Bản án số 06/2021/HS-ST ngày 15/04/2021 của TAND huyện An Lão, tỉnh Bình Định về tội cưỡng đoạt tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2021/HS-ST ngày 15/04/2021 của TAND huyện An Lão, tỉnh Bình Định về tội cưỡng đoạt tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 135.Tội cưỡng đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện An Lão (TAND tỉnh Bình Định) |
| Số hiệu: | 06/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN A Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 06/2021/HS-ST
Ngày 15/4/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Nghiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Minh Tâm;
Ông Lê Hoàng Hiền;
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hoài Loan, Thƣ ký Toà án nhân dân huyện A,
tỉnh Bình Định;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:
Ông Đinh Văn Trà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bình
Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2021/TLST- HS ngày 04
tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 64/2021/QĐXXST- HS
ngày 02 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
PHƢƠNG HOÀI Â, sinh năm1973, tại Bình Định; nơi cƣ trú: thôn P, xã Â Đông,
huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh;
giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phƣơng Sanh K, sinh
năm 1925 (liệt sỹ) và bà Phạm Thị Ph, sinh 1939; vợ: Thị Th, sinh năm 1984; con: 02
đứa, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; Về lịch
sử bản thân: Ngày 23/9/2013, Phƣơng Hoài  bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình
Định xử phạt 03 tháng 09 ngày tù, về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ
luật hình sự năm 1999, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2013/HS-ST. Về hình phạt bổ
sung bằng hình thức phạt tiền, chấp hành xong vào ngày 14/6/2019. Bị cáo tại ngoại “có
mặt tại phiên toà”.
Bị hại:
Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1977; Địa chỉ cƣ trú: thôn G, thị trấn A, huyện A,
tỉnh Bình Định (có mặt).
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1977; Địa chỉ cƣ trú: thôn G, thị trấn A, huyện A,
tỉnh Bình Định (vắng mặt);
Người làm chứng:
1. Lê Quốc V (tên gọi khác: Đen), sinh năm 1988; Địa chỉ cƣ trú: thôn B, xã Â,
huyện H, tỉnh Bình Định (có mặt).
2. Nguyễn Khắc T (tên gọi khác: Lì), sinh năm 1989; Địa chỉ cƣ trú: thôn P, xã
Â, huyện H, tỉnh Bình Định (vắng mặt)..
3. Trƣơng Công T1, sinh năm 1993; Địa chỉ cƣ trú: thôn B, xã Â, huyện H, tỉnh
Bình Định (vắng mặt);
4. Đỗ Đức T2, sinh năm 1991; Địa chỉ cƣ trú: thôn D, thị trấn T, huyện H, tỉnh
Bình Định (vắng mặt);
5. Hồ Lê Hùng B, sinh năm 1996; Địa chỉ cƣ trú: Khu phố 3, Phƣờng B, thị xã H,
tỉnh Bình Định (vắng mặt);
6. Phan Đức N (tên gọi khác: “Nam”, “anh Hai”), sinh năm 1979; Địa chỉ cƣ trú:
Khối 2, Phƣờng Bồ, thị xã H, tỉnh Bình Định (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trƣớc đó, Huỳnh Văn H có nợ tiền của Lê Quốc V (tên gọi khác là “Đen”). Vào
ngày 08/8/2017, Hòa viết giấy mƣợn tiền của V với số tiền 110.000.000 đồng và quy
định thời hạn trả nợ cụ thể. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ, H đã không trả tiền cho V mà
cố tình tránh mặt.
Khoảng đầu tháng 10/2017, trong lúc đi chơi, V gặp  và kể cho  nghe về việc
H nợ tiền của V. Sau khi nghe V kể, Â hỏi V nợ nần có giấy tờ gì không, V đƣa cho Â
xem giấy mƣợn tiền do H viết. Sau khi xem xong, Â nói “nếu nợ có giấy tờ thế này thì
để tao gọi điện cho”. V nói “nếu anh gọi ai lấy đƣợc 110.000.000 đồng thì em trả công
40.000.000 đồng”. Sáng ngày hôm sau, Â gọi điện cho Nguyễn Khắc T (tên gọi khác là
“Lì”) về việc lấy nợ cho V và T đồng ý. Sau đó, Â điện thoại cho V và đƣa số điện thoại
của T cho V. Giữa T với V liên lạc, gặp gỡ nhau nhƣ thế nào  không biết.
Vào sáng ngày 05/10/2017, Nguyễn Khắc T cùng với Hồ Lê Hùng B đến gặp V
và cùng V đến nhà tìm H nhƣng không gặp đƣợc H, có gặp bà Nguyễn Thị K (là vợ đã
ly hôn với H) ở nhà. V và T nói chuyện với bà K rồi ra về. Sau đó V, T, B đến quán
Cộng Đồng (Mỹ Thành, H) nhậu, trong quá trình nhậu,T gọi điện thoại rủ Phan Đức N
(tên gọi khác là “Nam”, “anh Hai” ) và một số ngƣời bạn của T cùng đến nhậu. Tại
quán nhậu, T đã mƣợn tiền của V 5.000.000 đồng. Tổng cộng chi phí nhậu ngày
05/10/2017, do V chi trả khoảng 10.000.000 đồng.
3
Vào ngày 06/10/2017, V nghe tin có nhóm ngƣời Gia Lai đến nhà H đòi nợ, V sợ
nhóm này sẽ lấy tiền hay tài sản tại nhà H nên V gọi điện thoại báo cho T để bàn
chuyện lấy nợ cho V.
Vào sáng ngày 07/10/2017, T đi xe máy từ thị trấn B đến nhà Â chở Â cùng đến
quán cà phê H (ở Bình Hòa N, Ân Hảo Đ, H). Tại đây, T và V bàn bạc thống nhất lên
nhà H để đòi nợ, nếu không có tiền thì lấy tài sản. V chuẩn bị phƣơng tiện, T huy động
lực lƣợng để khiêng tài sản trong nhà; V thuê Trần Tuấn A1 (tên gọi khác là “Giác” ở
Hội L, Ân Hảo Đ, H) điều khiển xe ô tô innova 7 chỗ đến chở V đi công chuyện và thuê
Đỗ Văn N (ở Bình Hòa N, Ân Hảo Đ, H) là tài xế xe tải chở hàng cho V (A1, N không
biết V đi xiết nợ của ngƣời khác); V gọi điện thoại cho Trƣơng Công T1, bảo T1 đi lên
AL khiêng đồ cho V, tất cả đều đến quán cà phê Hoa Nắng đợi nhóm ngƣời của T;
Trung gọi điện cho Phan Đức N nói N gọi cho mấy anh em đi lấy đồ cho V. Sau đó, T
gọi cho B. N ở thị trấn B đi xe taxi hãng Phƣớc Phát do Bùi Quốc H điều khiển chở N
cùng T, A2 (chƣa xác định họ, tên), trên đƣờng đi N liên lạc và đón B, Nguyễn Văn N
(ở lại Khánh T, Hoài Đ, H), Đỗ Đức T2 (ở Du Tự, thị trấn T, H) Hà Quốc V, Hồ Thành
A1 (cùng trú Gia Trị, Ân Đức, H) đến quán cà phê Hoa Nắng gặp V, T rồi tất cả cùng đi
đến nhà bà K. Khi đi V, T, T2, Â đi xe innova; T1 đi xe của N, số còn lại đi trên xe taxi.
Khi đến quán cà phê Lộc Vừng (thuộc thôn 9, thị trấn A) N cùng  xuống xe đi vào
quán, những ngƣời còn lại đi đến nhà bà K.
Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 07/10/2017, khi đến nhà bà K, V ở lại trong xe, 03
tài xế ngồi trên xe; T vào nhà bà K đứng cạnh bàn bida, B, N, T2, A2, A1, V đi vào nhà
bà K khiêng 01 bộ ngựa (04 tấm gỗ gõ, kích thƣớc mỗi tấm 40x10x238cm, 02 tấm gỗ
ràng ràng làm chân ngựa); 01 xe mô tô hiệu Nouvo BKS: 77M1-018.88; 01 Tivi nhãn
hiệu LG 42inch; 01 bộ loa thùng gồm 03 loa; 01 bàn ăn gỗ thiết lim 50x120cm; 01 lục
bình gỗ gõ cao 120cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro màu trắng. Bà
K ngăn cản, hô hoán nhƣng T đến giữ tay của bà K lại để nhóm khiêng tài sản ra chất
lên xe tải, T1 phụ chất tài sản lên xe. Nhóm T nhanh chóng chở tài sản lấy đƣợc về cất
tại nhà ông Chung Nguyên V (ở Tân Xuân, Ân Hảo T, H) là bố vợ của V rồi cùng nhau
đến quán Cộng Đồng. Trong quá trình nhậu: V, T, N, Â đi ra bàn riêng ở phía trong
quán nói chuyện, V nói chỉ lấy đƣợc tài sản, nên trả 20.000.000 đồng, vì đã đƣa
5.000.000 đồng cho T mƣợn trƣớc đó nên V đƣa thêm 15.000.000 đồng là tiền V thuê
nhóm T đi lấy tài sản xiết nợ cho V. V để tiền trên bàn rồi đi ra ngoài. T lấy 3.000.000
đồng đƣa cho N, lấy 2.000.000 đồng đƣa cho Â; T và N gọi B, N, T2, A2, A1, V vào.
Nhân lấy số tiền trong 15.000.000 đồng đƣa cho T2 và B mỗi ngƣời 1.000.000 đồng, T
trả tiền nhậu và tiền xe taxi, số tiền còn lại T lấy.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG, ngày 20/4/2018 của hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A xác định: Tổng giá trị của tài sản trong vụ án
hình sự tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 32.682.900 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HS-ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân
dân huyện A, tỉnh Bình Định đã xét xử: Lê Quốc V 15 tháng tù, Nguyễn Khắc T, Đỗ
Đức T2 mỗi ngƣời 12 tháng tù, Hồ Lê Hùng B, Nguyễn Văn N, Trƣơng Công T1 mỗi
4
ngƣời 09 tháng tù, Phạm Đức N 06 tháng 09 ngày tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản” theo
khoản 1 Điều 135 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tại bản án hình sự phúc thẩm số
156/2019/HS-PT ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt Trƣơng
Công T1 06 tháng tù.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 26/2020/HS-GĐT ngày 03/9/2020 của Tòa án
nhân dân Tối cao đã quyết định: Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 156/2019/HS-PT
ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và bản án hình sự sơ thẩm số
03/2019/HS-ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bình Định.
Tại cáo trạng số: 09/CT-VKSAL ngày 26/02/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân
huyện A, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Phƣơng Hoài Â, về tội: “Cƣỡng đoạt tài sản”
theo quy định tại khoản 1 Điều 170/BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện
kiểm sát nhƣ cáo trạng. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s, x khoản 1
Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 65/BLHS, xử phạt bị cáo: Phƣơng Hoài Â
từ 09 đến 15 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo.
Về vật chứng: Đã đƣợc giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HS-
ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bình Định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm
sát nhân dân huyện A, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo về tội “Cƣỡng đoạt tài sản” là
đúng. Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị hại: Sau khi sự việc xảy ra, tài sản đã đƣợc thu hồi và trả đủ cho bị
hại. Về bồi thƣờng thiệt hại, không yêu cầu giải quyết. Về hình phạt đề nghị HĐXX
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo tỏ ra ăn năn, hối lỗi, nhận thức hành vi gây ra
là vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt để tạo điều kiện cho bị cáo
sớm hòa nhập cộng đồng, vì điều kiện kinh tế gia đình của bị cáo rất khó khăn, là lao
động duy nhất trong gia đình, đang nuôi mẹ già và con nhỏ, vợ thƣờng xuyên đau ốm,
không có công việc làm ổn định và hứa sẽ không vi phạm pháp luật nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
đã đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố
tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Do tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội
5
thì Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thi hành và tội danh
tƣơng ứng của Bộ luật hình sự năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo. Do đó, HĐXX áp dụng
Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt
đối với bị cáo.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời
khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị
can, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện
trƣờng, phù hợp với kết luận định giá tài sản, những chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ
vụ án đã đƣợc thẩm tra xem xét tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Phƣơng Hoài  biết Lê
Quốc V có nhu cầu đòi tiền nợ của ông Nguyễn Văn H nên  đã môi giới cho V liên hệ
với Nguyễn Khắc T để đòi nợ. Sáng ngày 07/10/2017, biết nhóm T, V đi đòi nợ, Â đã
tham gia đi cùng, tuy không trực tiếp đến nhà bà K lấy tài sản, nhƣng  đã giúp sức, hỗ
trợ để V chiếm đoạt tài sản của bà K có giá trị 32.682.900 đồng. Sau khi thực hiện xong
việc lấy nợ, T lấy số tiền mà V trả công, chia cho  số tiền 2.000.000 đồng. Do đó,
hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cƣỡng đoạt tài sản” đƣợc quy
định tại khoản 1 Điều 170/BLHS. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện
A truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng
tội.
[3] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp
đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự, trị an
tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm
pháp luật nhƣng vì đƣợc hƣởng lợi mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật,
thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp môi giới cho việc lấy nợ. Do đó, để có
tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có
mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy rằng: Sau khi
phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, đồng
phạm với vai trò giản đơn, không đáng kể trong vụ án, bị cáo có một thời gian tham gia
quân ngũ. Đƣợc chính quyền địa phƣơng xác nhận: “Điều kiện kinh tế gia đình của bị
cáo rất khó khăn, là lao động duy nhất trong gia đình, đang nuôi mẹ già và con nhỏ, vợ
thƣờng xuyên đau ốm, không có công việc làm ổn định”, có nơi cƣ trú rõ ràng, cha của
bị cáo là liệt sĩ, có anh trai là liệt sĩ. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo. Do đó, cần cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo
quy định tại điểm b, s, x khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51/BLHS.
[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
căn cứ vào nhân thân của ngƣời phạm tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
mà bị cáo đƣợc hƣởng. Xét thấy, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội
mà giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú giám sát, giáo dục cũng đủ
tác dụng, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về bồi thƣờng thiệt hại:
Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí HSST:
6
Bị cáo là thân nhân liệt sĩ nên đƣợc miễn nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[7] Trong vụ án này, có Trung A1, Hồ Thanh A2, Hà Quốc Vn các đối tƣợng này
tham gia lấy tài sản tại nhà bà Nguyễn Thị K. Tuy nhiên, hiện các đối tƣợng không có
mặt tại địa phƣơng nên Cơ quan điều tra chƣa làm việc đƣợc với các đối tƣợng để xác
định ý thức chủ quan của họ trong quá trình thực hiện hành vi cƣỡng đoạt tài sản. Cơ
quan điều tra đã tách hành vi của họ để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là
phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng các điểm, khoản, Điều, mức hình phạt là tƣơng
đối phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phƣơng Hoài Â, phạm tội: “Cƣỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 170, điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và
Điều 65 của Bộ Luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban thƣờng vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Nghị quyết: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc hội về việc áp
dụng Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ
luật hình sự về án treo.
1. Xử phạt: Bị cáo Phƣơng Hoài  12 (mƣời hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án
treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2021).
Giao bị cáo Phƣơng Hoài  cho UBND xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp bị cáo có thay đổi nơi cƣ trú thì thực
hiện theo tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phƣơng Hoài  cố ý vi phạm nghĩa vụ 02
lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phƣơng Hoài  phải chấp hành hình
phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về bồi thƣờng thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu, HĐXX không xem xét.
3. Về án phí HSST: Bị cáo đƣợc miễn theo quy định của pháp luật.
4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử có mặt bị cáo, bị hại. Báo cho các bên đƣợc
biết có quyền kháng cáo bản án lên Toà án tỉnh Bình Định trong hạn 15 ngày tròn kể từ
ngày tuyên án (ngày 15/4/2021).
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Bị hại;
- VKSND huyện A;
7
- VKSND tỉnh Bình Định;
- TAND tỉnh Bình Định;
- CQCSĐT Công an huyện A;
- CQTHAHS công an huyện A;
- Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Định;
- Lƣu hồ sơ vụ án. Trần Ngọc Nghiên
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng