Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tứ Kỳ (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 06/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/03/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án HNGĐ giữa chị Vũ Thị A - anh Bùi Trọng V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TNH HI DƯƠNG
Bn án số: 06/2024/HNGĐ - ST
Ngày 29/3/2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯC CNG A XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYN T K, TNH HI DƢƠNG
- Thành phn Hi đng xét x sơ thm gm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Hoan và ông Nguyễn Thanh Hải
-Thư ký phiên tòa: Bà Đ Th Anh Thm tra viên Tòa án nhân dân huyn T K.
Đi din Vin kim sát nhân dân huyn T K - tnh Hi Dương tham gia phiên
tòa: Bà Nguyn Th Khánh - Kim sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2024/TLST - HNGĐ ngày
19 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ
án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024; giữa các
đƣơng sự:
Nguyên đơn: Chị Thị A, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ Â,
Văn T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nơi cƣ trú: Thôn Quảng X, Chí M, huyện
Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng
Bị đơn: Anh Bùi Trọng V, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ Â,
Văn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Hiện đang chấp hành án tại
Trại giam Quảng Ninh; Địa chỉ: Hồng Thái Đông, huyện Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh.
(Ch An, anh đu đ ngh xét x vng mt)
NI DUNG V ÁN
Theo đơn khởi kiện bản tự khai cùng các tài liệu khác trong hồ sơ,
nguyên đơn chị Thị A trình bày: Chị anh Bùi Trọng V kết hôn hoàn toàn tự
nguyện, đƣợc UBND Văn Tố cấp giấy chứng nhận đăng kết hôn vào ngày
26/10/2011, sau ngày cƣới cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến năm 2012 thì
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thƣờng
xuyên xẩy ra cãi nhau, không tôn trọng nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau.
2
Năm 2013 chị đã về nhà bố mđẻ sinh sống, anh đi đâu làm chị không biết,
anh không quan tâm tới chị con, anh chị sống ly thân. Tháng 6/2022 anh vi
phạm pháp luật, hiện anh đang chấp hành án tại Trại giam Quảng Ninh, chị cũng
không lên thăm gặp. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn
nhân không đạt đƣợc nên chị làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh .
Về con chung: Chị anh một con chung Bùi Quang V, sinh ngày
07/02/2012. Hiện nay con chung đang ở với chị. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị đƣợc
nuôi con và không yêu cầu anh phải cấp dƣỡng cho con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai bị đơn Bùi Trọng V trình bày: Anh và chị Vũ Thị A
kết n với nhau tự nguyện, đƣợc UBND Văn Tố cấp giấy chứng nhận đăng
ký kết hôn. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đƣợc 02 năm, do
kinh tế gia đình khó khăn anh đi làm xa, chị An đã đƣa con về nhà bố mđẻ sinh
sống và tự ý đi nƣớc ngoài không nói gì với anh. Khi biết chuyện anh có nói nhƣng
chị An coi thƣờng lời nói của anh, kể từ đó anh chị không liên lạc gì với nhau nữa,
anh chị đã sống ly thân 10 năm nay. Năm 2022 anh vi phạm pháp luật bị Tòa án
nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 30 tháng tù, hiện nay anh đang chấp hành án
tại Trại giam Quảng Ninh, từ khi anh đi chấp hành án đến nay chị An cũng chƣa
lần nào đến thăm gặp, hỏi thăm sức khỏe anh khi chị An làm đơn xin ly hôn
mới đến để thông báo cho anh biết. Nay chị An đơn xin ly hôn anh không nhất
trí, anh xác định vợ chồng hàn gắn đƣợc hay không do chị, chị cho anh
hội, anh kết hôn với chị lần 2 nên anh mong muốn vchồng đoàn tụ để nuôi
con.
Về con chung: Anh và chị An có một con chung là Bùi Quang V, sinh ngày
07/02/2012. Hiện nay cháu đang với chị An. Nếu chị An kiên quyết xin ly hôn,
cháu Vinh ở với ai là quyền của cháu, anh không có ý kiến .
Tại biên bản lấy lời khai Nguyễn Thị Huần trình bày: mẹ đẻ của
anh , sau khi anh Vĩ, chị An kết hôn với nhau, anh chị sống cùng nhà với
nhƣng ăn riêng. Cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đƣợc 02 năm thì chị An đã
cho con về ngoại sinh sống còn anh Vĩ đi làm nay đây mai đó, vợ chồng có liên lạc
với nhau hay không không biết, anh chị đã không sống cùng nhau 10 năm nay.
Năm 2022 anh vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại Trại giam
Quảng Ninh, chị An không quan tâm đến chồng và gia đình nhà chồng. Nay chị
An đơn xin ly hôn anh , việc ly n của anh chị không can thiệp, đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương xác định: Anh chị An kết hôn với nhau trên sở tự nguyện, đƣợc
3
UBND xã Văn Tố cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 26/10/2011. Sau
khi kết n anh chị sinh sống tại địa phƣơng đƣợc thời gian ngắn, chị đã cho con
về q mẹ đẻ sinh sống, anh Vĩ đi làm ăn đâu, địa phƣơng không nắm đƣợc, anh
chị không sinh hoạt hội đoàn thnào địa phƣơng nên mâu thuẫn vợ chồng anh
chị địa phƣơng không can thiệp, hòa giải . Năm 2022 anh vi phạm pháp luật,
hiện đang chấp hành án tại trại giam Quảng Ninh. Theo quan điểm của địa phƣơng
nếu chị An kiên quyết xin ly hôn anh , đề nghị Toà án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị An, anh đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan
điểm nhƣ đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải ơng phát biểu
quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét x(HĐXX), Thƣ phiên tòa nguyên
đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị
HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1
Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết 326 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về
quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thị A, đề nghị xử cho chị
Vũ Thị A ly hôn anh Bùi Trọng V; Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị A trực tiếp
trông nom, chăm c, nuôi dƣỡng, giáo dục con Bùi Quang V, sinh ngày
07/02/2012 đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị An không yêu
cầu anh phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Về án phí: Chị An phải
chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
thẩm tra công khai tại phiên t, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Thị A khởi kiện ly hôn anh Bùi Trọng V; nơi t
trƣớc khi đi chấp hành án tại xã văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Căn cứ vào
khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố
tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết do anh đang chấp hành án tại Trạm giam n
không thể đến Tòa án làm việc đƣợc, anh đã lời khai trình bày quan điểm và
xin vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên tòa chị An, anh
đều đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật ttụng dân sự.
Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị A anh Bùi Trọng V kết hôn trên
sở tự nguyện, đăng kết hôn tại UBND Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dƣơng ngày 26/10/2011. Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị An anh hôn
4
nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị An, anh , Huần biên bản xác minh tại
địa phƣơng, HĐXX xác định trong cuộc sống anh ch đã mâu thuẫn, thời
gian dài sống ly thân. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ
chồng không tôn trọng nhau, không quan tâm đến nhau. Do vợ chồng mâu thuẫn
nên anh chị không liên lạc với nhau, thời gian anh đi chấp hành án trại
giam chị An cũng không đến thăm anh anh chị cũng không biện pháp để
cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy
thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị An anh đã mâu thuẫn trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc.Vì vậy, căn cứ
các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, xử cho chị An ly hôn anh Vĩ phù
hợp.
[3] Về con chung: Chị An anh một con chung i Trọng Vinh,
sinh ngày 07/02/2012. Khi ly hôn chị An đề nghị Tòa án giao con Bùi Trọng Vinh
cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng chị tự nguyện không yêu cầu anh
phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Anh quan điểm đề nghị Tòa án
giải quyết theo nguyện vọng của con. t thấy: Cháu Vinh đang ổn định với chị
An, nguyện vọng của cháu đƣợc với chị hiện tại anh đang đi chấp hành án
không có nhà. Do vậy, HĐXX cần giao con chung Bùi Trọng Vinh cho chị An tiếp
tục chăm sóc, nuôi dƣỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị An không yêu cầu anh
phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con là phù hợp quy định tại Điều 81, 82,
83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về tài sản chung: Chị An, anh Vĩ không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: Chị An khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều: 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình;
khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5
Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị A ly hôn anh Bùi Trọng V.
2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dƣỡng, giáo dục con chung Bùi Quang V, sinh ngày 07/02/2012 cho đến khi con
đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị An, không yêu cầu anh phải thực
hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con.
Anh Bùi Trọng V quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc
cản trở.
5
3. Về án phí: Chị Vũ Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn
nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền chị đã nộp là 300.000
đồng theo biên lai s
0004802 ngày 19/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dƣơng. Chị An đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc
niêm yết./.
Nơi nhn:
- VKSND huyn T K;
- Các đƣơng s;
- UBND xã Văn T, huyn T Kỳ, Hi Dƣơng;
- Chi cc THADS huyn T K;
- Lƣu h sơ v án, VP;
TM. HI ĐNG XÉT X SƠ THM
THM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA
Đàm Nn Trác
Tải về
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất