Bản án số 06/2023/KDTM-PT ngày 06-04-2023 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2023/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 06/2023/KDTM-PT ngày 06-04-2023 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 06/2023/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/04/2023
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn S và Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Ngọc Phỉ.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu;
Ông Lưu Hữu Giàu.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thơ Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2023/TLPT-KDTM ngày 07 tháng 3
năm 2023 về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 05/2022/KDTM-ST ngày
09 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2023/QĐ-PT ngày
07 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn S; trụ sở: Số 55 đường T,
khóm 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thanh T, Giám đốc của
Công ty Trách nhiệm Hữu hạn S (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1954; nơi
trú: Khóm T, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền
ngày 25/02/2022) (có mặt).
- Bị đơn: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N; trụ sở: Đường C, quận Đ,
Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bùi Thị Thanh X, Phó Tổng Giám
đốc của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N (vắng mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 06/2023/KDTM-PT
Ngày 06-4-2023
V/v tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số: 790/UQ-VBI10
ngày 03/4/2023):
1. Nguyễn Thị Minh T, cán bộ Ban pháp chế của Tổng Công ty Cổ
phần Bảo hiểm N (có mặt).
2. Ông Nguyễn ng Th, cán bộ Phòng Tài sản kỹ thuật của Tổng
Công ty Cổ phần Bảo hiểm N (có mặt).
- Người kháng cáo:
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N bị đơn trong vụ
án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện
hợp pháp của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn S (sau đây gọi tắt
Công ty S) trình bày:
Công ty S và Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N (sau đây viết tắtTổng
Công ty Bảo hiểm) cóHợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số:
088.KD01.HD.TS12.21.000346 ngày 25/3/2021 (sau đây gọi tắt Hợp đồng số
088). Theo Hợp đồng số 088, Công ty S mua bảo hiểm tài sản theo danh mục
bảo hiểm, trong đó Máy biến áp 3 pha hiệu THIBIDI, số máy 113120011,
công suất 1250 KVA, điện áp 22/0,4 KV (sau đây gọi tắt Máy biến áp); phạm
vi bảo hiểm: Bồi thường những thiệt hại vật chất bất ngờ, ngẫu nhiên, không
lường trước được đối với tài sản của Công ty S; điều kiện bảo hiểm, trong đó có
sự cố do hỏa hoạn, sét đánh, nổ; thời hạn hợp đồng: Ktừ 17:00 ngày 25/3/2021
đến 17:00 ngày 25/3/2022.
Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 16/8/2021, xảy ra sự cố sét đánh trúng
Máy biến áp của Công ty S, hậu quả Máy biến áp của Công ty S bị hỏng (có
lập Biên bản giám định hiện trường ngày 20/8/2021 và ngày 22/10/2021).
Ngày 28/10/2021, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên H (sau
đây gọi tắt là Công ty H) lập dự toán sửa chữa, với chi phí là 181.804.428đ, thuế
GTGT là 18.180.443đ, tổng cộng chi phí sửa chữa và thuế là 199.984.870đ (làm
tròn 199.985.000đ), trừ phần phế liệu dây đồng Máy biến áp 29.174.500đ,
còn lại 170.810.500đ.
Nay Công ty S yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại
với số tiền 170.810.500đ.
Theo văn bản trình bày ý kiến, bản tự khai trong quá trình giải quyết
vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn Tổng Công ty Bảo hiểm trình bày:
Tổng Công ty Bảo hiểm thừa nhận có ký kết hợp đồng bảo hiểm với Công
ty S theo Hợp đồng số 088 như người đại diện của Công ty S trình bày; Tổng
Công ty Bảo hiểm thừa nhận về scố xảy ra vào ngày 16/8/2021 đối với Máy
biến áp của Công ty S, thừa nhận Máy biến áp của Công ty S bị hỏng
thiệt hại như người đại diện của Công ty S trình bày.
Theo Hợp đồng số 088 ghi nhận về điều kiện bảo hiểm phải theo quy
3
tắc bảo hiểm ban nh kèm theo hợp đồng bảo hiểm, đó Quyết định số:
2271/QĐ-VBI6 ngày 28/12/2017 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cổ phần
Bảo hiểm N (sau đây gọi tắt là Quyết định số 2271). Quyết định số 2271 quy
định: “Chỉ bồi thường thiệt hại đối với tài sản được bảo hiểm gây ra bởi sét
đánh trực tiếp”.
Theo Biên bản giám định hiện trường lập ngày 20/8/2021 xác định Máy
biến áp của Công ty S bhỏng là: “Do sét đánh vào 01 điểm trên đường dây
điện lưới tạo ra dòng điện với trị số điện áp cao đột ngột làm cho Máy biến áp
bị xung điện, chập điện, phóng điện dẫn đến sự cố”. Như vậy, Máy biến áp của
Công ty S bị hỏng không do sét đánh trực tiếp, không dấu hiệu cháy nổ
hoặc biến dạng bên ngoài khác nên không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
của Hợp đồng số 088 (vì tổn thất không gây ra bởi rủi ro được bảo hiểm trong
quy tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm) nguyên nhân gây ra tổn thất thuộc
trường hợp loại trừ bảo hiểm được quy định tại điểm c Mục 1 Phần III của
Quyết định số 2271.
Nay Tổng Công ty Bảo hiểm không đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu
cầu khởi kiện của Công ty S.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2022/KDTM-ST ngày
09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của Công ty S; buộc Tổng Công ty Bảo hiểm phải bồi
thường thiệt hại (thanh toán bảo hiểm) cho Công ty S số tiền 170.810.500đ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, quyền
kháng cáo.
Ngày 22/12/2022, bđơn Tổng Công ty Bảo hiểm nộp đơn kháng cáo,
không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Công ty S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Huỳnh Văn B là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày: Công ty S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đồng ý về mức thiệt hại thực tế
trừ 20.000.000đ theo quy định tại điểm 3.2.3 của Điều 3 của Hợp đồng số 088
và không yêu cầu thuế giá trị gia tăng.
- Nguyễn Thị Minh T ông Nguyễn Công Th người đại diện theo
ủy quyền của bị đơn trình bày: Tổng Công ty Bảo hiểm giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo, không đồng ý bồi thường thiệt hại cho Công ty S, vì Máy biến áp của
Công ty S thuộc trường hợp loại trừ được bảo hiểm theo quy định tại Quyết định
số 2271.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét x Thư
phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật T
tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4
Về giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố Tụng dân
sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty Bảo
hiểm; sửa Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 05/2022/KDTM-ST ngày
09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang về số tiền bồi
thường bảo hiểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Tổng Công ty Bảo hiểm
nộp trong thời hạn pháp luật quy định và có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Do đó, Hội đồng xét xgiải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về thiệt hại tài sản:
Theo các Biên bản giám định hiện trường, Biên bản kiểm tra Máy biến áp
bị sự cố lập ngày 20/8/2021 và ngày 22/10/2021, giữa các bên: Công ty S, ng
ty Bảo hiểm, Công ty H (đơn vị sửa chữa máy), ghi nhận: “Máy biến áp do ảnh
hưởng của cơn mưa giông (kèm theo sấm sét), sét đánh vào 01 điểm trên lưới
điện hoặc 01 điểm bất kỳ trên dây liên quan đến trạm biến áp của người được
bảo hiểm. Dòng điện với trị số điện áp cao đột ngột đã làm cho Máy biến áp bị
xung điện dẫn đến bị sự cố. Kết luận: Máy biến áp bị sét đánh lan truyền gây ra
phóng điện chạm vòng 2 pha phía cao áp trụ bìa và giữa”.
Theo Bảng dự toán sửa chữa do Công ty H lập ngày 28/10/2021 về dự
toán thiệt hại của Máy biến áp 181.804.428đ, thuế giá trị gia tăng
18.180.443đ, tổng cộng chi phí sửa chữa thuế 199.984.870đ, trừ phần phế
liệu dây đồng của Máy biến áp là 29.174.500đ, còn lại 170.810.500đ.
Tại phiên hòa giải ngày 03/3/2022, Công ty S Tổng Công ty Bảo hiểm
thống nhất các Biên bản giám định hiện trường lập ngày 20/8/2021 ngày
22/10/2021, thống nhất Bảng dự toán sửa chữa do Công ty H lập ngày
28/10/2021.
Như vậy, ng ty S Công ty Bảo hiểm thống nhất nguyên nhân gây
thiệt hại và mức độ thiệt hại đối với Máy biến áp của Công ty S.
Tuy nhiên, Tổng Công ty Bảo hiểm không đồng ý yêu cầu khởi kiện của
Công ty S với lý do nguyên nhân gây thiệt hại đối với Máy biến áp của Công ty
S thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Hợp đồng
088 và Quyết định số 2271 (Tổng Công ty Bảo hiểm gọi Quy tắc bảo hiểm).
[2.2] Xét kháng cáo của Tổng Công ty Bảo hiểm:
Tại điểm 3.2.1 Điều 3 của Hợp đồng số 088 quy định về phạm vi bảo
hiểm: “Bên B (là Tổng Công ty Bảo hiểm) sẽ bồi thường cho những thiệt hại vật
chất bất ngờ, ngẫu nhiên, không lường trước được đối với tài sản được bảo
hiểm của Bên A (là Công ty S) gây ra bởi các rủi ro được bảo hiểm và/hoặc
nguyên nhân không bị loại trừ theo Hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt phần thiệt
5
hại vật chất ban hành kèm theo Quyết định số 2271 (gọi tắt Quy tắc bảo
hiểm), Hợp đồng bảo hiểm những điều khoản bổ sung kèm theo Hợp đồng
bảo hiểm này”.
Tại điểm 3.2.2 Điều 3 của Hợp đồng số 088 quy định về điều kiện bảo
hiểm: “Bảo hiểm cho các rủi ro: A. Hỏa hoạn, sét đánh, nổ” nhưng tại Quyết
định số 2271 quy định: “Chỉ bồi thường thiệt hại đối với tài sản được bảo hiểm
gây ra bởi sét đánh trực tiếp”.
Tại khoản 2 Điều 16 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định:
“Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định trong hợp
đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích cho bên mua bảo
hiểm khi giao kết hợp đồng”.
Tuy nhiên, khi ký hợp đồng bảo hiểm, Tổng Công ty Bảo hiểm không gửi
Quyết định số 2271 cho ng ty S; Tổng Công ty Bảo hiểm không cung cấp tài
liệu, chứng cứ về việc đã giao đã gửi Quyết định số 2271 cho Công ty S vào
thời điểm giao kết hợp đồng; không cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc đã giải
thích đầy đủ cho Công ty S biết hiểu các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo
hiểm (quy định tại Quyết định số 2271) khi giao kết hợp đồng; Tổng Công ty
Bảo hiểm bên soạn thảo hợp đồng nhưng không quy định trong hợp đồng
bảo hiểm các điều khoản cụ thể, ngôn từ cụ thể về các điều kiện bảo hiểm rủi ro,
về trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Như vậy, Tổng Công ty Bảo hiểm
không thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Kinh doanh
bảo hiểm năm 2000.
Chính vậy, Công ty S tin tưởng kết hợp đồng với điều kiện bảo
hiểm được ghi nhận tại điểm 3.2.2 Điều 3 của Hợp đồng số 088: “Bảo hiểm cho
các rủi ro: A. ...,sét đánh,...” Công ty S không biết trường hợp loại trừ bảo
hiểm quy định tại Quyết định số 2271 là có cơ sở.
Hơn nữa, Công ty S hợp đồng mua bảo hiểm để giảm phần thiệt hại
về tài sản do những rủi ro ngoài ý muốn, những sự cố bất ngờ, bất khả kháng,
điều này đã được thể hiện tại điểm 3.2.1 Điều 3 của Hợp đồng số 088, đây cũng
là mục đích và tính chất của việc ký kết bảo hiểm mà Công ty S mong muốn khi
xác lập Hợp đồng số 088.
Tại khoản 2 và khoản 6 Điều 404 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Khi hợp đồng điều khoản hoặc ngôn từ thể hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp
đồng. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia
thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng lợi cho bên kia”. Tại khoản 2
Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp hợp đồng theo
mẫu điều khoản không ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu
bất lợi khi giải thích điều khoản đó”. Tại Điều 21 của Luật Kinh doanh bảo
hiểm năm 2000 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm điều khoản
không ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng lợi cho người
mua bảo hiểm”.
6
Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận lời khai phản đối của Tổng Công ty
Bảo hiểm, chấp nhận lời khai của Công ty S là đúng theo quy định tại khoản 1,
khoản 2 khoản 4 Điều 91; Điều 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều
46 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Tổng Công ty Bảo hiểm không cung cấp, tài liệu chứng cứ mới để chứng
minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ hợp pháp. Do đó, cấp phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty Bảo hiểm như đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
[2.3] Tuy nhiên, cấp thẩm buộc Tổng Công ty Bảo hiểm bồi thường
thiệt hại về tài sản cho Công ty S theo mức thiệt hại thực tế thuế giá trị gia
tăng là không đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp
luật về căn cứ bồi thường bảo hiểm; đồng thời, cấp thẩm không áp dụng thỏa
thuận tại điểm 3.2.3 của Điều 3 của Hợp đồng số 088 để khấu trừ vào mức thiệt
hại thực tế chưa chính xác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty S đồng ý
về mức thiệt hại thực tế trừ 20.000.000đ theo quy định tại điểm 3.2.3 của
Điều 3 của Hợp đồng số 088 và không yêu cầu thuế giá trị gia tăng.
Vậy, cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về số tiền bồi thường thiệt hại, cụ
thể: Chi phí sửa chữa thực tế 181.804.428đ (theo Bảng dự toán lập ngày
22/10/2021) - 20.000.000đ (theo thỏa thuận tại điểm 3.2.3 của Điều 3 của Hợp
đồng số 088) = 161.804.428đ 29.174.500đ (phần phế liệu của Máy biến áp bị
hỏng) = 132.629.928đ (làm tròn số 132.630.000đ). Do đó, buộc Tổng
Công ty Bảo hiểm có trách nhiệm trả cho Công ty S số tiền 132.630.000đ; Tổng
Công ty Bảo hiểm phải chịu án phí kinh doanh thương mại thẩm
6.631.500đ.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều
148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí lệ phí Tòa án, Tổng Công ty Bảo hiểm không phải chịu án phí
kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N.
7
2. Sửa Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 05/2022/KDTM-ST
ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm Hữu
hạn S.
- Buộc Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N có trách nhiệm trả cho Công ty
Trách nhiệm Hữu hạn S stiền 132.630.00(một trăm ba mươi hai triệu sáu
trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu
lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015 tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.
- Về án phí thẩm:
+ Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm N phải chịu án phí kinh doanh thương
mại thẩm 6.631.500đ (sáu triệu sáu trăm ba ơi mốt nghìn năm trăm
đồng).
+ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn S được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 4.270.000đ (bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số
0008125 ngày 07/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh
An Giang.
3. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Tổng Công ty Cổ phần
Bảo hiểm N không phải chịu án phí kinh doanh phúc thẩm. Tổng Công ty Cổ
phần Bảo hiểm N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000đ (hai
triệu đồng) theo Biên lai thu số 0009831 ngày 03/01/2023 Biên lai thu số
0009905 ngày 22/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh
An Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND cấp cao tại TP HCM;
- VKSND tỉnh An Giang;
- Phòng KTNV và THA tỉnh;
- TAND huyện Tri Tôn;
- Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
- Tòa Kinh tế;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Ngô Ngọc Phỉ
8
Tải về
06_2023_KDTM-PT_ AN GIANG 06_2023_KDTM-PT_ AN GIANG

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

06_2023_KDTM-PT_ AN GIANG 06_2023_KDTM-PT_ AN GIANG

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất