Bản án số 07/2022/HS-ST ngày 02/03/2022 của TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2022/HS-ST ngày 02/03/2022 của TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Thới Bình (TAND tỉnh Cà Mau) |
| Số hiệu: | 07/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/03/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 07/2022/HSST
Ngày 02 tháng 3 năm 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Lộc
2. Bà Hồ Lệ Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình S thụ lý số: 53/2021/HSST ngày 28 tháng 12 năm
2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02, 02a/2022/QĐXXST-HS cùng ngày
10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Hoàng S, sinh năm 1993 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp P, xã Trí Lực, huyện
Thới Bình, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 6/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê
Văn K và bà Lê Kim L; vợ Lê Huyền T và có 01 người con; tiền sự: Không; tiền
án: Có 01 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 144/2019/HS-ST ngày 07/8/2019
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau và bản án hình sự phúc thẩm số
144/2019/HSPT ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02
năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày
13/02/2021, đã thi hành xong phần án phí sơ thẩm và phúc thẩm; bị cáo bị tạm giữ
ngày 17/9/2021, chuyển sang tạm giam từ ngày 23/9/2021 đến nay, bị cáo có mặt
tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Hữu D, sinh năm 1994, địa chỉ: Ấp 7, xã T, huyện Thới
Bình, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị Kiều N, sinh năm 1990, địa chỉ: Ấp P, xã Trí Lực, huyện Thới
Bình, tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
- Anh Hữu Văn N, địa chỉ: Ấp 7, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, vắng
mặt.
- Chị Hồng Thị Cẩm T, địa chỉ: Ấp T, xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau,
tỉnh Cà Mau, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 14/9/2021, anh Hữu D điều khiển xe mô tô loại Exciter
màu trắng, xanh biển số 69D1-113.06 đến tiệm sửa xe Hoàng A của anh Hữu
Hoàng A, địa chỉ: Ấp 7, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để bơm hơi nhưng
tiệm sửa xe đóng cửa. Anh D đậu xe trước cửa tiệm, khóa xe lại và đi về nhà. Sau
đó, anh Di liên hệ với anh Hoàng A, qua trao đổi thì anh Hoàng A xác định tại cửa
tiệm có gắn camera nên anh D để xe tại cửa tiệm, khi nào anh Hoàng A đến thì sửa
xe. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Hoàng S đang ở nhà anh Hữu N thì nhận
được điện thoại của bạn là Võ Thị Thu T rủ S ra Cà Mau chơi, S đồng ý. S đi bộ
đến Cầu Số 6 đón xe ôm, trên đường đi ngang qua tiệm sửa xe Hoàng A, S phát
hiện xe mô tô của anh D đậu trước cửa tiệm, không ai trông coi nên nảy sinh ý
định lấy trộm chiếc xe để bán lấy tiền tiêu xài. S đi đến mở khóa xe nhưng không
được. Sau đó S lấy một bánh xích (nhông xe) của tiệm sửa xe đóng vào chìa khóa
xe thì mở được khóa, S dẫn xe ra lộ nổ máy và điều khiển xe đến nhà chị T tại
phường 6, thành phố Cà Mau. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày anh Hoàng A kiểm
tra camera thì phát hiện mất chiếc xe của anh D nên báo cho anh D biết và tổ chức
truy tìm nhưng không thấy nên trình báo Công an xã Tân Lộc.
Sáng ngày 15/9/2021 S lấy băng keo dán chữ số 6 tại biển số xe thành chữ
số 8 và dùng xe làm phương tiện đi lại, đồng thời tìm người để bán lại nhưng chưa
tìm được. Cùng ngày, S nhận được tin nhắn của anh Hữu Văn N yêu cầu S trả xe
lại cho anh D, anh N nói có camera quay lại. Sợ bị phát hiện nên ngày 17/9/2021 S
nhờ chị Hồng Thị Cẩm T điều khiển xe đến cầu Số 4, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh
Cà Mau trả xe cho anh D, chị T đồng ý.
3
Khoảng 10 giờ cùng ngày chị T điều khiển xe của anh D đến Cầu 4 để trả
xe, anh N cho T 500.000 đồng để đón xe về Cà Mau, T báo cho S hay đã trả xe cho
anh D. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 17/9/2021 S đến Công an huyện Thới Bình
đầu thú về hành vi của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 21/9/2021 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thới Bình xác định chiếc xe mô
tô loại Exciter màu trắng, xanh biển số 69D1-113.06 giá trị còn lại là 20 triệu đồng.
Vật chứng của vụ án:
Xe mô tô loại Exciter màu trắng, xanh biển số 69D1-113.06 Cơ quan cảnh
sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã trả lại cho anh D. Các giấy tờ thu giữ trên
người S gồm: 01 giấy chứng minh nhân dân số 381487845, tên Nguyễn Cu Đil A;
01 giấy phép lái xe hạng A1, số AH 570805, tên Lê Thế N; 01 giấy chứng nhận
đăng ký xe mô tô, xe máy số 020280, tên Triệu Thanh H; 01 giấy phép lái xe hạng
A1, số AM 976567, tên Triệu Thanh H; 01 Thẻ bảo hiểm y tế tên Triệu Thanh H;
01 giấy chứng minh nhân dân số 380727642 tên Trương Văn N: Đã trả lại cho chủ
sở hữu. Đối với 01 USB trích xuất dữ liệu camera hình ảnh S lấy trộm xe của anh
D đã đánh bút lục của Cơ quan Cảnh sát điều tra, lưu trong hồ sơ vụ án.
Các vật chứng còn lại gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng
xanh, số Imei 356944094984746, sim số mạng Vinaphone số sê ri 72798; 01 áo
khoát tay dài, màu xanh đen, loại vải dù, phía trước có ghi hàng chữ Vlieger; 01
cái quần vải màu đen, quần dài, bị bung chỉ ở phần đáy quần và dưới dây kéo; 01
nón bảo hiểm màu đen (loại nón kết), trên nón có ghi dòng chữ Fashion Demen; 01
đôi dép có ghi dòng chữ Bitis Formen, loại dép quai kẹp, hiện chi cục thi hành án
dân S huyện Thới Bình đang quản lý.
Trách nhiệm dân sự: Anh D đã nhận lại chiếc xe, yêu cầu bồi thường ổ khóa
bị hư hỏng số tiền 250.000 đồng, chị N là chị ruột của S đã bồi thường cho anh D
nên anh D không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Lê Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản”
theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình S.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã được trình bày nêu trên
và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đối với các tài sản thu giữ của bị cáo
gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng xanh, số Imei
356944094984746, sim số mạng Vinaphone số sê ri 72798, bị cáo yêu cầu được
4
nhận lại. Các đồ vật còn lại gồm: 01 áo khoát tay dài, màu xanh đen, loại vải dù,
phía trước có ghi hàng chữ Vlieger; 01 cái quần vải màu đen, quần dài, bị bung chỉ
ở phần đáy quần và dưới dây kéo; 01 nón bảo hiểm màu đen (loại nón kết), trên
nón có ghi dòng chữ Fashion Demen; 01 đôi dép có ghi dòng chữ Bitis Formen,
loại dép quai kẹp, bị cáo không yêu cầu được nhận lại.
- Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa
không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều
52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, phạt
bị cáo 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu
cầu bồi thường thêm nên không đề nghị xem xét. Về các tài sản thu giữ của bị cáo,
đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng xanh, số Imei
356944094984746, sim số mạng Vinaphone số sê ri 72798. Đối với các tài sản còn
lại gồm 01 áo khoát tay dài, màu xanh đen, loại vải dù, phía trước có ghi hàng chữ
Vlieger; 01 cái quần vải màu đen, quần dài, bị bung chỉ ở phần đáy quần và dưới
dây kéo; 01 nón bảo hiểm màu đen (loại nón kết), trên nón có ghi dòng chữ
Fashion Demen; 01 đôi dép có ghi dòng chữ Bitis Formen, loại dép quai kẹp, đề
nghị tịch thu tiêu hủy. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến
hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai
của bị cáo tại cơ quan điều tra, các lời khai của người bị hại, người làm chứng,
biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ
vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày
14/9/2021 tại ấp 7, xã T, huyện Thới Bình, bị cáo S đã thực hiện hành vi trộm cắp
chiếc xe mô tô hiệu loại Exciter màu trắng, xanh biển số 69D1-113.06 của anh
Hữu D có giá trị là 20 triệu đồng. Với hành vi và giá trị tài sản nêu trên thì Viện
5
kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo
khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy
định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì động cơ vụ lợi, muốn
có tiền tiêu xài mà không bằng công sức do mình tạo ra. Hành vi của bị cáo trực
tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm
ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội của địa phương, tạo nên tâm lý hoang
mang, lo sợ, gây nên sự bức xúc, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị
cáo nhận thức được rằng việc xâm phạm đến tài sản của người khác sẽ bị pháp luật
trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc khác, bị cáo đã từng bị kết án 02 năm tù
về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 13/02/2021,
đến ngày 14/9/2021 lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, việc xử
lý nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết, nhằm đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo như sau: Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành
khẩn khai báo; ăn năn hối cải; Tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho phía bị
hại; Bị cáo đầu thú; Bị cáo có trình độ học vấn thấp nhận thức pháp luật có phần
hạn chế nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều
51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị kết án 02 năm tù về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu tình
tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình S và đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần
cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới đủ sức cải tạo bị cáo
trở thành người tốt cũng như phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại xe và số tiền 250.000
đồng của chị N là chị ruột bị cáo bồi thường ổ khóa xe bị hư hỏng, không yêu cầu
gì thêm nên không xem xét.
Đối với số tiền 250.000 đồng chị N khắc phục cho anh D thay cho bị cáo và
số tiền 500.000 đồng anh N cho chị T, quá trình điều tra không có ai yêu cầu gì, tại
phiên tòa chị N, anh N, chị T vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[6] Về vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bị hại chiếc xe
mô tô loại Exciter màu trắng, xanh biển số 69D1-113.06 và trả lại cho chủ sở hữu
6
các giấy tờ thu giữ trên người S gồm: 01 giấy chứng minh nhân dân số 381487845,
tên Nguyễn Cu Đil A; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số AH 570805, tên Lê Thế N;
01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 020280, tên Triệu Thanh H; 01
giấy phép lái xe hạng A1, số AM 976567, tên Triệu Thanh H; 01 Thẻ bảo hiểm y
tế tên Triệu Thanh H; 01 giấy chứng minh nhân dân số 380727642 tên Trương Văn
N là phù hợp.
Đối với các tài sản thu giữ của bị cáo gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia
màu trắng xanh, số Imei 356944094984746, sim số mạng Vinaphone số sê ri
72798, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có yêu cầu nhận lại
nên cần trả lại cho bị cáo. Các tài sản còn lại gồm: 01 áo khoát tay dài, màu xanh
đen, loại vải dù, phía trước có ghi hàng chữ Vlieger; 01 cái quần vải màu đen, quần
dài, bị bung chỉ ở phần đáy quần và dưới dây kéo; 01 nón bảo hiểm màu đen (loại
nón kết), trên nón có ghi dòng chữ Fashion Demen; 01 đôi dép có ghi dòng chữ
Bitis Formen, loại dép quai kẹp, bị cáo không có yêu cầu được nhận lại, xét thấy
không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Các tài sản này hiện chi cục thi hành án
dân sự huyện Thới Bình đang quản lý.
[7] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định.
[8] Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại vụ án được quyền
kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h
khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình
sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Phạt bị cáo S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/9/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng:
7
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng xanh, số
Imei 356944094984746, sim số mạng Vinaphone số sê ri 72798.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoát tay dài, màu xanh đen, loại vải dù, phía
trước có ghi hàng chữ Vlieger; 01 cái quần vải màu đen, quần dài, bị bung chỉ ở
phần đáy quần và dưới dây kéo; 01 nón bảo hiểm màu đen (loại nón kết), trên nón
có ghi dòng chữ Fashion Demen; 01 đôi dép có ghi dòng chữ Bitis Formen, loại
dép quai kẹp.
Các vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình quản
lý.
4. Về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp
lệ.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND huyện Thới Bình;
- Công an huyện Thới Bình
- Chi cục THA huyện Thới Bình;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Lê Thị Bảo Trâm
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng