Bản án số 05/2020/HS-ST ngày 14/02/2020 của TAND huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2020/HS-ST ngày 14/02/2020 của TAND huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Kim Bảng (TAND tỉnh Hà Nam)
Số hiệu: 05/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày 14-02-2020
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Khánh.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư phiên toà: Trần Thị Đào - Thư Toà án nhân dân huyện
Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Nam tham
gia phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại tr s Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng,
tỉnh Nam xét x sơ thẩm ng khai v án hình s th s: 08/2020/TLST-
HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét x số:
06/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Kiều Văn B, sinh năm 1979 tại L, huyện K, tỉnh Nam; nơi cư trú:
Thôn P, L, huyện K, tỉnh Nam; ngh nghiệp: Lao động t do; trình độ
văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Kiều Đức T và bà Ngô Th H; v là Chúc Thị L và có 02 con, lớn
sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày
09-9-2014 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Nam ra quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24
tháng, chấp hành xong ngày 22-9-2016; ngày 31-7-2017 bị Công an huyện Kim
Bảng, tỉnh Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000
đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được miễn nộp tiền phạt do
hoàn cảnh khó khăn; b tạm gi t ngày 30-10-2019 b tạm giam t ngày
08-11-2019, hiện đang b tạm giam tại Trại tạm giam ng an tnh Nam; có
mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo B: Ông Phạm Đ-Trợ giúp viên pháp thuộc
Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hồ Văn P, sinh
năm 1973; i cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Hồ Thị D, sinh năm 1948; nơi trú: Thôn D, Đ, huyện K, tỉnh
Hà Nam; vắng mặt.
2. Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; nơi trú: Thôn D, Đ, huyện K,
tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong h sơ v án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 gi ngày 30-10-2019, Kiều Văn B điều khiển xe mô nhãn
hiệu YAMAHA TAURUS biển kiểm soát 20M6-1xxx mang theo số tiền
790.000 đồng đến nhà Hồ Văn P, sinh năm 1973 thôn D, Đ, huyện K chơi
(P là bạn nghiện của B). Trong lúc P B ngồi chơi, B nói với P Mày nhà,
tao đi mua ít hàng về cùng chơi”. P trả lời “Ừ” rồi đi chơi, còn B điều khiển xe
BKS 20M6-1xxx lên khu vực Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, thành
phố Nội gặp người đàn ông không quen biết đứng ven đường, B hỏi người
đó “Mày biết chỗ nào bán hàng mua hộ tao một ít”. Người đó nói “Lấy bao
nhiêu?”. B nói “Tao bốn trăm” rồi đưa người đó 400.000 đồng. Người thanh
niên cầm tiền đi khoảng 15 phút sau quay lại đưa B 01 gói nhỏ bên ngoài bọc
bằng lớp giấy in nhiều màu, bên trong chứa chất bột màu trắng đục. B biết đó là
ma túy nên cầm về nhà Hồ Văn P, thấy cổng mkhông nhìn thấy P nhà. B đi
vào bếp nhà P thấy không có người nào nên B lấy gói ma túy vừa mua được đặt
lên mặt chiếc hòm tôn, tờ lịch để trên giá bát nhà P, dùng kéo cán bằng nhựa
đỏ trong ống đũa trong bếp nhà P cắt tờ lịch ra thành nhiều mảnh nhỏ, sau đó
lấy trong của B ra ½ lưỡi dao cạo râu nhãn hiệu Croma phân chia cục ma túy
thành 07 phần, rồi dùng các mảnh tờ lịch gói số ma túy đã phân chia thành 07
gói thì bị Công an Đ phát hiện, bắt quả tang bàn giao người bị bắt, vật
chứng thu giữ đến Công an huyện Kim Bảng để xử lý theo pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi quần phía sau bên phải Kiều Văn B
đang mặc số tiền 390.000 đồng được niêm phong trong phong hiệu QT01;
thu trên mặt hòm tôn trong bếp nhà Hồ Văn P 07 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng
giấy tờ lịch in, bên trong 07 gói đều chứa cục chất bột màu trắng đục được niêm
phong trong phong hiệu QT02; thu trên mặt hòm tôn 01 mảnh giấy kích
thước 6,1 x 5,9cm được niêm phong trong phong hiệu QT03; thu trên mặt
hòm tôn 01 điện thoại di động Masstel bàn phím cứng, vỏ nhựa màu vàng được
niêm phong trong phong hiệu QT04; thu trên mặt hòm tôn ½ lưỡi dao cạo
râu nhãn hiệu Croma được niêm phong trong phong hiệu QT05. Ngoài ra
còn tạm giữ của Kiều Văn B 01 xe mô tô biển kiểm soát 20M6-1xxx.
3
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Văn P tại thôn D, xã Đ, huyện K, thu giữ
trên giá để bát đũa bên trái trong bếp hướng từ ngoài vào 02 chiếc kéo, trong đó
01 chiếc lưỡi bằng kim loại màu trắng chuôi bằng nhựa cứng màu xanh được
niêm phong trong phong bì hiệu A4, 01 chiếc lưỡi bằng kim loại màu trắng
chuôi bằng nhựa cứng màu đỏ được niêm phong trong phong bì kí hiệu A5.
Tại bản Kết luận giám định số 188/PC09-MT ngày 01-11-2019 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục
trong phong bì kí hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,243 gam,
loại: Heroine.
Ngày 30-10-2019 quan CSĐT Công an huyện Kim Bảng đã thu gi20
chiếc tóc của Kiều Văn B, đồng thời ra quyết định trưng cầu Viện khoa học
hình sự Bộ Công an giám định trên các mảnh giấy, lưỡi dao lam, chiếc kéo
chuôi màu đỏ có tế bào của Kiều Văn B không.
Tại bản Kết luận giám định số 6521/C09(TT3) ngày 02-12-2019 của Viện
khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trên các mảnh giấy (ký hiệu A1), trên
mảnh giấy (ký hiệu A2), trên ½ lưỡi dao lam (ký hiệu A3) và trên chiếc kéo (ký
hiệu A5) đều có dính tế bào người. Do lượng dấu vết ít, chất lượng dấu vết kém
nên không xác định được kiểu gen.
Tại bản Cáo trạng s 11/CT-VKSKB ngày 13-01-2020 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Nam đã truy t b cáo Kiều Văn B v tội
"Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 B luật Hình
s. Tại phiên t, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn gi
nguyên quan điểm truy t b cáo đề ngh Hội đồng xét x căn c điểm c
khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình s,
x phạt b cáo B t 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; miễn hình phạt b sung cho
b cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo
được hoàn trả lại sau giám định 08 mảnh giấy, 02 chiếc kéo, ½ lưỡi dao lam,
20 sợi tóc cùng toàn b bao gói mẫu vật; trả lại bị cáo số tiền 390.000 đồng
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, song cần tạm giữ số tiền 390.000
đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng để đảm bảo thi hành án
đối với bị cáo về phần án phí.
Tại phiên tòa, b cáo Kiều Văn B khai nhận toàn b hành vi đã thực hiện
của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tnhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên;
b cáo xin Hội đồng xét x xem xét giảm nh hình phạt cho bản thân.
Tại phiên tòa, ông Phạm Đ người bào chữa cho bị cáo B đề nghị Hội
đồng xét xxem xét tình tiết bcáo đang bị nhiễm HIV/AIDS, hoàn cảnh gia
đình khó khăn, bố đẻ là người công với đất nước, thái độ khai báo
thành khẩn, ăn năn hối cải để giảm nhhình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng
4
xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức đề nghị thấp nhất của đại diện
Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên, của
Viện kiểm sát Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của b cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của
b cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qu tang, biên bản
thu gi vật chứng, bản kết luận giám định phù hợp với các tài liệu, chứng c
khác có trong h sơ v án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
[3] Hội đồng xét x thấy đã đủ căn c để xác định: Khoảng 13 gi 30
phút ngày 30-10-2019, tại gian bếp nhà Hồ Văn P thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh
Nam, b cáo Kiều Văn B đã phân chia 0,243 gam Heroine thành 07 gói để
trên mặt hòm tôn trong bếp nhà P với mục đích để s dụng thì b Công an xã Đ,
huyện Kim Bảng bắt qu tang. Như vậy, hành vi của Kiều Văn B đã phạm vào
tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249
B luật Hình s.
[4] Hành vi của b cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm chính sách
độc quyền quản chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình
trật t tr an tại địa phương, vậy cần phải x lí nghiêm khắc, cách li b cáo ra
khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Khi quyết định hình phạt, xét bị cáo người nhân thân xấu, đã một
lần bị áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma
túy”. Tuy nhiên, đến thời điểm phạm tội bị cáo không tiền án, tiền sự
không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm
nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn, vì vậy bị
cáo được hưởng tình tiết giảm nhquy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự. Ngoài ra, bố đẻ bị cáo người công với đất nước, được tặng
5
thưởng Huy chương chiến vẻ vang hạng Nhì, vậy bị cáo được hưởng thêm
tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] V hình phạt b sung: Xét thấy b cáo đối tượng nghiện ma túy,
hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, do đó miễn hình phạt b sung cho bị cáo.
[7] Về nguồn gốc sma túy: Tài liệu điều tra trong hồ vụ án và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa không đủ căn cứ để xác định được nguồn gốc số ma
túy đã thu giữ và đối tượng có liên quan để xử lí.
[8] V vật chứng của v án: Đối với s Heroine đã thu gi của b cáo gửi
đi giám định được hoàn tr lại vật cấm tàng tr, do vậy cần tịch thu, tiêu hu.
Đối với số tiền 390.000 đồng và chiếc điện thoại di động Mastel đã thu giữ là tài
sản chính đáng của bị cáo B không liên quan đến tội phạm, do vậy cần trả lại
cho bị cáo, song cần tạm gisố tiền 390.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân
sự huyện Kim Bảng để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo vphần án phí. Đối
với 02 chiếc kéo, 08 mảnh giấy, ½ lưỡi dao lam, 20 sợi tóc đã thu giữ các
phong bao gói mẫu vật đều vật không giá trị sử dụng, do vậy cần tịch
thu, tiêu hủy.
[9] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA TAURUS, biển kiểm soát
20M6-1xxx thu giữ của Kiều Văn B, quá trình điều tra xác định là xe vật chứng
của quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đang
truy tìm. Do vậy quan CSĐT Công an huyện Kim Bảng đã ra quyết định xử
lý vật chứng bàn giao chiếc xe trên đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để xử theo quy định, vậy Hội đồng xét xử
không xem xét.
[10] Án phí hình s sơ thẩm b cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 B luật Hình s. Căn c điểm a khoản 2; điểm
a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí, lệ phí Toà án:
1. Tuyên bố: B cáo Kiều Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma
tuý". X phạt b cáo Kiều Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù được tính t ngày b cáo b tạm gi 30-10-2019.
2. Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng gồm: S Heroine được niêm phong
nguyên vẹn trong phong số 188/PC09-MT, dấu niêm phong của Phòng
6
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam; 01 phong niêm phong đã cắt hiệu
QT02, bên trong 06 mảnh giấy kích thước khoảng 3 x 4 và 5 x 6cm; 01
phong niêm phong đã cắt mép số: 188/PC09-MT, bên trong 01 mảnh giấy
kích thước khoảng 3 x 4cm được gói trong 01 tờ giấy A4 hiệu A1; 01 phong
niêm phong đã cắt mép số: 188/PC09-MT, bên trong có 01 chiếc phong
niêm phong đã cắt mép kí hiệu QT03, bên trong chiếc phong bì kí hiệu QT03 có
01 mảnh giấy kích thước khoảng 5 x 6cm; 01 phong bì niêm phong đã cắt mép
số: 188/PC09-MT, bên trong 01 chiếc phong bì niêm phong đã cắt mép
hiệu QT05, bên trong chiếc phong hiệu QT05 ½ lưỡi dao lam in chữ
CROMA; 01 phong bì niêm phong đã cắt mép kí hiệu A5, bên trong có 01 chiếc
kéo bằng kim loại sáng màu, cán bằng nhựa màu đỏ; 01 phong niêm phong
đã cắt mép hiệu M1, bên trong 20 sợi tóc được đựng trong một túi nilon
màu trắng bọc lại bằng 01 tờ giấy A4; 01 chiếc kéo bằng kim loại sáng màu,
cán bằng nhựa màu xanh.
- Trả lại cho bị cáo Kiều Văn B số tiền 390.000 đồng và 01 chiếc điện thoại
di động nhãn hiệu Mastel, được gắn 01 thsim Vinaphone gắn 01 thẻ nhớ
Micro 2GB, song cần tạm giữ số tiền 390.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân
sự huyện Kim Bảng, tỉnh Nam để đảm bảo thi hành án về phần án phí đối
với bị cáo.
(Các vật chứng trên đều được xác định tại Biên bản giao, nhận vật chứng
ngày 15-01-2020 giữa quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng,
tỉnh Hà Nam với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).
3. Về án phí: Buộc b cáo Kiều Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình s sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể tngày
tuyên án; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ
ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- VKSND huyện Kim Bảng;
- Chi cục THADS huyện Kim Bảng;
- Công an huyện Kim Bảng;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Người có QL,NVLQ; Nguyễn Đức Thạo
- Lưu HS, VP.
7
8
9
10
11
12
13
14
Tải về
Bản án số 05/2020/HS-ST Bản án số 05/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất