Bản án số 06/2022/HS-ST ngày 02/03/2022 của TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2022/HS-ST ngày 02/03/2022 của TAND huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hương Sơn (TAND tỉnh Hà Tĩnh) |
| Số hiệu: | 06/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/03/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HƯƠNG SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 06/2022/HS-ST
Ngày: 02/3/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và ông Nguyễn Cao Thế.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham
gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 02 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân
huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý
số: 03/2022/HSST, ngày 20 tháng 01 năm 2022; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 06/2022/QĐXXST-HS, ngày 16/02/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 11/11/1986; tại
huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn L và bà Lê Thị H;
Vợ: Lê Thị V; con: 02 đứa, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; anh
chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ 02; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị
bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2021, đến ngày 26/11/2021 chuyển tạm giam tại trại tạm
giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Lương Văn A, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Thôn 4, xã
Sơn Giang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/11/2021, Phan Văn C, sinh năm 1986, trú tại
thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh một mình xin đi nhờ xe của một người dân đi
từ nhà đến đoạn đường giao nhau với đường mòn H, thuộc thôn 4, xã S để tìm
người mua ma túy về sử dụng. Tại đoạn đường này C xuống xe và ngồi chờ ở đó
được một lúc C thấy có một người đàn ông quen mặt (trước đây đã từng sử dụng
ma túy cùng với C), nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể điều khiển xe máy
Wave an pha màu đen (không nhớ biển kiểm soát) đi qua, nên C gọi lại và hỏi mua
300.000đồng ma túy thì người này đồng ý và nói C chờ ở đó. Khoảng 10 phút sau,
người đàn ông này quay lại đưa cho C một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu T, màu vàng,
không có nắp đậy, bên trong có 01 gói ni lông màu đen đựng 04 viên hồng phiến.
C trả tiền cho người này rồi cầm vỏ bao thuốc lá đựng ma túy đi bộ về phía cánh
đồng thuộc xã S để tìm địa điểm sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng

2
ngày, C đi đến khu di tích Thánh giá thuộc thôn 4, xã S, huyện H, C nhặt được 01
chai nhựa trong suốt, trên thân chai có đục lỗ và gắn một tờ tiền mệnh giá
1000đồng được cuộn tròn. Sau đó, C lấy 01 viên ma túy vừa mua ra sử dụng hết,
số ma túy còn lại C cầm ở bàn tay trái. Lúc này, lực lượng chức năng tuần tra nên
đã yêu cầu kiểm tra C, thì phát hiện trong bàn tay trái của Phan Văn C có 01 vỏ
bao thuốc lá nhãn hiệu T, màu vàng, không có nắp đậy, bên trong có 01 gói ni lông
màu đen đựng 03 viên màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY,
cạnh vị trí C đang đứng có 01 chai nhựa trong suốt, trên thân chai được gắn một
đoạn ống bằng tờ tiền mệnh giá 1.000đồng được cuộn tròn và 01 chiếc bật lửa gas
bằng nhựa màu đỏ.
* Tại Bản kết luận giám định số 16/GĐMT-PC09 ngày 26/11/2021 của Phòng
Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận:
- Các viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY gửi
giám định là ma túy, là Methamphetamine, có khối lượng 0,2664 gam.
Vật chứng vụ án: 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của
các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo Phan Văn C, bên trong đựng toàn bộ
vỏ bao gói và 0,1787 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01
vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu T, màu vàng, không có nắp đậy; 01 chai nhựa trong
suốt, trên thân chai được đục lỗ; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 01 tờ tiền mệnh giá
1.000 đồng được cuộn tròn.
Các vật chứng nêu trên, đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện H,
tỉnh Hà Tĩnh.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-HS, ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy
tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm)
tháng tù về tộii tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47
Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được
cuộn tròn.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của
các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo Phan Văn C, bên trong đựng toàn bộ
vỏ bao gói và 0,1787 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01
vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, không có nắp đậy; 01 chai nhựa
trong suốt, trên thân chai được đục lỗ; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ.
Bị cáo Phan Văn C thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng
Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị
cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3
[1] Về tố tụng: Người chứng kiến anh Lương Văn A đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo và đại diện
Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự
vắng mặt của anh A không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ
án (Anh A đã có lời khai trong quá trình điều tra) nên Hội đồng xét xử quyết định
xét xử vắng mặt người chứng kiến anh Lương Văn A.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện
kiểm sát nhân dân huyện H quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và
tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người
phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ
khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ
sở khẳng định Phan Văn C mua 0,2664 gam Methamphetamine nhằm mục đích để
sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt
được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử
bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Methamphetamine là chất
ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của
Chính phủ, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và sự phát
triển lành mạnh của nòi giống con người, thế nhưng để thỏa mãn cơn nghiện cho
bản thân, bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ số lượng ma túy đã nói trên. Hành vi đó
thể hiện sự táo bạo và liều lĩnh, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây
hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo một
mức án đủ nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết
tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành
khẩn khai báo nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ
cho bị cáo một phần.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho C, do C không biết tên, tuổi, địa
chỉ cụ thể, quá trình điều tra cơ quan chức năng không có căn cứ để điều tra, kết
luận nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt tiền
cho bị cáo.
[9] Về vật chứng vụ án:
- 01 Tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là số tiền bị cáo sử dụng để thực hiện hành
vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.
- 0,1787 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 vỏ
bao thuốc lá nhãn hiệu T, màu vàng, không có nắp đậy; 01 chai nhựa trong suốt,

4
trên thân chai được đục lỗ; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ là các vật nhà nước cấm
lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều
47 Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch
thu, tiêu hủy.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về áp dụng điều luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1
Điều 51; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều
106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1
Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
2. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phan Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 23/11/2021).
3.Về Biện pháp Tư pháp:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (Một
ngàn đồng) được cuộn tròn.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của
các thành phần tham gia niêm phong và bị cáo Phan Văn C, bên trong đựng toàn bộ
vỏ bao gói và 0,1787 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01
vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu T, màu vàng, không có nắp đậy; 01 chai nhựa trong
suốt, trên thân chai được đục lỗ; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ.
(Đặc điểm các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày
17/01/2022).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Tĩnh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện H; (Đã ký)
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- Công an huyện H; Nguyễn Mạnh Cường
- Cơ quan THHS Công an H;
- Công an tỉnh (phòng PV 06)
- Chi cục THADS huyện H;
- Bị cáo;
- UBND S, huyện H;
- Lưu hồ sơ, án văn.
5
6
7
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm