Bản án số 062025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 062025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 062025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 062025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 062025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Ea Kar (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
Số hiệu: | 062025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 13/02/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | chị Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với anh Triệu Đức V. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 06/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13/ 02/ 2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Long.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Hằng và bà Nguyễn Thị Tuyết .
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Hoài Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia
phiên tòa: ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 395/2025/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2024 về
việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên
tòa số 04/2025 ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn Q, xã
E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Triệu Đức V, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện E,
tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày: Chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Triệu Đức V sau
một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 07/08/2018. Trong quá trình
chung sống do cả hai bất đồng quan điểm sống, anh V không chịu khó làm ăn đồng
thời bỏ mặc không quan tâm chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên xãy
ra mâu thuẩn, mặc dù chị N đã nhiều lần góp ý nhưng anh V vẫn không chịu sửa đổi
từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm. Do không thể tiếp tục chung
sống với nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09/2019 đến nay, ai biết bổn
2
phận người đó. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân
không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị N và anh V có 01 con chung là Triệu Nguyễn Minh A, sinh
ngày 06/05/2019, hiện nay con chung đang sống cùng chị N, do đó sau khi ly hôn
chị N có nguyện vọng nuôi con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh
V cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Triệu Đức V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng vẫn vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án không ghi nhận
được ý kiến của bị đơn và cũng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N có đơn xin xét xử
vắng mặt, bị đơn anh Triệu Đức V vắng mặt lần thứ hai. Chị Nguyễn Thị Mỹ N vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị N được ly
hôn với anh V. Chị N có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng con chung Triệu
Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/05/2019 cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh
V phải cấp dưỡng tiền nuôi con đồng thời không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản
chung và nợ chung.
* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều
thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Triệu Đức V
đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không
có lý do là vi phạm các quy định tại Điều 70, 72, và Điều 227 của Bộ luật tố tụng
dân sự (BLTTDS).
Về nội dung: Do yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, nên đề nghị HĐXX chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị Nguyễn Thị Mỹ N ly hôn với
anh Triệu Đức V. Giao cho chị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục con chung là Triệu Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/05/2019 cho đến khi con
chung đủ 18 tuổi; chị N không yêu cầu cấp dưỡng nên không đề cập giải quyết; Về
tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết
về việc ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Triệu Đức V cư trú tại xã C, huyện E, tỉnh
Đắk Lắk. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
3
Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản
1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
- Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Quá trình tố tụng, bị đơn anh
Triệu Đức V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có
lý do, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ
điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Triệu Đức V và chị Nguyễn Thị Mỹ N tự nguyện
tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
07/08/2018, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị N trong cuộc sống hôn nhân vợ
chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh V không chịu
khó làm ăn, ít chăm lo cho gia đình, và cả hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng
9/2019 đến nay. Xét thấy, cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích
hôn nhân không đạt được nên chị N có nguyện vọng được ly hôn với anh V.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xác định không rõ nguyên nhân
mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N, anh V nhưng chị N và anh V không còn chung sống
với nhau nữa.
Căn cứ vào lời khai của chị N cùng các tài liệu Tòa án xác minh được có trong
hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định giữa chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Triệu Đức V
có mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi không còn
quan tâm đến nhau. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1
Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của chị Nguyễn Thị Mỹ N là có căn cứ.
- Về con chung: chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Triệu Đức V có một con chung
là Triệu Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/05/2019. Xét yêu cầu về việc nuôi con sau
khi ly hôn của chị N, HĐXX thấy rằng: Từ khi chị N và anh V sống ly thân thì con
chung đang được chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét điều kiện thực tế thấy
rằng: hiện nay anh V đang làm nghề lái xe đường dài, vì vậy không đảm bảo thời
gian để chăm sóc con chung; chị N hiện đang quản lý cơ sở mầm non tại Bình
Dương, có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Mặt khác trong quá trình Tòa giải quyết vụ án, anh V không hợp tác, đã nhiều lần
được Tòa án triệu tập nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý
kiến của mình về việc anh có đồng ý ly hôn theo đơn của chị N hay không, cũng
không thể hiện ý kiến gì về việc nuôi con. Như vậy là anh V đã tự từ bỏ quyền và
nghĩa vụ của mình, không muốn hòa giải đoàn tụ. Nên HĐXX xét giao cháu Triệu
Nguyễn Minh A cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi ly hôn nhằm đảm
4
bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do chị N không yêu cầu anh V cấp dưỡng
nuôi con sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết. Anh V có quyền, nghĩa vụ
thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu 300.000đồng tiền
án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của
pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147,
điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều
84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với anh Triệu
Đức V.
2. Về con chung: Giao con chung là Triệu Nguyễn Minh A, sinh ngày
06/05/2019 cho chị Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập
giải quyết.
Anh Triệu Đức V được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản
trở. Tuy nhiên, anh V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc tranh nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con
chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi
con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không
xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn
sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng mà chị N đã nộp tạm ứng án phí,
theo biên lai thu tiền số AA/2023/0000700 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện EaKar.
5
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy
định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nơi nhận:
-TAND tỉnh ĐắkLắk;
-VKSND huyện EaKar;
-THADS huyện EaKar;
- UBND xã E, huyện Ea Kar;
-Đương sự;
-Lưu HS.
(Đã ký)
Hoàng Long
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm