Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 21/05/2025 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 06/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 21/05/2025 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Buôn Đôn (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 06/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/05/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Để thực hiện dự án công trình nhà máy thủy điện S thuộc địa bàn xã E, huyện B; Tại Quyết định số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BUÔN ĐÔN Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc
TỈNH ĐẮKLẮK
Bản án số: 06/2025/DSST
Ngày 21/5/2025.
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vinh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Y Đưng Knul;
2. Ông Nguyễn Đình Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Buôn Đôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông
Phan Như Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn mở
phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2024/TLST-DS ngày
06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Thủy Điện B
Trú tại: Tầng 07, Khách Sạn B, số 01, phường Th, TP. B, tỉnh Đắk Lắk.
+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Hải Qu – Chức vụ: Giám đốc
công ty.
+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lưu Hải H – Luật sư,
thuộc công ty Luật TNHH L.
Trú tại: Số 383/63/27 Nguyễn Văn C, phường T, TP. B, tỉnh Đắk Lắk (có
mặt).
- Bị đơn: Bà Đặng Thị X, sinh năm 1967 và ông Vũ Văn T, sinh năm 1962.
Trú tại: Thôn E, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Trường Ng, sinh năm
1995 và chị Vũ Thị Hải Y, sinh năm 1991.
Trú tại: Thôn E, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy
quyền của Nguyên đơn; ông Lưu Hải H trình bày:
2
Công ty cổ phần thuỷ điện B được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án
thuỷ điện, quá trình thực hiện dự án có thu hồi đền bù đất của các hộ dân tại xã E,
huyện B (trong đó có đất của gia đình bà X, ông T). Năm 2023, công ty đã phối hợp
với các cơ quan chức năng cắm mốc ranh giới ngoài thực địa giữa đất của công ty
với đất của vợ chồng ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X. Tuy nhiên, đến ngày 10/7/2024
gia đình bà X tự ý phá dỡ mốc giới san ủi, xây dựng công trình lấn sang đất của
công ty. Công ty đã yêu cầu gia đình bà X, ông T chấm dứt hành vi lấn chiếm, tháo
dỡ công trình trả lại đất cho công ty nhưng gia đình bà X không đồng ý. Đây là đoạn
bờ kênh đất đắp rất xung yếu nên việc hộ gia đình bà X tự ý san lấp đất, dựng công
trình trong phạm vi bờ kênh không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ nguy hiểm, ảnh hưởng đến công tác quản lý vận hành Nhà máy thuỷ
điện S.
Công ty đã có đơn đề nghị UBND xã E hoà giải nhưng vợ chồng bà X không
chấp nhận và tiếp tục lấn chiếm đất của công ty.
Hiện phần diện tích đất của công ty bị gia đình bà X lấn chiếm và san ủi là
368,4 m
2
(chiều dài 122,8m, chiều rộng 3m), trong đó:
- Đã dựng phần khung nhà lấn chiếm diện tích của Công ty là 3x2,5 m
2
;
- Đã thực hiện san ủi đối với phần diện tích còn lại.
Phần đất lấn chiếm và san ủi thuộc diện tích đất của Công ty CP thuỷ điện B
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 106951 ngày 10/02/2022, trích lục
bản đồ địa chính số 5086/TL-VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 24/5/2021 (thửa đất số 16;
128; 1; 2; 1, tờ bản đồ địa chính số 45, 59, 72, 73) do Văn phòng đăng ký đất đai
tỉnh Đăk Lăk cấp. Giá trị phần đất lấn chiếm khoảng 20 triệu đồng. Công ty cổ phần
thuỷ điện B khởi kiện hộ gia đình bà Đặng Thị X, ông Vũ Văn T, đề nghị Toà án
nhân dân huyện Buôn Đôn tuyên buộc vợ chồng bà X phải trả lại cho công ty toàn
bộ phần diện tích đất lấn chiếm và chấm dứt toàn bộ hành vi lấn chiếm đất của công
ty cổ phần thuỷ điện B.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến
hành xem xét thẩm định tại chỗ, qua kết quả đo đạc, xác định tổng diện tích đất vợ
chồng bà X, ông T hiện lấn chiếm của công ty là 982,3 m
2
(trong đó, chiều dài mặt
đường là 51,43+78,07 m; chiều rộng là 7,55 và 7,78 m (Theo bản vẽ hiện trạng vị
trí thửa đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B). Giá trị phần đất lấn
chiếm tạm tính khoảng 40 triệu đồng.
Bị đơn bà X, ông T đề nghị cắm mốc lại cạnh phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 1 tính
từ mốc Công ty Thủy Điện cắm đo lên thêm 2,40m nữa cho đủ 20,09m và cạnh phía
Nam đo từ mốc công ty cắm đo thêm 1,69m nữa cho đủ 30,55m theo Trích lục bản
đồ địa chính số 148/LC-CNBĐ – KTĐC ngày 18/01/2024. Do đó ngày 11/4/2025
Công ty đề nghị xác định lại tọa độ vị trí mốc số 8 và số 9 theo trích lục đo đạc.
Ngày 17/4/2025 Tòa án cùng các đương sự xuống triểm tra thực địa thì mốc giới
theo biên bản xem xét thẩm định ngày 11/02/2025 do ông T, bà X chỉ chưa hết
chiều dài thửa đất. Vì vậy, nếu đo hết chiều dài của thửa đất tại tọa độ vị trí mốc số
3
8 thì đủ 30,55m; theo Trích lục bản đồ địa chính số 148/LC-CNBĐ – KTĐC ngày
18/01/2024.
Vì vậy, Công ty Cổ phần Thuỷ điện B lập đơn này để sửa đổi, bổ sung yêu
cầu khởi kiện của công ty. Đề nghị Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn tuyên buộc vợ
chồng bà X, T phải trả lại cho Công ty toàn bộ phần diện tích đất lấn chiếm và san
ủi là 982,3 m
2
, đồng thời buộc vợ chồng bà X, ông T tháo dở phần căn nhà tạm xây
dựng trên phần đất của Công ty và chấm dứt toàn bộ hành vi lấn chiếm đất của Công
ty Cổ phần Thuỷ điện B.
- Bị đơn bà Đặng Thị X, ông Vũ Văn T thống nhất trình bày:
Nguồn gốc đất mà Công ty Cổ phần Thuỷ điện B đang tranh chấp với gia
đình tôi đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất cho gia đình tôi, tại thửa
đất số 135, tờ bản đồ số 03, diện tích 4860m
2
(trong đó có 400m
2
đất ở, còn lại là
đất trồng cây lâu năm). Địa chỉ đất: Thôn 01, xã E, huyện B. Đến năm 2010 nhà
nước thu hồi 3425m
2
đất cho Công ty Cổ phần Thuỷ điện B thuê là kênh thủy điện
và đã bồi thường đất cho gia đình tôi. Diện tích đất còn lại Phòng tài nguyên đã đo
đạc và được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp lại giấy chứng nhận
QSD đất cho gia đình tôi, tại thửa đất số 462, tờ bản đồ số 03, diện tích 1435m
2
. Địa
chỉ đất: Thôn 01, xã E, huyện B.
Ngày 20/7/2023 gia đình tôi có lên phòng tiếp dân huyện B đề nghị các cơ
quan có thẩm quyền xuống đo đạc, xác nhận ranh giới, cắm mốc giữa hai thửa đất
gia đình nhà tôi và Công ty Cổ phần Thuỷ điện B, thì đến ngày 24/7/2023 gia đình
tôi nhận được giấy thông báo của UBND xã E và Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện B. Đến ngày 28/7/2023 đến địa điểm UBND xã E và sau đó đến thửa đất của
gia đình tôi tiến hành đo đạc thực địa, có tất cả các ban ngành đều có mặt, đến 09
giờ bên Công ty Cổ phần Thuỷ điện B không có mặt, các thành viên có mặt tiếp tục
làm việc đo đạc, cắm mốc, gia đình tôi có xin biên bản nhưng không được. Ngày
12/10/2023 bên Công ty Cổ phần Thuỷ điện B tự cắm mốc, không thông qua gia
đình tôi, đến khoảng 11 giờ trưa bên Công ty Cổ phần Thuỷ điện B có gọi điện cho
tôi xuống xác định mốc và ký biên bản, gia đình tôi có đến nhưng không đồng ý ký
biên bản, vì bên Công ty Cổ phần Thuỷ điện B cắm mốc xuống phần đất của gia
đình tôi nên tôi không ký. Đến ngày 12/8/2024 gia đình tôi có nhận được giấy mời
của UBND xã E về việc tranh chấp đất và hòa giải, gia đình tôi chỉ yêu cầu trả đủ
đất cho gia đình tôi như diện tích đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2021.
Nay Công ty Cổ phần Thuỷ điện B khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện
Buôn Đôn giải quyết buộc gia đình bà X, ông T phải trả lại cho Công ty toàn bộ
phần diện tích đất lấn chiếm và san ủi là 982,3 m
2
, đồng thời buộc vợ chồng bà X,
ông T tháo dở phần căn nhà tạm xây dựng trên phần đất của Công ty và chấm dứt
toàn bộ hành vi lấn chiếm đất của Công ty Cổ phần Thuỷ điện B, thì gia đình tôi
không đồng ý. Vì theo giấy chứng nhận QSD đất cấp cho gia đình tôi ngày
06/8/2021 thì cạnh phía Nam có chiều rộng là 35,74m, nhưng sau đó Chi nhánh Văn
4
phòng đăng ký đất đai huyện B thực hiện việc đo đạc tại Trích lục bản đồ địa chính
số 148/LC-CNBĐ – KTĐC ngày 18/01/2024 thì cạnh phía Nam là 30,55m. Tại biên
bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/02/2025 của Tòa án huyện Buôn Đôn kết
hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B thực hiện việc đo đạc thì
cạnh phía Nam có chiều rộng 28,68m. Vì vậy, gia đình bà X, ông T đề nghị cắm
mốc lại cạnh phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 1 tích từ mốc Công ty Thủy Điện cắm đo
lên thêm 2,40m nữa cho đủ 20,09m. Cạnh phía Nam cuối lô đất tính từ mốc Công ty
Thủy Điện cắm đo thêm 1,69m nữa cho đủ 30,55m theo Trích lục bản đồ địa chính
số 148/LC-CNBĐ – KTĐC ngày 18/01/2024. Sau đó kéo dây thẳng với mốc giới
phía trước do Công ty thủy điện cắm giáp với đường tỉnh lộ 1, thì căn nhà tạm của
gia đình tôi làm nếu lấn trên đất của Công ty bao nhiêu thì gia đình tôi có nghĩa vụ
tháo dở. Gia đình tôi đề nghị Công ty Thủy Điện cung cấp biên bản ký giáp ranh khi
Công ty làm giấy chứng nhận QSD đất.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Trường Ng và chị Vũ
Thị Hải Y đều thống nhất với ý kiến và quan điểm của bố mẹ là ông Vũ Văn T, bà
Đặng Thị X.
- Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản đang tranh chấp ngày
11/02/2025, có vị trí, tứ cận như sau: Cạnh phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 1, tại vị trí
mốc giới đất do gia đình bà X, ông T chỉ xác định là (01a) đo đến vị trí mốc giới do
bên Công ty Cổ phần Thuỷ điện B chỉ xác định là (01) có chiều rộng là 7,55m. Canh
phía Nam đo từ vị trí, mốc giới do gia đình ông T, bà X chỉ xác định là (03a) đến vị
trí, mốc giới do Công ty Cổ phần Thuỷ điện B chỉ xác định là (03) là 7,78m; chiều
dài là 129,5m = 982,3m
2
.
Tại vị trí mốc giới xác định là (01) giáp với đường tỉnh lộ 1 do Công ty Cổ
phần Thuỷ điện B chỉ đo đến mép suối theo giấy chứng nhận QSD đất của bà X, ông
T là 17,60m; cạnh phía Nam đo từ vị trí, mốc giới do Công ty Cổ phần Thuỷ điện B
chỉ xác định là (03) đo đến mép suối theo giấy chứng nhận QSD đất của bà X, ông T
là 28,68m = 1.479,2m
2
.
Sau khi Công ty thủy điện có đơn đề nghị kiểm tra lại tọa độ vị trí, mốc giới
số 8 và số 9 trên trích lục bản đồ địa chính, thì ngày 17/4/2025 Tòa án cùng các
đương sự kiểm tra lại cạnh phía Nam ngay vị trí, mốc giới cọc sắc do ông T, bà X
đóng và cọc sắc do Công ty Cổ phần Thuỷ điện B đóng là chưa hết chiều dài của
thửa đất của bà X, ông T nên đo đến mép suối là 28,68m; nhưng đo hết chiều dài
của thửa đất tại tọa độ vị trí mốc số 8 thửa đất của bà X, ông T từ ranh giới đất của
Công ty thủy điện đến mép suối là 30,55m. Khớp với Trích lục bản đồ địa chính số
148/LC-CNBĐ – KTĐC ngày 18/01/2024.
Trên phần đất tranh chấp giữa Công ty Cổ phần Thuỷ điện B với gia đình bà
X, ông T, thì gia đình bà X, ông T có dựng 01 nhà tạm khung sắc, thưng và lợp tôn,
chồng lấn lên ranh giới đất tranh chấp 3m x 2,5m = 7,5m
2
.
Tại biên bản định giá tài sản ngày 02/4/2025 của Hội đồng định giá trong tố
tụng dân sự huyện B kết luận. Tổng giá trị đất là 54.026.500 đồng.
5
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án thụ lý số 102/2024/DSST ngày 06/12/2024 của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi
thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng; Giao
thông báo thụ lý vụ án, giao thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thu thập chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án.
Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt hợp lệ quyết định xét xử và tại phiên tòa
hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy
định về trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ
thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn
tuân thủ đúng quy định của pháp luật; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
chưa chấp hành đúng quy định pháp luật. Trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quan
điểm giải quyết vụ án.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 97, khoản 1 Điều 147, các điều
157, 165, 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 164, Điều 175, 176, 197 và Điều 199 Bộ luật dân sự;
Điều 12, Điều 166, Điều 167, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Thủy Điện B;
Buộc gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X trả lại cho Công ty Cổ phần
Thủy Điện B diện tích đất lấn chiếm là 982,3m
2
(cạnh phía Bắc là 7,55m; cạnh phía
Nam là 7,78m; cạnh phía Đông chiều dài là 129,5m). Địa chỉ thửa đất: Thôn 01, xã
E, huyện B.
Buộc gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X tháo dở nhà tạm khung sắc,
thưng và lợp tôn, chồng lấn lên ranh giới đất tranh chấp là 3m x 2,5m = 7,5m
2
; đồng
thời buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; bị đơn
thuộc hộ cận nghèo nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến, quan điểm của mình như đã nêu trên và
không có ý kiến tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào
kết quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu
đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của các đương sự, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Công ty Cổ phần Thủy Điện B khởi kiện ông Vũ Văn T, bà
Đặng Thị X về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nên thuộc thẩm quyền giải
6
quyết của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn được quy định tại khoản 9 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nguồn gốc đất tranh chấp như sau:
[2.1] Đất của gia đình ông Vũ Văn T: Ngày 30/7/2002 gia đình ông Vũ Văn
T, bà Đặng Thị X được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận QSD đất số
R 599033, tại thửa đất số 135, tờ bản đồ số 03, diện tích 4860m
2
, trong đó 400m
2
đất ở, 4460m
2
đất trồng cây lâu năm cho hộ ông Vũ Văn T. Địa chỉ thửa đất: Thôn
01, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
[2.2] Để thực hiện dự án công trình nhà máy thủy điện S thuộc địa bàn xã E,
huyện B; Tại Quyết định số: 2229/QĐ-UBND ngày 28/9/2010 của UBND huyện B
quyết định thu hồi 3.425m
2
đất của hộ gia đình ông Vũ Văn T tại thôn 01, xã E,
huyện B. Theo đó ngày 03/11/2010, tại UBND xã E, Hội đồng BTHT-GPMB huyện
B, cùng Công ty Cổ phần Thủy Điện B và gia đình ông T, bà X lập biên bản chi trả
tiền bồi thường, hỗ trợ và Công ty Cổ phần Thủy Điện B đã chi trả cho gia đình ông
Vũ Văn T, bà Đặng Thị X tổng số tiền 403.167.882 đồng và ông T, bà X đã nhận đủ
tiền.
[2.3] Xét thấy ngày 16/7/2017, Ủy ban nhân dân huyện B cấp lại giấy chứng
nhận QSD đất số CD 496351, tại thửa đất số 176, tờ bản đồ số 03, diện tích 1435m
2
,
đất trồng cây lâu năm cho hộ ông Vũ Văn T. Địa chỉ thửa đất: Thôn 01, xã E, huyện
B, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 06/8/2021 gia đình ông T làm thủ tục cấp đổi giấy chứng
nhận QSD đất và được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp đổi giấy
chứng nhận QSD đất số DA 460950, tại thửa đất số 462, tờ bản đồ số 03, diện tích
1435m
2
, đất trồng cây lâu năm cho hộ ông Vũ Văn T. Địa chỉ thửa đất: Thôn 01, xã
E, huyện B.
Nhận thấy tại phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày
16/5/2023 do ông Vũ Văn T chỉ dẫn và tại Trích lục bản đồ địa chính số 148/TL-
CNBĐ-KTĐC ngày 18/01/2024 do chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B
xác nhận thì cạnh phía Bắc tại vị trí 1- 2 là 20,09m; cạnh phía Nam tại vị trí 8-9 là
30,55m; cạnh phía Đông từ vị trí 2-8 dài 137,09m; diện tích là 1.559m
2
.
[3] Đất của Công ty Cổ phần Thủy Điện B: Quá trình thực hiện dự án công
trình nhà máy thủy điện S thuộc địa bàn xã E, huyện B. UBND huyện B đã ra Quyết
định thu hồi đất của các hộ dân nằm trong dự án công trình nhà máy thủy điện S,
trong đó có hộ gia đình ông Vũ Văn T và Công ty Cổ phần Thủy Điện B đã bồi
thường xong tiền cho các hộ dân nằm trong dự án. Ngày 10/02/2022 Ủy nhân dân
tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận QSD đất số DB 106951 cho Công ty Cổ phần
Thủy Điện B (trong đó có đất của gia đình ông T đang tranh chấp).
[3.1] Xét thấy tại Trích lục bản đồ địa chính số 240/TL-VPĐKQSDĐ ngày
24/11/2010 của Văn phòng đăng ký QSD đất có thể hiện Tọa độ các mốc giới đất
nằm trong công trình nhà máy thủy điện S thuộc địa bàn xã E.
7
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty Cổ phần Thủy Điện B
khởi kiện yêu cầu gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X trả lại tổng diện tích đất
lấn chiếm là 982,3m
2
và tháo dở căn nhà tạm xây dựng trên phần đất lấn chiếm.
Công ty căn cứ vào tọa độ, vị trí, mốc giới đất đã được bàn giao tại Trích lục bản đồ
địa chính số 240/TL-VPĐKQSDĐ ngày 24/11/2010 của Văn phòng đăng ký QSD
đất thực hiện và Giấy chứng nhận QSD đất số DB 106951 cấp ngày 10/02/2022 cho
Công ty Cổ phần Thủy Điện B, thì hộ gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X trong
quá trình sử dụng đã đóng các cọc sắc lên phần đất của công ty và lấn chiếm diện
tích 982,3m
2
; có các cạnh như sau: Cạnh phía Bắc là 7,55m; cạnh phía Nam là
7,78m; cạnh phía Đông là 129,5m theo kết qua đo đạc hiện trạng ngày 11/02/2025.
[4.1] Xét thấy diện tích đất của gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X sau
khi UBND huyện B ra Quyết định thu hồi 3.425m
2
đất, trong diện tích 4860m
2
, sau
khi đã thu hồi thì UBND huyện B cấp lại giấy chứng nhận QSD đất số CD 496351
ngày 16/7/2017, tại thửa đất số 176, tờ bản đồ số 03, diện tích 1435m
2
, đất trồng cây
lâu năm cho hộ ông Vũ Văn T. Địa chỉ thửa đất: Thôn 01, xã E, huyện B, tỉnh Đắk
Lắk.
Trích lục bản đồ địa chính số 148/TL-CNBĐ-KTĐC ngày 18/01/2024 do chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B xác nhận thì cạnh phía Bắc tại vị trí 1- 2
là 20,09m; cạnh phía Nam tại vị trí 8-9 là 30,55m; cạnh phía Đông từ vị trí 2-8 dài
137,09m; diện tích là 1.559m
2
.
[5] Qua xem xét thẩm định tại chỗ, thì nhận thấy diện tích đất của Công ty Cổ
phần Thủy Điện B đang quản lý, sử dụng có các cọc sắc đóng theo tọa độ, vị trí,
mốc giới đã được bàn giao năm 2010.
Tại vị trí, mốc giới và các cọc sắc do gia đình ông T, bà X đóng trên bờ
mương nước của Công ty Cổ phần Thủy Điện B.
[5.1] Kết quả đo đạc: Cạnh phía Bắc đo từ mép bờ suối Đắk Huar đến cọc sắc
do Công ty đóng là 17,60m và đo đến cọc sắc do gia đình ông T đóng là 7,55m;
Cạnh phía Nam đo từ mép bờ suối Đắk Huar đến cọc sắc do Công ty đóng là
28,86m và đo đến cọc sắc do gia đình ông T đóng là 7,78m; Cạnh phía Đông có
chiều dài 129,50m và cạnh phía Tây dài 148,18m; tổng diện tích (2.461,5m
2
–
982,3m
2
) = 1479,2m
2
.
[5.2] Đối chiếu với Giấy chứng nhận QSD đất số DA 460950 cấp ngày
06/8/2021, tại thửa đất số 462, tờ bản đồ số 03, diện tích 1435m
2
; phiếu xác nhận
kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 16/5/2023 do ông Vũ Văn T chỉ dẫn và
Trích lục bản đồ địa chính số 148/TL-CNBĐ-KTĐC ngày 18/01/2024 do chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, thì tại các vị trí cọc sắc do Công ty Thủy Điện
đóng giáp ranh với đất của gia đình ông T, bà X phù hợp với vị trí, mốc giới, tọa độ
được bàn giao và giấy chứng nhận QSD đất cấp cho công ty Thủy Điện.
[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy từ
năm 2010 giữa Công ty Cổ phần Thủy Điện B và gia đình ông T, bà X đã cắm mốc
theo tọa độ xác định ranh giới đất giữa các bên. Trong quá trình sử dụng gia đình
8
ông T, bà X tự ý cắm mốc lấn lên phần đất của công ty, diện tích đất hiện nay gia
đình ông T, bà X đang quản lý, sử dụng sau khi đã trừ 982,3m
2
lấn chiếm của công
ty thì vẫn còn 1.479,2m
2
đất.
Vì vậy, Hồi đồng xét xử cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty
Cổ phần Thủy Điện B, buộc gia đình ông T, bà X trả lại cho công ty 982,3m
2
đã lấn
chiếm và gia đình ông T, bà X có trách nhiệm tháo dở một phần căn nhà tạm xây
dựng trên phần đất lấn chiếm là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Xét thấy
Công ty Cổ phần Thủy Điện B đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 4.000.000 đồng và
đã chi phí hết. Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên
căn cứ các điều 157, 165 của Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bi đơn phải chịu toàn bộ
chi phí tố tụng và có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn theo quy định.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét thấy hộ gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng
Thị X thuộc hộ nghèo có xác nhận của UBND xã E và xin miễn án phí nên Hội
đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Tâm, bà Xoài.
V cc l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 91, Điều 97, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, 165, 166 và Điều 189
của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 164, Điều 175, 176, 197 và Điều 199 Bộ luật dân sự;
Điều 12, Điều 22, Điều 166, Điều 167, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai
năm 2013;
Điểm đ khoản 1 Điền 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ
phần Thủy Điện B;
Buộc bị đơn gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X trả lại cho Công ty Cổ
phần Thủy Điện B diện tích đất đã lấn chiếm 982,3m
2
(cạnh phía Bắc là 7,55m;
cạnh phía Nam là 7,78m; cạnh phía Đông chiều dài là 129,5m). Địa chỉ thửa đất:
Thôn 01, xã E, huyện B.
Buộc gia đình ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X tháo dở nhà tạm khung sắc,
thưng và lợp tôn, chồng lấn lên ranh giới đất tranh chấp là 3m x 2,5m = 7,5m
2
.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Ông Vũ
Văn T, bà Đặng Thị X có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần Thủy Điện B
4.000.000 đồng chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự: Ông Vũ Văn T, bà Đặng Thị X được miễn toàn bộ án phí
dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

9
Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần Thủy Điện B 500.000 đồng (năm trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên
lai thu số 0014533 ngày 06/12/2024.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự th người được thi hành n, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại cc Điều 6, Điều 7, Điều 7a và
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện Buôn Đôn;
- Chi cục THADS huyện B;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(Đã ký)
Nguyễn Vinh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm