Bản án số 04/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 của TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 của TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Vũ Thư (TAND tỉnh Thái Bình) |
| Số hiệu: | 04/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/02/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 04/2021/HS-ST
Ngày 02 - 02 - 2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.
Bà Trần Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
V, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia
phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái
Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2021/TLST-HS
ngày 15 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:
02/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1980 tại Thái Bình; nơi cư
trú: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trnh
độ văn ha (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh C (đã chết) và bà Trương Thị L; có
vợ là Nguyễn Thị L; có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam
từ ngày 22 tháng 11 năm 2020 đến ngày 15 tháng 01 năm 2021 được thay đổi
bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)
- Bị hại: Ủy ban nhân dân xã NX, huyện V, tỉnh Thái Bnh; người đại
diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn L, Chủ tịch; người đại diện theo ủy quyền:
Ông Phạm Văn T, Ph Chủ tịch. (vắng mặt)
2
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V,
tỉnh Thái Bình. (có mặt)
2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981, là vợ bị cáo C; nơi cư trú: Thôn K,
xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Gia K, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện V,
tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
2. Anh Mai Văn C, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn C, xã V, thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện
V, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG V N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C thường ra đồng soi rắn, ếch bắt về bán nên biết phía sau
nghĩa trang liệt sỹ nhân dân thuộc địa phận thôn KX, xã NX, huyện V, tỉnh Thái
Bình có trồng một cây Tường Vy có chiều cao 3,5m, đường kính gốc trung bình
0,4m nên nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 22 giờ
ngày 01 tháng 9 năm 2020, C chuẩn bị 01 chiếc xẻng, 01 chiếc cưa loại nhỏ có
tay cầm màu đen rồi đi xe đạp mini màu xanh có gắn giỏ phía trước đầu xe đến
nghĩa trang liệt sỹ nhân dân. Đến nơi, C để xe đạp bên ngoài tường bao, để xẻng,
cưa lên trên nc lò đốt giấy tiền rồi trèo tường vào trong khuôn viên nghĩa trang
và đi đến chỗ cây Tường Vy được trồng ở bồn cây phía sau tượng đài. C dùng
cưa cắt cụt hết các cành cây Tường Vy rồi ném qua tường bao ra ngoài với mục
đích để dễ vận chuyển và không bị phát hiện, sau đ C dùng xẻng đào xung
quanh gốc cây Tường Vy. Khi đào được gốc cây Tường Vy lên, C vần cây ra vị
trí giáp tường bao rồi bê cây đặt lên mặt tường và đẩy cây rơi xuống ruộng phía
ngoài nghĩa trang, sau đ C thu dọn dụng cụ, trèo tường ra ngoài và bê cây đặt
lên giá đèo hàng phía sau xe đạp vận chuyển về nhà để cây ở sân rồi đi ngủ, lúc
này khoảng 02 giờ ngày 02 tháng 9 năm 2020. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, C
trồng cây Tường Vy vào chậu xi măng c sẵn ở nhà C và chăm sc cây. Ngày 29
3
tháng 9 năm 2020, C đến nhà anh Hoàng Gia K ở cùng thôn nhờ anh K hỏi xem
có ai mua cây Tường Vy không thì giới thiệu cho C. Đến khoảng 14 giờ 30 phút
cùng ngày, anh K dẫn anh Hoàng Văn H đến nhà C để xem và mua cây Tường
Vy. Sau khi thỏa thuận, C đồng ý bán cây Tường Vy cho anh H với giá
3.000.000 đồng. Mua xong, anh H vận chuyển cây về nhà chăm sc. Số tiền
3.000.000 đồng bán cây, C chi tiêu cá nhân hết. Ngày 02 tháng 9 năm 2020 đại
diện UBND xã NX, huyện V, tỉnh Thái Bình đã c báo cáo vụ việc gửi Công an
huyện V, tỉnh Thái Bình. Ngày 20 tháng 11 năm 2020 tại cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành
vi trộm cắp cây Tường Vy như đã nêu trên và giao nộp 01 chiếc cưa, 01 xe đạp
mini, đối với chiếc xẻng C khai đã làm mất. Cùng ngày, sau khi biết cây Tường
Vy do C trộm cắp mà có, anh H đã tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan Công an.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 30/KLHĐ ngày 20 tháng 10 năm
2020, số 01/KLHĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản trong
Tố tụng hình sự UBND huyện V, tỉnh Thái Bình kết luận: 01 cây Tường Vy có
chiều cao 3,5m, đường kính gốc trung bình 0,4m, có giá trị là 35.000.000 đồng
(ba mươi lăm triệu đồng).
Ngày 25 tháng 11 năm 2020 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V,
tỉnh Thái Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại UBND xã NX, huyện V,
tỉnh Thái Bình 01 cây Tường Vy và một số cành cây, thân cây Tường Vy, đại
diện UBND xã NX đã nhận lại tài sản và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho C,
ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Ngày 08 tháng 01 năm 2021 chị
Nguyễn Thị L (vợ C) đã trả cho anh Hoàng Văn H số tiền 3.000.000 đồng là tiền
anh H bỏ ra mua cây Tường Vy của C, anh H đã nhận đủ tiền và không có ý
kiến, đề nghị gì. Chị L không yêu cầu C phải trả lại chị số tiền trên.
Cáo trạng số 04/CT-VKSVT ngày 15 tháng 01 năm 2021 Viện kiểm sát
nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện V,
tỉnh Thái Bnh để xét xử đối với Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo
quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hnh sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo
trạng đã nêu;
4
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề
nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài
sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50,
Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 năm 09 tháng tù
đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm
06 tháng đến 04 năm 06 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự,
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cưa c tay cầm màu
đen, tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 xe đạp mini màu xanh quản lý
của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn C đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện
V, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội
của Kiểm sát viên.
Bị cáo Nguyễn Văn C ni lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi phạm tội của
bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất hối hận. Đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm.
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trnh điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trnh tự, thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hnh sự. Quá trnh điều tra và tại phiên tòa,
không ai c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Nguyễn Văn C khai
nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của
bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trnh điều tra, truy tố, phù hợp
với đơn trnh báo và lời khai của bị hại, biên bản hiện trường, sơ đồ hiện trường,
kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai
của những người làm chứng, ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu,
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử c đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 01 tháng 9 năm 2020 đến 02 giờ ngày 02
5
tháng 9 năm 2020 tại nghĩa trang liệt sỹ nhân dân thuộc địa phận thôn KX, xã
NX, huyện V, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn C đã c hành vi trộm cắp 01 cây
Tường Vy có chiều cao 3,5m, đường kính gốc trung bình 0,4m thuộc quyền
quản lý, chăm sc của UBND xã NX, huyện V, tỉnh Thái Bình, cây Tường Vy
có giá trị 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng). Theo quy định tại khoản 1
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định, thì: “Người nào trộm cắp tài sản của người
khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000
đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt C tạo không
giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”. Hành vi trên của
Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được
quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo
Nguyễn Văn C, thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản của bị hại là UBND xã NX, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu, gây tâm lý lo lắng
cho chủ tài sản trong việc trông coi, quản lý tài sản. Bị cáo là người đã trưởng
thành, c đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi
phạm pháp luật nhưng do lười lao động lại muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên
bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm.
[5] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
bị cáo, thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc
trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trnh điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo,
do đ, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo, thấy: Bị cáo Nguyễn Văn C có
nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, c nơi cư trú rõ ràng, c khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo
được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, trị an xã hội, do đ, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 65 Bộ
6
luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù
hợp, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục
như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Khoản 5 Điều 173 Bộ Luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo không
có việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
[8.1] Xét việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Thái Bình
đã trả lại tài sản là 01 cây Tường Vy có chiều cao 3,5m, đường kính gốc trung
bình 0,4m và một số cành cây, thân cây Tường Vy cho bị hại UBND xã NX,
huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 25 tháng 11 năm 2020 là c căn cứ, đúng chủ
sở hữu, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác, do đ
Hội đồng không giải quyết.
[8.2] Xét việc chị Nguyễn Thị L đã trả cho anh Hoàng Văn H số tiền
3.000.000 đồng là tự nguyện, đúng pháp luật, anh H đã nhận đủ tiền và không có
ý kiến, đề nghị gì khác, chị L không yêu cầu bị cáo C phải trả lại chị khoản tiền
trên, do đ Hội đồng xét xử không giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng, tài sản:
[9.1] Đối với 01 chiếc cưa c tay cầm màu đen cơ quan điều tra đã quản lý
của Nguyễn Văn C là công cụ bị cáo thực hiện tội phạm, không còn giá trị sử
dụng, căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
[9.2] Đối với chiếc xe đạp mini màu xanh có gắn giỏ phía trước đầu xe cơ
quan điều tra đã quản lý của Nguyễn Văn C là phương tiện C sử dụng để thực
hiện hành vi phạm tội, đây là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Nguyễn Thị
L, tuy nhiên, bị cáo và chị L đều từ chối nhận lại chiếc xe trên, căn cứ quy định
tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử
tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.
[10] Đối với anh Hoàng Văn H, anh Hoàng Gia K, quá trnh điều tra xác
định khi C nhờ anh K tm người mua cây Tường Vy và quá trình giao dịch mua
cây Tường Vy, C không nói nên anh H, anh K đều không biết cây Tường Vy là
do C trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
7
[11] Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp án phí hnh sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn C, bị hại UBND xã NX, huyện V, tỉnh Thái
Bình và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Hoàng Văn
H, chị Nguyễn Thị L c quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn
C 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03
(ba) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02 tháng
02 năm 2021). Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện V,
tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp
người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú th thực hiện theo quy định tại
khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được
hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định
buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc cưa có tay
cầm bằng nhựa màu đen. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe
đạp màu xanh có gắn giỏ phía trước đầu xe. (Toàn bộ vật chứng, tài sản đã được
chuyển đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái Bình vào
ngày 19 tháng 01 năm 2021).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp
200.000 đồng (hai trăm nghn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự. Bị cáo Nguyễn Văn C và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ
án là anh Hoàng Văn H, chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn
8
15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02 tháng 02 năm 2021). Bị hại UBND xã NX,
huyện V, tỉnh Thái Bình có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhn:
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh
Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan
Thi hành án hình sự Công an huyện V,
tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự
huyện V, tỉnh Thái Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐNG XT X SƠ THM
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thy Dương
9
HỘI ĐNG XÉT X SƠ THM
HỘI THM NHÂN DÂN
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thy Dương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng