Bản án số 05/2019/DS-ST ngày 31/10/2019 của TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2019/DS-ST ngày 31/10/2019 của TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thanh Thủy (TAND tỉnh Phú Thọ)
Số hiệu: 05/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/10/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị N đề nghị tòa án buộc anh Q, chị H trả khoản gốc trên, lãi suất theo hợp đồng vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
nh©n danh
n-íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Thanh thuû, tØnh phó thä
Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Lương Viết Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Minh Thân
Ông Nguyễn Thành Lâm
Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Dương Thị Thanh Hoa - Thư Tòa
án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy,
tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2019/TLST- DS ny 14/8/2019
về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
132/2019/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2019. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trn Thị N, sinh năm 1971 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu 1, xã T, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Chị Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1984 .
(Chị H ủy quyền cho anh Q tham gia tố tụng)
Địa chỉ: Khu 3, xã T, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án chị TrầnThị N trình bày:
Ngày15/01/2013 chị cho vợ chồng anh Q chị H vay số tiền 350.000.000đ(ba trăm
năm mươi triệu đồng), ngày 16/62013 chị tiếp tục cho anh Q chị H vay số tiền
360.000.000đ (ba trăm sáu mươi triệu đồng); ngày 01/12/2013 chị cho anh Q chị H vay
tiếp 180.000.000đ. Mục đích để kinh doanh phát triển trang trại.Tổng cộng chị cho Q
chị H vay số tiền 890.000.000đ(tám trăm chín mươi triệu đồng).
Khi vay lãi suất thỏa thuận bằng lời nói theo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm của
các khoản vay. Kể từ đó cho đến nay anh Q chị H chưa trả cho ch khoản gốc và lãi nào.
Nay chị đề nghị tòa án buộc anh Q, chị H trả khoản gốc trên, lãi suất tính bằng lãi suất cơ
bản của Ngân hàng Nhà nước là 0,75%/ tháng.
Tßa ¸n nh©n d©n
huyÖn thanh thuû
tØnh Phó Thä
B¶n ¸n sè: 05/2019/DS-ST
Ngµy: 31/10/2019
V/V: Tranh chp hợp đồng
vay tài sản”
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc
2
Cụ thể chị yêu cầu anh Q chị H phải trả khoản lãi như sau:
+ Đối với khoản vay ngày 15/01/2013 số tiền 350.000.000đ tính đến ngày
31/10/2019 là 6 năm 9 tháng 17 ngày: 350.000.000đ x 0,75% x 6 năm 9 tháng 16 ngày =
214.025.000đ.
+ Đối với khoản vay ngày 16/6/2013 số tiền 360.000.000đ tính đến ngày
31/10/2019 là: 6 năm 4 tháng 15 ngày: 360.000.00x 0,75% x 6 năm 4 tháng 15 ngày
= 206.550.000đ.
+ Khoản vay ngày 01/12/2013 số tiền 180.000.00tính đến ngày 31/10/2019
5 năm 11 tháng : 180.000.000đ x 0,75% x 5 năm 11 tháng = 95.850.000đ .
Tổng ba khoản lãi: 516.425.000đ.
Tổng cộng gốc lãi là: 890.000.000đ + 516.425.000 đ= 1.406.425.000đ(một tỷ
bốn trăm linh sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Trong bản tự khai biên bản hòa giải tại Tòa án anh Nguyễn Hồng Q trình
bày:
Trong quá trình tòa án giải quyết, chị H là vợ ủy quyền cho anh Q tham gia tố tụng
tại tòa án. Trong bản tkhai anh Q xác định vay các khoản tiền như chị N trình bày,
mục đích để phát triển trang trại. Tuy nhiên những khoản tiền này là vay lãi cao có khoản
cộng gộp vào gốc, tuy nhiên anh không tài liệu chứng minh. Ngày 09/10/2019 tòa án
tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải anh Q nhất trí các khoản vay nchị N trình bày
như trên, số tiền các lần vay tổng cộng 890.000.000đ, lãi suất theo lãi suất của Ngân
hàng tại thời điểm của các khoản vay. Kể tđó cho đến nay anh chị chưa trả cho chị N
khoản gốc lãi nào. Nay chị N khởi kiện anh chị nhất trí trả khoản gốc trên cho chị N,
lãi suất tính bằng lãi suất bản của Ngân hàng nhà nước 0,75%/ tháng như trên. Tòa
án đã lập biên bản Hòa giải thành vào ngày 09/10/2019.
Tuy nhiên ngày 11/10/2019 anh Q, chị H đơn đề nghị thay đổi việc Hòa giải
thành do khi về anh thấy vợ chồng anh chỉ vay chị N 230.000.000đ một khoản
50.000.000đ một khoản 180.000.000đ, còn các giấy vay nợ đã ký là do gốc cộng vào lãi,
không vay đến khoản 890.000.000đ trên, nay anh, chị chnhất trí khoản 230.000.00
với lãi suất 0,75%. Việc anh, chị H ký vào 03 giấy vay nợ khống là do tin tưởng chị N
anh em họ hàng; anh, chị thừa nhận chữ trong các giấy vay nợ đúng của vợ
chồng anh. Anh đề nghị tòa án xem xét giải quyết đúng quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ ván do các đương sự cung cấp và
được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Chị H ủy quyền cho anh Q tham gia tố tụng tại tòa án, anh
Q do bận công việc nên không đến tham gia phiên tòa được, anh đơn đề nghị tòa án
xét xử vắng mặt anh. HĐXX căn cứ vào Khoản 1, Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị
đơn.
3
2. Về áp dụng pháp luật: Theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thì
hợp đồng dân sự này được thực hiện trước ngày Bộ luật 2015 có hiệu lực pháp luật. Giao
dịch vay nợ giữa chị N, anh Q chị H diễn ra vào năm 2013, thời điểm này bộ luật dân s
2005 đang hiệu lực pháp luật, tuy nhiên giao dịch này đang thực hiện nội dung
hình thức phù hợp với quy định của BLDS 2015, do đó HĐXX áp dụng các quy định của
Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết.
3. Về nội dung vụ án:
[1] Ngày 15/01/2013 chị cho anh Q chị H vay số tiền 350.000.000đ(ba trăm
năm mươi triệu đồng), ngày 16/62013 chị tiếp tục cho anh Q chị H vay s tiền
360.000.000đ (ba trăm sáu mươi triệu đồng). Ngày 01/12/2013 chị cho anh Q chị H vay
tiếp 180.000.000đ(một trăm m mươi triệu đồng). Tổng cộng chị N cho Q chị H vay số
tiền 890.000.00(tám trăm chín mươi triệu đồng). Khoản tiền trên anh Q chị H chưa trả
cho chị khoản gốc và lãi, nay chị yêu cầu anh Q chH phải trả cho chị 890.000.000đ gốc
lãi suất tính từ ngày vay đến ngày 31/10/2019 ngày xét xử, chị N yêu cầu tính lãi
0,75%/ 1 tháng.
Anh Q chị H xác định vợ chng anh chị vay tiền chị N, tại buổi hòa giải ngày
09/10/2019 anh Q chị H thừa nhận stiền vay như chị N trình bày đúng, anh chị đã
nhất trí trả số tiền gốc và i suất thỏa thuận bằng lời nói theo lãi suất Ngân hàng, nay hai
bên thỏa thuận bằng mức lãi suất bản của Ngân hàng Nhà nước 0,75%/ tháng. Tòa
án đã lập biên bnar Hòa giải thành, tuy nhiên sau đó anh Q chị H đã thay đổi lời khai,
không thừa nhận số tiền nợ gốc 890.000.000đ chỉ thừa nhận nợ chị N số tiền
230.000.000đ. Anh Q chị H thừa nhận chữ trong giấy vay tiền do mình ký ra, tuy
nhiên anh Q chị H cho rằng mình đã ký khống vào giấy biên nhận tiền trên do tin tưởng.
HĐXX thấy rằng: Việc chị N, anh Q chị H thỏa thuận vay số tiền 890.000.000đ,
giấy vay tiền bên vay là anh Q chị H ký ghi rõ họ tên. Không thỏa thuận lãi suất, giấy
vay tiền viết tay, không công chứng hay chứng thực, không ghi kỳ hạn trả nợ. n cứ
vào Điều 463, 469 BLDS 2015 đây một hợp đồng vay tài sản, loại hợp đồng vay
không kỳ hạn, có lãi là một giao dịch đúng quy định pháp luật.
Hơn nữa trong bản tự khai, trong biên bản tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa
giải, anh Q thừa nhận các khoản vay trên. Tòa án đã lập Biên bản Hòa giải thành ngày
09/10/2019 do các đương sự đã thỏa thuận được việc giải quyết vụ án. Nay chị N yêu cầu
anh Q chH trả 3 khoản ntrên hoàn toàn đúng , vì vậy cần chấp nhận đơn khởi kiện
của chị N buộc anh Q chị H phải trả khoản tiền gốc 890.000.000đ là phù hợp.
Việc anh Q trình bày vợ chng anh chỉ vay chị N 230.000.000đ, còn các giấy vay
nợ đã do gốc cộng vào lãi, không vay đến khoản 890.000.000đ trên, nay anh, chị
chỉ nhất tkhoản 230.000.000đ với lãi suất 0,75%. Việc anh, chị H vào 03 giấy vay
nợ khống do tin tưởng chị N là anh em họ hàng; anh, chị thừa nhận chữ trong các
giấy vay nợ là đúng là của vợ chồng anh. HĐXX thấy rằng lời trình bày của anh Q và chị
H không sở bởi lẽ, khi giao dịch anh chị H đều năng lực hành vi dân sự đầy
4
đủ, 03 giấy vay tiền đều thể hiện nội dung ràng về số tiền cho vay của từng khoản,
dưới mục người vay đều chữ xác nhận của vợ chồng anh chị. Điều đó thể hiện ý
chí của người vay và người cho vay thỏa thuận bình đẳng. Anh Q khai là khoản vay
này do lãi suất cao cộng gộp thành tiền gốc tuy nhiên cũng không đưa ra được căn cứ
nào thể hiện vấn đề này. Do đó HĐXX không chấp nhận yêu cầu của anh Q chị H, buộc
anh chị phải trả cho chị N khoản tiền 890.000.000đ.
[2] Về yêu cầu trả tiền lãi:
Trong giấy vay tiền không ghi mức lãi suất cụ thể, tuy nhiên chị N, anh Q chị H
thừa nhận khoản vay này thỏa thuận tính lãi suất bằng lời nói theo lãi suất ngân hàng tại
thời điểm vay. Hiện tại chị N, anh Q thống nhất lãi suất của các khoản vay 0,75%/1
tháng, thời điểm tính lãi từ ngày vay đến ngày xét x. Căn cứ Điều 468 BLDS 2015;
Điểm a, Khoản 3, Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP
TANDTC, hướng dẫn áp dụng mt số quy định về của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi
phạm, đây mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật vậy HĐXX chấp nhận
mức lãi suất này. Cụ thể số lãi như sau:
+ Đối với khoản vay ngày 15/01/2013 số tiền 350.000.000đ tính đến ngày
31/10/2019 6 năm 9 tháng 16 ngày: 350.000.000đ x 0,75% x 6 năm 9 tháng 16 ngày
= 214.025.000đ.
+ Đối với khoản vay ngày 16/6/2013 số tiền 360.000.000đ tính đến ngày
31/10/2019 là: 6 năm 4 tháng 15 ngày: 360.000.000đ x 0,75% x 6 năm 4 tháng 15 ngày
= 206.550.000đ.
+ Khoản vay ngày 01/12/2013 số tiền 180.000.00tính đến ngày 31/10/2019
5 năm 11 tháng : 180.000.000đ x 0,75% x 5 năm 11 tháng = 95.850.000đ .
Tổng ba khoản lãi: 516.425.000đ.
Tổng cộng gốc lãi là: 890.000.000đ + 516.425.000 đ= 1.406.425.000đ(một tỷ
bốn trăm linh sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).Buộc anh Q chị H phải trả
cho chị N.
[3]Về án phí: Anh Q, chH phải chịu án phí dân sự thẩm theo quy định của
pháp luật, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị N.
[4]Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 4, Điều 147; Điều 273; Khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụngn sự;
- Áp dụng: Điều 357, Điều 463; Khoản 1, Điều 466; Điều 468, 469, Điều 688; Bộ
luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về
mức thu, miễn giảm thu nộp, quảnvà sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
5
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị N.
2. Xử buộc anh Nguyễn Hồng Q, chị Bùi Thị Thúy H phải trả cho chị Trần Thị N
số tiền gốc 890.000.000đ và s tiền lãi là 516.425.000đ.
Tổng cộng 1.406.425.000đ(một tỷ bốn trăm linh sáu triệu bốn trăm hai mươi lăm
nghìn đồng).
Kể từ ngày án hiệu lực pháp luật,người được thi hành án đơn yêu cầu thi
hành án người phải thi hành án không thánh toán số tiền trên, thì phải trả lãi suất
đối với số tiền chậm trả tương ứng với thi gian chậm trả theo quy đinh tại Điều 357 Bộ
luật dân sự 2015.
3. Về án phí dân sự thẩm: Anh Nguyễn Hồng Q, chBùi Thị Thúy H phải chịu
54.192.700đ (năm mươi triệu một trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho chị Trần Thị N số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu
đồng) tiền tạm ứng án phí n s thẩm theo biên lai số AA/2017/0001605, ngày
14/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15ngày kể từ ngày tuyên án các Nguyên đơn có
mặt được quyền kháng cáo lên a án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm; Bị
đơn sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày ktừ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi t lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu
xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại c Điều 6,7 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 lut thi hành án.
Nơi nhận:
- VKSND huyÖn Thanh Thuỷ;
- THADS huyÖn Thanh Thuỷ;
- UBND xã T
- C¸c ®-¬ng sù;
- L-u hå s¬, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Viết Tú
Tải về
Bản án số 05/2019/DS-ST Bản án số 05/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất