 20/9/2018 theo quy
định của pháp luật để thu hồi nợ.
6
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận nên buộc ông Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th phải trả cho Ngân
hàng thương Mại cổ phần QĐ 2.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ.
4. Về án phí: Ông Lương Văn Q và bà Nguyễn Thị Th phải chịu là
22.687.148 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trả lại cho Ngân hàng thương Mại cổ phần QĐ 10.728. 387 đồng tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0011407 ngày 12/10/2020 của Chi cục
thi hành án Dân sự huyện EaKar.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản
án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự
vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,7a và Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận :
- TAND tỉnh ĐắkLắk;
- VKSND huyện EaKar;
- THADS huyện Eakar;
- Đương sự;
- Lưu HS.
Nguyễn Cƣờng Anh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 07/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm