Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 01/03/2024 của TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 01/03/2024 của TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tràng Định (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 04/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Lý Thị K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––
Bản án số: 04/2024/HS-ST
Ngày 01-3-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đàm Thiếu Phương;
Bà Nông Thị Hồng Thắm
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng
Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý
số: 04/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 04/2024/TLST - HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân
dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Họ và tên: L Th K; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/7/1959 tại huyện
T, tỉnh L; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh
L; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Nùng; giới tính:
Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn M, sinh năm
1925 (đã chết); Con bà: Nông Thị C, sinh năm 1929 (đã chết); Chồng: Nông
Văn E, sinh năm 1962 (đã chết); Con: Có 03 người, con lớn sinh năm 1994, con
nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết
án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 16/11/2023 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Ông Nông Văn L, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh L, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phan Thị T,
sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh L, có mặt.

2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 18/9/2023, Lý Thị K trong lúc đi ăn cưới trong thôn
thì được người dân nói cho biết thửa đất rừng số 931 ở khu đồi C thuộc thôn H,
xã Q ,huyện T mà bà K đang tranh chấp với ông Nông Văn L đã được ông L đi
trồng cây bạch đàn trên đó. Do bực tức nên khoảng 13 giờ cùng ngày, bà K một
mình đi bộ lên thửa đất 931 dùng tay phá, nh gốc tng số 560 cây bạch đàn,
cây cao 01 mét đến 1,5 mét đường kính gốc từ 01cm đến 1,5 cm do ông Nông
Văn L cùng vợ là Phan Thị T trồng từ tháng 4/2023 trên thửa đất rừng này. Đến
khoảng 15 giờ ngày 20/9/2023 ông L đi kiểm tra rừng bạch đàn do gia đình
trồng thì phát hiện nhiều cây bạch đàn bị phá, nh gốc đã đến Công an xã Q,
huyện T trình báo sự việc.
Tại bản kết luận định giá trị tài sản: 23/KL-HĐĐGTS, ngày 09/10/2023
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tràng Định kết luận:
560 cây bạch đàn bị nh gốc, các cây có đường kính gốc từ 01 cm đến 1,5 cm có
giá trị là: 7.640.000 (Bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng.
Cáo trạng số: 08/CT-VKSTĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024 truy tố bị
cáo Lý Thị K, về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 178 Bộ
luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng đã nêu, lời
khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan đến vụ án yêu cầu bà Lý Thị K bồi thường giá trị 560 cây bạch đàn bị nh
gốc, các cây có đường kính gốc từ 01 cm đến 1,5 cm tương ứng với giá trị là:
7.640.000đ (Bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố
bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp
dụng khoản 1, Điều 178; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 65 Bộ luật
hình sự xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, cho
hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, về tội hủy hoại tài
sản, không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách
nhiệm bồi thường dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và gia đình bị
hại về việc bồi thường với số tiền 7.640.000 đồng.Về xử lý vật chứng: Không
có vật chứng để xem xét giải quyết. Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét
xử giải quyết theo quy định của pháp luật
Tại phần tranh luận không ai có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng
của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những Điều tra viên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa hôm nay bị cáo,
bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành
vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy
tố đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ các
tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, căn cứ kết quả tranh luận
tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 13 giờ ngày 18/9/2023, tại
khu đồi C thuộc thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh L, bị cáo Lý Thị K có hành vi dùng
tay phá, nh 560 cây bạch đàn của ông Nông Văn L . Qua định giá xác định giá
trị tài sản bị huỷ hoại là: 7.640.000 đồng, như vậy bị cáo Lý Thị K đã phạm tội
Hủy hoại tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là
người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình
nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo tuy ít nghiêm
trọng nhưng đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật
bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong một bộ
phận đời sống dân cư trên địa bàn.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, do chưa có tiền án,
tiền sự, chưa bị kỷ luật.
[5] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành
khẩn khai báo về hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt b sung: Xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời
khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay thể hiện bị cáo không có tài sản riêng
và thu nhập n định, do vậy không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối
với bị cáo.
[8] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bồi
thường. Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện,
không trái điều cấm của luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

4
[9] Về xử lý vật chứng: Không có vật chứng để xem xét giải quyết.
[10] Những vấn đề khác với nhận định trên của Hội đồng xét xử,
không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi
của bị cáo là ít nghiêm trọng; hành động trong lúc bị bộc phát, hiện đang là
bị đơn trong vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất mà Tòa án
đang thụ lý giải quyết; bị cáo cũng đã cao tui, do vậy Hội đồng xét xử thấy
không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại
địa phương dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân xã cũng đủ cho bị cáo
nhận thức được hành vi của mình và răn đe những người có ý định phạm tội
tương tự.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135, khoản
2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331;
khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 65
Bộ Luật hình sự;
Căn cứ Điều 357; Điều 468; Điều 584; Điều 585; Điều 586 Bộ Luật
dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135;
khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1, Điều 23 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thị K phạm tội “ Hủy hoại tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
(01/3/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, phối hợp cùng gia đình
giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đi nơi cư trú thì thực hiện
theo pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được
hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết
định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5
3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Lý Thị
K và bị hại ông Nông Văn L , bà Phan Thị T về việc bồi thường số tiền:
7.640.000 (Bẩy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo chưa thanh toán được số tiền
trên mà ông Nông Văn L có đơn yêu cầu thi hành án thì bị cáo còn phải chịu lãi
xuất chậm trả theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
4.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án
phí hình sự sơ thẩm và 382.000 (ba trăm tám mươi hai nghìn) đồng án phí
dân sự có giá nghạch. Tng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 582.000 (Năm
trăm tám mươi hai nghìn) đồng để nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự. ơ
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Tràng Định;
- CQ Điều tra CA huyện Tràng Định;
- CQ THAHS huyện Tràng Định;
- Chi cục THA DS huyện Tràng Định;
- UBND xã Q, huyện Tràng Định;
- Bị cáo;bị hại;NCQL&NVLQ;
- Lưu HSVA.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã k
Hoàng Văn Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm