Bản án số 06/2021/HS-ST ngày 13/01/2021 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2021/HS-ST ngày 13/01/2021 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 140.Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 06/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/01/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ DĨ AN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƢƠNG
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn - Phó Hiệu trƣởng Trƣờng trung cấp nghề Dĩ An;
2. Bà Trần Thị Ngọc – Cán bộ hƣu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
542/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra
xét xử số: 558/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Trung H, sinh năm 1997 tại Thành phố H; thƣờng trú: Ấp 2, xã H,
huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc:
Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Minh T, sinh năm 1962 và bà Trần Thị N,
sinh năm 1973; có một chị sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt
tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2020 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Đỗ Gia B, sinh ngày 07/7/2003; địa chỉ: 151/3 đƣờng ĐT
743, khu phố 2, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1968; địa
chỉ: 151/3 đƣờng ĐT 743, khu phố 2, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; địa chỉ: 255/6C khu phố Đ, phƣờng
T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Ông Phạm Xuân H, sinh năm 1979; thƣờng trú: Xã A, huyện Q, tỉnh
Thái Bình; địa chỉ: Số 1137, tỉnh lộ 43, khu phố 2, phƣờng B, quận T, Thành
phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày: 13-01-2021
2
- Người chứng kiến: Anh Tô Quốc T, sinh năm 2002. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 05/9/2020 tại phòng trọ của bị cáo Phạm
Trung H địa chỉ 5/13 khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng bị
cáo H mƣợn điện thoại hiệu Iphone 7Plus, màu đỏ của anh Đỗ Gia B chơi điện
tử. Sau khi đƣợc anh B cho mƣợn điện thoại, đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bị
cáo H cầm điện thoại đến gặp ông Nguyễn Văn H cầm với giá 2.500.000 đồng
và thỏa thuận với ông H trong thời gian 10 ngày đến trả tiền và nhận lại điện
thoại. Đến hạn bị cáo không đến trả tiền, ông H đã bán điện thoại cho ông Phạm
Xuân H với giá 3.600.000 đồng, sau đó ông H bán lại cho một thanh niên không
rõ lai lịch với giá 3.900.000 đồng. Ngày 06/10/2020, bị cáo đến Công an phƣờng
D khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản kết luận định giá số 180/KLĐG –HĐĐGTS ngày 12/10/2020, Hội
đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An kết luận 01 điện thoại di động hiệu Apple
Iphone 7 Plus -128Gb, màu đỏ trị giá 6.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 19/CT – VKS- DA ngày 23 tháng 12 năm 2020, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Trung
H về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện
kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Trung H mức án từ 07 đến 10 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thƣờng cho anh Đỗ Gia B số
tiền 6.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trung H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình, không trình bày ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên,
không trình bày lời bào chữa cho hành vi phạm tội, lời nói sau cùng bị cáo xin
Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác và tại phiên tòa bị cáo
không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành
tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 05/9/2020 tại phòng
trọ của bị cáo Phạm Trung H địa chỉ 5/13 khu phố N, phƣờng D, thành phố D,
tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Phạm Trung H hỏi mƣợn anh Đỗ Gia B điện thoại hiệu
Apple Iphone 7 Plus 128Gb, màu đỏ chơi điện tử, đến khoảng 14 giờ cùng ngày
bị cáo đem điện thoại đi cầm đồ lấy số tiền 2.500.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Theo kết luận định giá tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 6.500.000 đồng.
Nhƣ vậy, hành vi lợi dụng sự tin tƣởng của bị hại khi đƣợc giao tài sản bị
cáo đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản, trị giá 6.500.000
đồng đã đủ yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tội
phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 19/CT – VKS - DA ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với
bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là
ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài
sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo
là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài
sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần
xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực
hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân
thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng
ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội
lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện việc chƣa có tiền án,
tiền sự.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn H và ông Phạm Xuân H không biết
điện thoại do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành
phố Dĩ An không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt không thu hồi đƣợc
cần buộc bị cáo phải bồi thƣờng cho bị hại số tiền 6.500.000 đồng.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc bồi thƣờng và mức
hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:

4
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Trung H phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Trung H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
06/10/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình
sự; Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Trung H bồi thƣờng cho anh Đỗ Gia B số tiền 6.500.000
đồng (Sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, ngƣời phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình sự 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Bị cáo Phạm Trung H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm và 325.000 đồng (Ba trăm hai mƣơi lăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể
từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại và ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15
(mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc
niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo (01);
- VKSND TP Dĩ An (01);
- Công an TP Dĩ An (02);
- Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
- Chi cục THADS TP Dĩ An (01);
- TAND tỉnh Bình Dƣơng (01);
- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01);
- UBND cấp xã nơi bị cáo cƣ trú (01);
- Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01);
- Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01);
- Lƣu: VT, HSVA (02).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Quyết
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 16/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 08/12/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 22/11/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 14/11/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/10/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 22/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 11/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/09/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 24/08/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 18/08/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/07/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/07/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 17/07/2023
Cấp xét xử: Sơ thẩm