Bản án số 04/2020/KDTM-PT ngày 22/12/2020 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp về mua bán hàng hóa
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2020/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2020/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2020/KDTM-PT ngày 22/12/2020 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp về mua bán hàng hóa |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về mua bán hàng hóa |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 04/2020/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/12/2020 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty B kiện Công ty X về trả tiền mua bán hàng còn nợ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 04/2020/KDTM-PT
Ngày 22-12-2020
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy;
Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Sơn và ông Lộc Sơn Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Ông Lộc Văn Đông,
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 05/2020/TLPT-
KDTM ngày 03 tháng 11 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán (vi
phạm điều khoản thanh toán);
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2020/KDTM-ST ngày
23 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2020/QĐ-PT ngày
23 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần B; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh
Lạng Sơn.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà K, Giám đốc công ty;
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông C và ông H, Luật sư Văn phòng Luật
sư H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ: đường V, phường Đ, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn (theo văn bản ủy quyền ngày 16-11-2020); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông C và ông
H, Luật sư Văn phòng Luật sư D, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ:
đường V, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn X; địa chỉ: đường P, phường T,
thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
2
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông V, Giám đốc Công ty;
vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Bà T, Kế toán trưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn X (theo Giấy ủy
quyền lập ngày 14-8-2020); có mặt;
Ông L, Luật sư Công ty Luật Trách nhiệm Hữu Hạn N, Đoàn Luật sư
thành phố Hà Nội; địa chỉ: phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Văn phòng
giao dịch: phố V, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông L, Luật sư Công
ty Luật Trách nhiệm Hữu Hạn N, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ:
phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Văn phòng giao dịch: phố V, quận H,
thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh D, Đội trưởng Đội thi công
của Công ty Trách nhiệm hữu hạn X; địa chỉ: khu đô thị P, phường T, thành phố
L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 02-7-2016 Công ty Cổ phần B (gọi tắt là Công ty B) và Công ty
Trách nhiệm hữu hạn X (gọi tắt là Công ty X) ký kết hợp đồng số
207/HĐMB/2016 có nội dung: Công ty X mua bê tông do Công ty B sản xuất để
thi công xây dựng công trình Trung tâm thương mại số 206 đường N, phường T,
thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; ngoài ra, hợp đồng có thể hiện sự thỏa thuận giữa
các bên về giá cả, quy cách sản phẩm và phương thức thanh toán.
Quá trình thực hiện hợp đồng, kể từ ngày 04-7-2016 đến ngày 12-10-
2016, Công ty B đã cung cấp cho Công ty X 692m
3
bê tông. Ngày 06-01-2017,
hai bên đã ký Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành, Biên bản nghiệm thu
giá trị hoàn thành và Biên bản đối chiếu công nợ. Theo đó, 692m
3
bê tông trị giá
783.640.000 đồng, Công ty X đã thanh toán cho Công ty B tổng số tiền là
400.000.000 đồng, còn nợ lại 383.640.000 đồng.
Công ty B đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu Công ty X thanh toán nợ
nhưng không có kết quả. Vì vậy, Công ty B khởi kiện yêu cầu Công ty X hoàn
trả cho Công ty B tổng số tiền 494.972.328 đồng, bao gồm 383.640.000 đồng
tiền mua bê tông còn nợ và 111.332.328 đồng tiền lãi kể từ ngày hai bên chốt nợ
(01-01-2017) đến hết ngày 30-4-2020.
Theo ông V, giám đốc Công ty X trình bày: Ông có quan hệ quen biết với
anh D là chủ thầu thi công xây dựng công trình tại 206 đường N, phường T,
thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 18-3-2016, Công ty X có văn bản ủy quyền
cho anh D tham gia thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, được thực hiện các công
3
việc trong Hợp đồng thi công xây dựng công trình trung tâm dịch vụ thương mại
tại số 206 đường N, phường T, thành phố L như tự mua vật tư, vật liệu xây
dựng, đầu tư xây dựng công trình, nghiệm thu thanh quyết toán với chủ đầu tư,
đại lý cung cấp vật tư, vật liệu xây dựng, người lao động và một số nội dung
khác. Do Công ty của anh D không còn hoạt động nên ông đã đồng ý ký hợp
đồng mua bê tông và ký đối chiếu công nợ với Công ty B hộ anh D. Thực tế
Công ty X không được mua bê tông với Công ty B. Vì vậy, Công ty X không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty B; anh D mới là người chịu trách
nhiệm trả khoản nợ này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh D thừa nhận việc anh nhờ
Công ty X ký hợp đồng số 207/HĐMB/2016 như lời trình bày ông V. Anh trực
tiếp đàm phán với Giám đốc Công ty B là Bà K về việc mua bán bê tông. Khi
đối chiếu công nợ, anh đã đề nghị với kế toán của Công ty X và nhờ ông V xác
nhận số nợ với Công ty B là 384.640.000 đồng. Anh D thừa nhận, anh còn nợ
Công ty B 384.640.000 đồng nhưng do làm ăn thua lỗ, nên anh chưa trả được
khoản nợ trên cho Công ty B. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của
pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt anh D, gửi Thông báo kết quả
phiên họp cho anh D theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận được Quyết định
đưa vụ án ra xét xử, anh D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng
mặt anh.
Bản án sơ thẩm số 07/2020/KDTM-ST ngày 23 tháng 9 năm 2020 của
Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ vào các Điều 87,
357, 401, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 50, 300, 301, 306 Luật thương
mại; khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản
1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án; quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần B. Buộc Công
ty Trách nhiệm hữu hạn X phải trả cho Công ty Cổ phần B tổng số tiền
494.957.000 đồng, bao gồm tiền mua bê tông còn nợ là 383.640.000 đồng, tiền
lãi chậm thanh toán là 111.317.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định nghĩa vụ chịu lãi chậm trả, án
phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Trong thời hạn luật định, bị đơn là Công ty X có đơn kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn
bộ Bản án sơ thẩm để xét xử lại, buộc anh D thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công
ty B.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của Công ty X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với các căn cứ: Tòa án cấp sơ

4
thẩm không lấy lời khai, không tổ chức đối chất, hòa giải giữa các đương sự;
không đưa ông T tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng và xét xử vụ án
vắng mặt anh D là không đảm bảo xem xét khách quan, toàn diện các chứng cứ,
tình tiết của vụ án.
Người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của Công ty B không đồng ý với nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử
bác kháng cáo của Công ty X, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Anh D thừa nhận việc anh nhờ Giám đốc Công ty X ký hợp đồng mua bê
tông và bảng đối chiếu công nợ với Công ty B. Do làm ăn thua lỗ, anh chưa trả
được nợ cho Công ty B nên nhờ Công ty X trả giúp và anh sẽ có trách nhiệm
hoàn trả cho Công ty X.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa
phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm
và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và
các đương sự, người tham gia tố tụng khác chấp hành đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự;
Về nội dung: Hợp đồng số 207/HĐMB/2016 giữa Công ty X và Công ty
B được người đại diện theo pháp luật của 02 bên ký kết trên cơ sở tự nguyện,
không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ Hợp
đồng mua bán nói trên và Biên bản đối chiếu công nợ, Công ty X còn nợ Công
ty B 383.640.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty X có trách
nhiệm thanh toán nợ cho Công ty B bao gồm nợ gốc và nợ lãi là có căn cứ. Quá
trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không vi phạm tố tụng nên không có
căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty X. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự; bác kháng cáo của Công ty X; giữ
nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người đại diện theo pháp luật của Công ty B và người đại diện theo
pháp luật của Công ty X đều vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy
quyền của họ tham gia phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án
theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Mặc dù anh D thừa nhận anh là người trực tiếp mua bê tông với Công
ty B, thừa nhận hiện nay anh còn nợ Công ty B 384.640.000 đồng. Tòa án thụ lý
vụ án theo đơn khởi kiện của Công ty B khởi kiện Công ty X, vì vậy theo quy
định tại khoản 3, khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Công ty X là bị
đơn còn anh D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[3] Ông V, Giám đốc Công ty X thừa nhận ông là người ký với Công ty B
Hợp đồng hợp đồng mua bán bê tông (hợp đồng số 207/HĐMB/2016) với tư
cách là bên mua, sau đó hai bên tiếp tục ký Biên bản nghiệm thu khối lượng
hoàn thành, Biên bản nghiệm thu giá trị hoàn thành và Biên bản đối chiếu công
nợ. Nội dung các văn bản nói trên thể hiện, Công ty B đã cung cấp cho Công ty
5
X 692m
3
bê tông trị giá 783.640.000 đồng, Công ty X đã thanh toán cho Công ty
B 400.000.000 đồng, còn nợ lại 383.640.000 đồng.
[4] Mặt khác, Hợp đồng mua bán số 207/HĐMB/2016 ngày 02/7/2016
giữa Công ty X và Công ty B được người đại diện theo pháp luật của 02 doanh
nghiệp ký kết trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp luật. Vì vậy, hợp đồng có
giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Tại khoản 1 Điều
87 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “pháp nhân phải chịu trách nhiệm
dân sự về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập,
thực hiện nhân danh pháp nhân”. Bên cạnh đó, Giấy ủy quyền lập ngày 18-3-
2016 giữa Công ty X và anh D không là cơ sở để xác định trách nhiệm trả nợ
của anh D đối với Cong ty B. Vì vậy, Công ty X phải thực hiện các quyền, nghĩa
vụ dân sự do ông V xác lập, thực hiện nhân danh doanh nghiệp.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ lời
khai đối với người đại diện hợp pháp của Công ty B, Công ty X và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh D. Do lời khai của các đương sự phù hợp
với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như hợp đồng số
207/HĐMB/2016, Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành, Biên bản
nghiệm thu giá trị hoàn thành và Biên bản đối chiếu công nợ. Vì vậy, việc đối
chất giữa các đương sự là không cần thiết.
[6] Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự thương
lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; do anh D vắng mặt nên
phiên họp được tiến hành với sự tham gia của người đại diện của Công ty B và
người đại diện của Công ty X; Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp cho anh D
theo quy định của khoản 3 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi nhận được
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử
vụ án vắng mặt anh D, lời khai của anh D đã được Hội đồng xét xử công bố tại
phiên tòa. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh D là
phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 254 của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[7] Do ông T không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án này nên đề
nghị của bị đơn về việc đưa ông T vào tham gia tố tụng là không phù hợp pháp
luật nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ
thẩm đã xác định đúng, đủ thành phần tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tố tụng
mà Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo
đúng quy định của pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của B là có căn cứ.
[9] Do Tòa án cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng, vì vậy yêu cầu
hủy Bản án sơ thẩm mà bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
đơn đưa ra là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề
nghị bác kháng cáo của bị đơn mà nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích
6
hợp pháp của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát đưa ra là có cơ sở, phù hợp
pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí phúc thẩm, do kháng cáo của Công ty X không được chấp
nhận nên theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, và Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Công ty X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
đối với tranh chấp kinh doanh thương mại, sung Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 1, 3 Điều 87; Điều 357; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều
50, 300, 301, 306 Luật thương mại năm 2005; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn X, giữ
nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2020/DS-KDTM ngày 23
tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, cụ
thể:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần B.
Buộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn X phải trả cho Công ty Cổ phần B
tổng số tiền 494.957.000đ (bốn trăm chín mươi tư triệu chín trăm năm mươi bảy
nghìn đồng), bao gồm: Tiền mua bê tông còn nợ là 383.640.000 đồng, tiền lãi
chậm thanh toán là 111.317.000 đồng.
Kể từ ngày từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án
cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Công ty Trách nhiệm Hữu hạn X phải chịu 23.798.000 đồng án phí kinh
doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch và 2.000.000 đồng án phí dân sự phúc
thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại; sung Ngân sách Nhà nước.
Số tiền trên được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà Công ty Trách
nhiệm Hữu Hạn X đã nộp Biên lai thu tiền số AA/2015/0002417 ngày 08-10-
2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; Công
ty Trách nhiệm Hữu hạn X còn tiếp tục phải nộp 23.798.000 đồng (hai mươi ba
triệu bẩy trăm chín mươi tám nghìn đồng chẵn).
Hoàn trả Công ty Cổ phần B 11.899.000 đồng (mười một triệu tám trăm
chín mươi chín nghìn đồng chẵn) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tiền số AA/2015/0002294 ngày 16-6-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
-
TANDCC tại Hà Nội;
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Tổ HCTP, Phòng KTNV&THA;
- TAND TPLS, tỉnh Lạng Sơn;
- CCTHADS TPLS, tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Người TGTT khác;
- Lưu: Hồ sơ, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh Thùy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm