Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST ngày 16/01/2023 của TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2023/HNGĐ-ST ngày 16/01/2023 của TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Nam Đàn (TAND tỉnh Nghệ An) |
| Số hiệu: | 04/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/01/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bùi Thị Ng - Nguyễn Trọng Ph |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 16 - 01 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Huế.
Ông Phan Đình Nguyện.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông
Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N xét xử
sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 231/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng
11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXX-ST ngày 12/12/2022, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ng, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm 10, xã
Kh, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng Ph, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm 9, xã
Kh, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên
đơn chị Bùi Thị Ng trình bày thì:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng Ph kết hôn với nhau trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kh, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày
11/3/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh Phc được 03 năm thì phát
2
sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không
có tiếng nói chung; mặc dù được gia đình 02 bên hòa giải nhiều lần để vợ chồng
đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Mâu thuẫn ngày càng
căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không còn quan
tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên làm
đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng Ph.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Trọng Ph có 01
người con chung là Nguyễn Trọng Minh Ph, sinh ngày 01/4/2015. Ly hôn, chị
có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ
tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con thì chị không yêu cầu anh Ph cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị
đơn anh Nguyễn Trọng Ph nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do. Tòa án đã
nhiều lần liên lạc qua số điện thoại 0988.325.696 của anh Nguyễn Trọng Ph thì
anh đã biết được việc chị Ng làm đơn ly hôn với anh nhưng không có ý kiến gì.
Cháu Nguyễn Trọng Minh Ph có đơn trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì
cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ Bùi Thị Ng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định
của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của
mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không
thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của
Bộ luật Tố tụng dân sự
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81.
82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án, xử: Cho chị Bùi Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Trọng Ph;
về con chung: Giao con chung Nguyễn Trọng Minh Ph, sinh ngày 01/4/2015 cho
chị Bùi Thị Ng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng
thành; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Trọng Ph do chị
Bùi Thị Ng chưa yêu cầu. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu; Bị đơn
không có ý kiến gì, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Bùi Thị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với
anh Nguyễn Trọng Ph có hộ khẩu thường trú tại xã Kh, huyện N, tỉnh Nghệ An
nên đây là Tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, 39 của Bộ luật
tố tụng Dân sự. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; chị Bùi Thị Ng
xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Trọng Ph vắng mặt không có lý do. Vì vậy,
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và
228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2]. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ng và anh Nguyễn Trọng Ph kết hôn trên
cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kh, huyện N, tỉnh Nghệ An
vào ngày 11/3/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng
chung sống hạnh Phc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do
bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung; mặc dù được gia
đình 02 bên hòa giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng
không được cải thiện. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly
thân từ năm 2018 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Chị Ng
khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh Nguyễn Trọng Ph. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn
Trọng Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không
có lý do, không hợp tác làm việc với Tòa án, điều đó chứng tỏ không có ý thức
để đoàn tụ xây dựng hạnh Phc gia đình. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân
không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng,
làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn
nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần
chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Bùi Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn
Trọng Ph.
[3]. Về con chung: Chị Bùi Thị Ng và anh Nguyễn Trọng Ph có 01 con
chung là Nguyễn Trọng Minh Ph, sinh ngày 01/4/2015. Ly hôn, chị Ng có
nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh
Nguyễn Trọng Ph cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; nguyện
vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị Ng là chính đáng. Hội đồng xét xử
thấy rằng, từ trước đến nay, chị Ng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con
phát triển khỏe mạnh, bình thường. Vì vậy, để cuộc sống của con không bị xáo
4
trộn, không bị ảnh hưởng đến tâm, sinh lý, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát
triển về mọi mặt cho con, cần tiếp tục giao con chung cho chị Ng được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là có căn cứ, đúng
quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con.
[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, do chị Ng chưa yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ
cấp dưỡng cho anh Nguyễn Trọng Ph là phù hợp.
[5]. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Anh Nguyễn Trọng Ph không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trường hợp anh Nguyễn Trọng Ph yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ
kiện dân sự khác.
[6]. Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị Ng phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết
toàn bộ vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147
của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ng;
1. Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Ng và anh Nguyễn Trọng Ph được ly
hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trọng Minh Ph, sinh ngày
01/4/2015 cho chị Bùi Thị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con chung cho anh Nguyễn Trọng Ph do chị Bùi Thị Ng chưa yêu cầu. Anh
Nguyễn Trọng Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo
quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng
án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004801 ngày 01/11/2022 của
5
Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An. (Chị Ng đã nộp đầy đủ tiền
án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Ng và anh Nguyễn Trọng Ph có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND huyện N;
- Chi cục THADS huyện N;
- UBND xã Kh;
- Lưu hồ sơ vụ án, VPTA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huy Mạnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm