Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST ngày 30/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 037/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST ngày 30/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 037/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 13-LÂM ĐỒNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 37/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 30/7/2026
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bá Đình Tâm
Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung - Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Thành - Cán
bộ Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm
Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số
50/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-
HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số
29/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13- Lâm
Đồng giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh năm 1995
Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Thôn C nay là thôn P xã H, tỉnh Lâm Đồng
Nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn: Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình điều tra thu thập chứng cứ nguyên đơn chị Trần
Thị C trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau
và xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND
xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình T vào ngày 15/3/2012. Sau khi kết hôn
2
hai vợ chồng về làm ăn, sinh sống tại nhà chị C tại thôn Châu Hanh, xã Phan Thanh,
huyện Bắc Bình.
Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau rất vui vẻ, hạnh
phúc. Đến đầu năm 2013 thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không có
tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau mâu thuẫn ngày càng trầm
trọng. Đến cuối năm 2015 vợ chồng sống ly thân và hiện không còn liên lạc, quan
tâm nhau.
Trong thời gian vợ chồng sống ly thân anh T cũng đã quen biết và có 02 con
với người phụ nữa khác. Chị cảm thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục
đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đặng Văn T1, sinh ngày
14/9/2014, hiện con đang ở với mẹ. Sau khi ly hôn chị C yêu cầu được nuôi dưỡng
con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòà án giải quyết.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Đặng Văn T: Anh Đặng Văn T không đến Tòa án theo giấy triệu
tập, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tống
tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13- Lâm Đồng phát biểu ý kiến
như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký
phiên tòa:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy
định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định của pháp luật. Bị đơn thường xuyên vắng mặt, không chấp hành theo giấy
triệu tập của Tòa, vi phạm quy định tại Điều 70 BLTTDS năm 2015
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị C được ly hôn với anh Đặng Văn T.
- Về con chung: Giao con chung Đặng Văn T1 sinh ngày 14/9/2014 cho chị
C chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai được cản trở quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm
3
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn của anh T. Chị C không yêu cầu
cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem
xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm chị Trần Thị C có đơn xin xét
xử vắng mặt, anh Đặng Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng
mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của
Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Trần Thị C và anh Đặng Văn T.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trong quá trình điều tra thu thập chứng
cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện thì giữa chị Trần Thị C và anh Đặng
Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phan Thanh theo Giấy chứng nhận kết hôn
số 21 ngày 15/3/2012 nay là xã Hồng Thái nên xác định loại tranh chấp là tranh
chấp hôn nhân gia đình và thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đặng Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn
Châu Hanh nay là thôn Phan Thanh, xã Hồng Thái, tỉnh Lâm Đồng nên yêu cầu
khởi kiện ly hôn của chị C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 13- Lâm Đồng theo quy định tại Điều 1, Điều 3 của Nghị quyết số:
81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và theo
quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy: Chị Trần Thị
C và anh Đặng Văn T xác lập quan hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký
kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp do đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và
chồng.
Chị C và anh T xác lập quan hệ vợ chồng năm 2012, cuộc sống hôn nhân
vợ chồng chị C và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, anh T đã không làm tròn trách nhiệm
của người chồng, không cùng chị C xây dựng gia đình hạnh phúc; vợ chồng đã ly
thân một thời gian dài không còn quan tâm lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng
không còn.
Anh T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đến Tòa án để
làm việc nhưng anh T cố tình không đến, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được,
chứng tỏ anh T đã không có thiện chí để hàn gắn lại hạnh phúc gia đình với chị C.
4
Từ nhận định trên có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh
T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ khoản
1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của chị C với anh
T là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Đặng Văn Toàn, sinh ngày
14/9/2014 hiện đang sinh sống cùng chị Trần Thị C và nguyện vọng của cháu là ở
với mẹ. Chị C là người trực tiếp nuôi các con từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đến
nay, chị C có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo tốt hơn về mặt tinh thần,
học tập và sinh hoạt của con chung; việc giao cháu Toàn cho chị C trực tiếp nuôi
dưỡng sẽ đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, phù hợp với lợi ích về mọi mặt
của cháu Toàn, chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[5] Về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng
dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị C được ly hôn với anh Đặng Văn T
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị C trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục
con chung Đặng Văn Toàn, sinh ngày 14/9/2014 đến khi trưởng thành, chị C không
yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom và chăm sóc con chung,
không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm
dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa
án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, khi cần
thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi
con, việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5
Về án phí: Chị Trần Thị C phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm
nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, chị C đã nộp tại
biên lai thu số 0003289, ngày 03/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng,
chị Trần Thị C đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: n xử công khai vắng mặt nguyên và bị đơn báo cho
họ biết có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc niêm yết công khai bản án.
Nơi nhận:
- Tòa án tỉnh;
- VKS ND (khu vực 13- Lâm Đồng);
- THADS tỉnh;
- UBND xã Hồng Thái;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thanh Nữ Kiều Oanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST Bản án số 037/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất