Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 04/02/2020 của TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 04/02/2020 của TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hoài Đức (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 07/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HĐ THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
Bản án số: 07/2020/HS-ST
Ngày 04 tháng 02 năm 2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HĐ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sinh Th.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Mạnh Kh.
2. Bà Đào Thị X.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị S - Thư ký Tòa án nhân dân huyện HĐ,
thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích D - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện
HĐ, thành phố Hà Nội.
Ngày 04 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HĐ, thành phố
Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS
ngày 14 tháng 01 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-
HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn S, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1982 tại Hà Nam; nơi cư trú: thôn
TB, xã NL, huyện BL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:
09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà
Trần Thị Th (có bố dượng là ông Đặng Văn T); có vợ là Lê Thị Th và 02 con (Con
lớn sinh năm 2006, Con nhỏ sinh năm 2008); tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân
thân: Ngày 02/6/2009, bị Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt
hành chính vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 27/8/2013, bị Tòa án nhân
dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy”; ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar,
tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”, tổng hợp hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù của Bản án số 305, ngày 27/8/2013
của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, buộc Trần Văn S phải chấp
2
hành hình phạt chung của hai Bản án là 04 (Bốn) năm tù (chấp hành xong hình phạt tù
ngày 23/12/2016- đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2019;
bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I, Công an thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Trương Bá S, sinh năm 1986;
Hộ khẩu thường trú: Xóm 2, xã Lạc S, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở hiện nay: Số 2, Ngách 39/124, HT, Phường PC, quận NTL, thành phố Hà
Nội;
Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Quang K, sinh năm 1983;
Hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã Xuân S, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An;
Nơi ở hiện nay: Thôn LX, xã KC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội;
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1994;
Hộ khẩu thường trú : thôn 5, xã Xuân S, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An;
Nơi ở hiện nay: Thôn LX, xã KC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội;
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 22/10/2019, Trần Văn S đi xe buýt từ nhà ở thôn
TB, xã NL, huyện BL, tỉnh Hà Nam đến khu vực bến xe Mỹ Đình, thành phố Hà Nội.
Sau đó S tiêp tục đi bộ từ bến xe Mỹ Đình đến khu vực Nghĩa trang MD, quận CG,
thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý. Tại đây, S gặp một người đàn ông không quen
biết (có đặc điểm: Khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1,65m, dáng người gầy, da ngăm đen)
và mua được của người đàn ông này 01 (một) gói ma tuý loại Heroine với giá 100.000
đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, S cất giấu vào túi quần bò phía
trước bên phải đang mặc rồi đi xe buýt về khu vực thôn LX, xã KC, huyện HĐ, thành
phố Hà Nội thì xuống xe để tìm nơi vắng người sử dụng ma tuý. Khi Trần Văn S đi qua
xưởng làm đá xẻ của anh Trương Bá S (Trú tại: Số 2, Ngách 39/124, HT, Phường PC,
quận NTL, thành phố Hà Nội), thấy trong xưởng không có người trông coi nên S nảy
3
sinh ý định trộm cắp tài sản. S đi vào trong xưởng thấy trên bàn ở trước cửa xưởng có
nhiều máy cắt cầm tay nên S đã lấy trộm 01 (một) chiếc máy cắt nhãn hiệu Makita rồi
đi ra ngoài thì bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang nên S đã vứt chiếc máy
cắt này xuống dưới đất cạnh chỗ S đang đứng. Sau khi lực lượng công an đến làm việc,
S sợ bị phát hiện đang tàng trữ trái phép chất ma tuý nên đã lấy gói ma tuý ở trong túi
quần bò ra cầm ở tay trái định vứt đi thì bị lực lượng công an phát hiện và thu giữ.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) máy cắt cầm tay, nhãn hiệu Makita đã qua sử dụng.
- Thu giữ trong tay trái của Trần Văn S 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa
chất bột màu trắng.
* Tại Kết luận giám định số 6767/KLGĐ-PC09 ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói
giấy bạc là ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,121 gam.
* Đối với người đàn ông S khai có đặc điểm khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1,65m,
dáng người gầy, da ngăm đen, đã bán ma tuý cho Trần Văn S vào ngày 22/10/2019 tại
khu vực cổng Nghĩa trang MD, quận CG, thành phố Hà Nội, Cơ quan điều tra đã tiến
hành xác minh, tuy nhiên không có thông tin về tên tuổi, địa chỉ cụ thể do đó không
xác định được đối tượng nào nên chưa có căn cứ để xử lý.
* Đối với hành vi Trần Văn S trộm cắp tài sản là 01 chiếc máy cắt cầm tay, nhãn
hiệu Makita của anh Trương Bá S. Ngày 05/12/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố
tụng hình sự huyện HĐ có bản kết luận định giá tài sản số 190/KL ĐGTS kết luận: Một
máy cắt cầm tay, nhãn hiệu Makita, S màu xanh, công suất 1000W, máy hoạt động
bình thường, máy đã qua sử dụng tư đầu năm 2019, có giá 430.000đ (Bốn trăm ba
mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, Trần Văn S chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm
đoạt tài sản do đó hành vi trộm cắp tài sản là chiếc máy cắt cầm tay của Trần Văn S
chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173
BLHS. Ngày 30/12/2019, Công an huyện HĐ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính đối với Trần Văn S về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo
lực gia đình.
* Ngày 17/12/2019, Công an huyện HĐ ra Quyết định xử lý vật chứng đối với
chiếc máy cắt trên bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trương Bá
S. Anh Trương Bá S đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì về dân sự.
4
* Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HĐ, bị cáo Trần Văn S đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng đã
thu giữ và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.
* Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSHĐ-HN ngày 13/01/2020 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình
sự.
* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội
giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ
luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng
tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2019.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự
2015:
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong được dán
kín của Công an thành phố Hà Nội trong có chứa chất ma túy Heroine thu giữ của
Trần Văn S.
* Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Văn S thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn,
hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt áp dụng đối với
bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công
an huyện HĐ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ,
thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
5
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Với mục đích mua ma túy để sử dụng, khoảng 15 giờ 00 phút, ngày
22/10/2019, Trần Văn S đi đến khu vực cổng Nghĩa trang MD, thuộc quận CG, thành
phố Hà Nội và gặp một người đàn ông không quen biết mua 01 (một) gói ma tuý
Heroine có khối lượng 0,121 gam với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau
khi mua được ma túy, Trần Văn S đi đến khu vực thôn LX, xã KC, huyện HĐ, thành
phố Hà Nội để tìm nơi sử dụng thì bị bị lực lượng công an huyện HĐ phát hiện, bắt
quả tang và thu giữ cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo là hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma tuý nhằm mục đích
để sử dụng, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất
ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác
hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị
cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách
nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà bị cáo Trần Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội
của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của
bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi
của bị cáo Trần Văn S cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định
tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng và Lời luận tội của
Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo
là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình
hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma
tuý là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, là
nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo lên sự bất ổn định của tình hình
trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm
trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng
ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn S không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội
đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn
6
khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về Nhân thân người phạm tội: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu:
Ngày 02/6/2009, bị Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt
hành chính vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 27/8/2013, bị Tòa án nhân
dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy”; ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar,
tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”. Ngày 30/12/2019, bị Công an huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn S về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Việc bị cáo Trần Văn S nhiều lần vi phạm pháp luật hành chính và hình sự về
chất ma túy và chiếm đoạt tài sản, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng
nghiện chất ma túy, không có ý thức chấp hành pháp luật và ý thức tự giáo dục, cải
tạo.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy
bị cáo Trần Văn S không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội
bình thường, mà cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly
bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo
trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa
chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù là có căn
cứ; Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải
chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
Bị cáo Trần Văn S không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét
xử không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại
Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[8] Bị cáo Trần Văn S đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội
đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị
cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.
[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
7
Đối với vật chứng là chất ma túy Heroine thu giữ của Trần Văn S đựng trong
phong bì niêm phong là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của
Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ;
[10] Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điều 38
của Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn S 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2019.
* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố
tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là: 01 (một) phong bì niêm phong được dán
kín của Công an thành phố Hà Nội, có ghi tên đối tượng Trần Văn S - Sinh năm 1982,
HKTT: Thôn TB, xã NL, huyện BL, tỉnh Hà Nam. Ngày niêm phong 22/10/2019. Tại
các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên
Vũ Việt Cường, cán bộ Ngô Văn Quyết và đối tượng Trần Văn S, tổng khối lượng ma
túy heroine là 0,121gam.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện HĐ,
thành phố Hà Nội theo “Biên bản giao, nhận vật chứng” ngày 16 tháng 01 năm 2020
giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện HĐ và Chi cục thi hành án dân sự
huyện HĐ).
* Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình
sự sơ thẩm.

8
* Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên
án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có
quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong
thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo; Người CQLNVLQ đến vụ án; T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- UBND xã nơi bị cáo cư trú; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện HĐ;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- Công an huyện HĐ;
- Chi cục THADS. huyện HĐ;
- TAND thành phố Hà Nội;
- Sở Tư pháp thành phố Hà Nội.
- Lưu hồ sơ VA. Nguyễn Sinh Th
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng