Bản án số 03/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 03/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp về chia tài sản chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 03/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông C, ông Tr đều kháng cáo. HĐXX không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 03/2026/DS-PT
Ngày 06 - 01 - 2026
“V/v:Yêu cầu tuyên bố văn bản thoả thuận
phân chia tài sản chung văn bản thoả
thuận phân chia di sản thừa kế hiệu;
Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia
đình và chia thừa kế tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú; Ông Đỗ Thế Bình
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh xét xử vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 325/2025/TLPT- DS ngày 10
tháng 11 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia tài
sản chung văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hiệu; Tranh chấp
chia tài sản chung của hộ gia đình và chia thừa kế tài sản”, do bản án dân sự
thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
3 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 91/2025/QĐ-PT ngày
26 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 96/2025/QĐ-PT ngày 12
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: ông Ngô Lai C, sinh năm 1974 (có mặt)
Nơi thường trú: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Giáp Tuấn T -
Luật sư Công ty L3.VN (có mặt)
Địa chỉ: số B, Đ, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị đơn: cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1), sinh năm 1933 (có mặt)
Nơi thường trú: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1972 (có mặt)
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
2
2. Bà Ngô Thị Ú, sinh năm 1959 (có mặt)
Nơi thường trú: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cụ C1, bà H và bà Ú:
- Ông Ngô Thế H1, Luật sư văn phòng L4 - Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số
A, đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
- Ông Hoàng Văn C2, Luật sư Công ty L5 Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số
S, chung cư D, đường H, phường B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)
3, Bà Đinh Thị N, sinh năm 1976 (vắng mặt)
4. Anh Ngô Lai H2, sinh năm 2001 (có mặt)
5. Chị Ngô Thị Thanh H3, sinh năm 2003 (vắng mặt)
6. Bà Ngô Thị M, sinh năm 1955 (có mặt)
7. Bà Trần Thị H4, sinh năm 1965 (vắng mặt)
8. Anh Ngô Quốc H5, sinh năm 1990 (vắng mặt)
9. Chị Ngô Cẩm V, sinh năm 1993 (vắng mặt)
10. Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Đều thường trú: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
11. Bà Ngô Thị L, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Nơi thường trú: chung P, khu đô thị C, phường T, thành phố Hồ Chí
Minh.
12. Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
13. Ủy ban nhân dân N, tỉnh Bắc Ninh (là quan kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang).
Người đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị T3 Công chức văn phòng
HĐND-UBND N (theo văn bản uỷ quyền số 403 ngày 18/7/2025 (có đơn xin
vắng mặt).
+ Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Ngô Lai T4:
- Cụ Ngô Văn C1, sinh năm 1933 (có mặt)
- Dương Thị T5, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Anh Ngô Ngọc T6, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Đều thường trú: Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Ngô Thị T7, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
3
Người kháng cáo: Bị đơn cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1); người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị M, bà Ngô Thị Ú .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bn án dân s thẩm s 52/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vc 3 - Bc Ninh, ni dung v án như sau:
Nguyên đơn ông Ngô Lai C trình bày:
Bố ông cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1), sinh năm 1933, mẹ ông cụ
Nguyễn Thị T8, sinh năm 1933 (chết m 2019) đã chung sống sinh được 9
người con gồm có bà Ngô Thị M, bà Ngô Thị Ú, ông Ngô Văn H6, bà Ngô Thị L,
ông Ngô Lai T4, bà Ngô Thị L1, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị T2 và ông là Ngô Lai
C. Ngoài ra, bố mẹ không người con đẻ, con nuôi nào khác. Sau khi trưởng
thành, các chị, em gái của ông lấy chồng về sinh sống tại nhà chồng, các anh
trai lấy vợ và ra ở riêng, chỉ còn lại ông ở chung với bố mẹ.
Năm 1997 ông kết hôn với Đinh Thị N, đăng kết hôn tại Uỷ ban
nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) A, huyện T. Sau khi kết hôn, vợ chồng
ông ở chung với bố, mẹ. Khi về ở cùng với bố mẹ thì tài sản của gia đình có: diện
tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ; 910,1m
2
đất vườn) tại thửa số 16, tờ
bản đồ số 05, địa chỉ ở phố B (nay là tổ dân phố B), thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc
Giang. Nguồn gốc đất là do bác ruột cụ Ngô Văn T9 tặng cho bố ông từ
khoảng năm 1960 trở vtrước. Trên đất một ngôi nhà năm gian; ba gian nhà
ngang; hai gian bếp; công trình phụ (chuồng lợn). Trong quá trình sử dụng, do
một số công trình xuống cấp nên khoảng năm 1999 vợ chồng ông bố mẹ đã
sửa chữa ngôi nhà 5 gian đó là phá bỏ tường trình đất để xây gạch và lát nền bằng
gạch hoa, ngoài ra còn xây dựng toàn bộ tường bao, làm cổng, khoan giếng, làm
lại chuồng lợn. Ngày 22/12/2003, thửa đất trên được UBND huyện T cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt GCNQSDĐ) lần đầu cho hộ
ông Ngô Văn C1. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình gồm có: Cụ Ngô
Văn C1, cụ Nguyễn Thị T8, vợ chồng ông và hai con là anh Ngô Lai H2, chị Ngô
Thị Thanh H3. Nay ông xác định diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở;
910,1m
2
đất vườn) tại thửa số 16, tờ bản đồ số 05, địa chỉ phố B (nay tổ dân
phố B), thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang) là tài sản chung của hộ gia đình gồm
6 thành viên nêu trên, nay ông đề nghị chia quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản
đồ số 05, diện tích 1210,1m
2
nêu trên cho 06 thành viên trong hộ là: Cụ Ngô Văn
C1, cụ Nguyễn Thị T8, vợ chồng ông hai con của ông theo quy định của pháp
luật. Ngày 29/4/2019 cụ Nguyễn Thị T8 chết, khi chết mẹ ông không để lại di
chúc. Tài sản mẹ ông để lại quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 16, tbản đồ
số 05 nêu trên, đề nghị chia thừa kế tài sản trên của mẹ ông theo quy định của
pháp luật.
Đối với các công trình, cây lâm lộc trên diện tích 1210,1m
2
do bố mông
vợ chồng ông tạo dựng, các con ông còn nhỏ không đóng góp được gì, ông
không yêu cầu chia. Trường hợp ai được chia phần diện tích đất nào thì người đó
4
sẽ được sử dụng các công trình, cây cối lâm lộc trên diện tích đất được chia; ông
không yêu cầu giải quyết về mai táng phí hay các khoản nào khác.
Căn cứ vào hai văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình
do UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD
ngày 19/10/2020 văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn
Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-
SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020 thì ngày 03/02/2021, UBND huyện T đã cấp
GCNQSDĐ số DA 232768 mang tên cụ Ngô Văn T1 đối với thửa đất số 63, tờ
bản đồ số 22, diện tích 555,5m
2
tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc
Giang và GCNQSDĐ số DA 232769 mang tên ông Ngô Lai C đối với thửa đất số
64, tờ bản đồ số 22, diện tích 655,8m
2
tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh
Bắc Giang. Ngày 01/10/2023, NThị H khởi kiện tới Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Giang đề nghị Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ số DA 232769 mang tên Ngô
Lai C. Ngày 13/8/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang ra bản án số
58/2024/HC-ST giải quyết vụ án đã nhận định văn bản thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế ngày 19/10/2020 để làm căn cứ tách thửa, cấp GCNQSDĐ cho ông
Ngô Lai C không giá trị pháp lý, do Ngô Thị L1, bà Ngô Thị L không
vào biên bản tuyên hủy GCNQSDĐ số DA 232769 do UBND huyện T cấp
ngày 03/02/2021 mang tên ông, tuyên hủy GCNQSDĐ số DA 232768 do UBND
huyện T cấp ngày 03/02/2021 mang tên bố ông. Nay ông xác định văn bản thỏa
thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số
260, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 Văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N
chứng thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày
19/10/2020 không đầy đủ chủ thể tham gia giao dịch, đề nghị tuyên bố hai n
bản trên hiệu theo quy định của pháp luật đchia tài sản chung của hộ gia
đình chia thừa kế tài sản của mẹ ông để lại theo quy định, ông đề nghị chia
cho ông bằng hiện vật.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông C đề nghị tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia
tài sản chung của hộ gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số:
01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 và văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số
261, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020 hiệu. Đối
với diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại tờ bản
đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ thửa đất tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc
Giang (nay thôn B, N, tỉnh Bắc Ninh), đo đạc hiện trạng 1218,8m
2
tài
sản chung của hộ gia đình, đề nghị chia cho bốn người gồm vợ, chồng ông, cụ C1
cụ T8 theo quy định của pháp luật. Đối với tài sản của mông để lại quyền
sử dụng đất thuộc tờ bản đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ thửa đất tổ dân phố B, thị
trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh) ông đề nghị
chia thừa kế di sản của cụ T8 cho hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1) trình bày:
5
Cụ kết hôn với cụ Nguyễn Thị T8 năm 1954, sau khi kết hôn vợ chồng cụ
trên diện tích đất hiện nay cụ đang sử dụng. Trước khi kết hôn với cụ T8, cụ đã
có diện tích đất này, nguồn gốc đất là do bố, mẹ cụ và gia đình cụ T10 chú ruột
sử dụng tnăm 1947. Đến năm 1957 thì bố các anh chị em của ccùng gia
đình cụ T10 chuyển về Bắc Ninh sinh sống, chỉ còn lại cụ mẹ sinh sống trên
đất. Năm 1989 mcụ chết, khi chết không để lại di chúc. Sau khi mẹ chết, vợ
chồng cụ tiếp tục quản lý đất. Diện tích đất này trước đây chưa được cấp
GCNQSDĐ, m 1991 cụ khai đến năm 1998 được cấp GCNQSDĐ lần
đầu, do không còn GCNQSDĐ nên diện tích đất, số tờ bản đồ, số thửa cụ không
rõ. Năm 2003 cấp đổi GCNQSDĐ từ bìa đỏ cấp năm 1998 sang bìa hồng thì diện
tích cụ đang sử dụng 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại
tờ bản đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc
Giang mang tên hộ gia đình ông Ngô Văn C1. Cụ xác định diện tích đất trên
của nhân cụ, không phải của vợ chồng cụ đất này trước khi cụ kết hôn
với cụ T8. Ngày 29/4/2019 cụ Nguyễn Thị T8 chết, khi chết không để lại di chúc.
Sau khi cụ T8 chết, cụ ông C được cấp GCNQSDĐ dựa vào Văn bản thỏa
thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình và Văn bản thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực ngày
19/10/2020. Hai văn bản trên không phải ý ccủa cụ nên cụ đồng ý với yêu
cầu của ông C đề nghị tuyên văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ
gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-
SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 và văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của
cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số 261, quyển số:
01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020 hiệu. Do diện tích
1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại thửa số 16, tờ bản đồ số
05, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang tài sản của cá
nhân cụ, không phải tài sản chung của hộ gia đình, không phải tài sản chung
của cụ và cụ T8, nên cụ không đồng ý chia yêu cầu chia tài sản chung, chia di sản
thừa kế của cụ T8 để lại theo yêu cầu khởi kiện của ông C. Đối với các tài sản
trên đất do vợ chồng cụ làm đã xuống cấp, hiện cụ đang sử dụng nên cụ không
đồng ý chia.
Tại phiên tòa sơ thẩm, cụ C1 (Trổ) vẫn giữ nguyên các ý kiến, quan điểm đã
trình bày.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
* Bà Ngô Thị Ú, bà Ngô Thị H trình bày:
Bố cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1), sinh năm 1933 mẹ là cụ
Nguyễn Thị T8, sinh năm 1934. Bố, m các bà sinh được 9 người con gồm có: bà
Ngô Thị M, Ngô Thị Ú, ông Ngô Văn H6, Ngô Thị L, ông Ngô Lai T4,
Ngô Thị L1, NThị H, NThị T2, ông Ngô Lai C, ngoài ra không
người đẻ, con nuôi nào khác. Khoảng năm 1998 ông C kết hôn với Đinh Thị
N, sau khi kết hôn vợ chồng ông C vẫn chung cùng với bố mẹ cụ C1 cụ
T8.
6
Diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại tờ bản
đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang
hiện nay cụ C1 đang sử dụng do bác ruột là Ngô Văn T9 để lại (tặng cho) từ
khoảng năm 1960. Bố mẹ các được cấp GCNQSDĐ diện tích đất trên từ
những năm 1986 - 1987. Năm 2003 tthôn B thuộc thị trấn N nên diện tích đất
trên được UBND huyện T cấp lại GCNQSDĐ cho hộ cụ Ngô Văn C1 ngày
22/12/2003. Trên diện tích đất 1210,1m
2
tại tờ bản đồ số 05, thửa số 16 có các tài
sản gồm: 5 gian nhà trên; 03 gian nhà ngang; 02 gian bếp; công trình phụ (03
gian chuồng lợn); nhà vệ sinh xây gạch lợp proximăng; sân lát gạch bổ, tường
bao xây gạch quanh hết đất, trụ cổng đều do bố mẹ các bà xây dựng. Vợ chồng
ông C về chung sống với bố mẹ các bà từ khi kết hôn đến năm 2022 thì ra ở riêng
trên đất khác. Quá trình chung sống với bố mẹ, vợ chồng ông C không xây dựng
và tôn tạo được gì vào tài sản trên đất, chỉ có mua 2 cánh cổng hiện vẫn còn. Đến
nay các xác định diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất
vườn) tại tờ bản đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ thửa đất tổ dân phố B, thị trấn N,
huyện T, tỉnh Bắc Giang tài sản của bố mẹ các bà, còn vợ chồng ông C các
con của C không quyền đối với diện tích đất nêu trên. Do vậy, các không
đồng ý với việc ông C đề nghị chia tài sản chung của hộ gia đình quyền sử
dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 05, diện tích 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở;
910,1m
2
đất vườn) tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang cho 06
thành viên trong hộ gia đình là: Cụ Ngô Văn C1, cụ Nguyễn Thị T8, ông Ngô Lai
C, Đinh Thị N, anh Ngô Lai H2, chị Ngô Thị Thanh H3 theo quy định của
pháp luật. Ngày 29/4/2019 cụ Nguyễn Thị T8 chết, khi chết không để lại di chúc,
nay ông C đề nghị chia thừa kế tài sản của mẹ các để lại quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 05 tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh
Bắc Giang thì các bà cũng đồng ý nhận kỷ phần của mẹ các bà để lại. Đối với các
công trình cây cối lâm lộc trên diện tích nêu trên là do bố mcác tạo dựng
không yêu cầu chia. Trường hợp nếu ai được chia phần diện tích đất nào thì
người đó sẽ được sử dụng các công trình, cây cối lâm lộc trên diện tích đất được
chia. Đối với Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình do
UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD
ngày 19/10/2020; Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn
Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-
SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020, chũ ký họ tên trong đó không phải chữ
của các và hợp đồng cũng không đầy đủ chủ thể tham gia giao dịch, các bà đề
nghị tuyên bố hai văn bản trên vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩmÚ, bà H đồng ý với ý kiến của cụ C1, xác định diện
tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại tờ bản đồ số 05,
thửa số 16, địa chỉ thửa đất phố B (nay là tổ dân phố B), thị trấn N, huyện T, tỉnh
Bắc Giang (nay Thôn B, N, tỉnh Bắc Ninh) của riêng cụ C1. H, Ú
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Lai C về việc yêu cầu chia tài
sản chung của hộ gia đình chia thừa kế di sản của cụ T8. Trường hợp được
chia thừa kế của cụ T8 các bà đồng ý nhận giao cho cụ C1 sử dụng phần các
được hưởng thừa kế của cụ T8 để lại. Các bà đồng ý với đề nghị tuyên bố văn
7
bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình do UBND thị trấn N
chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/10/2020
văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do
UBND thị trấn N chứng thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD
cùng ngày 19/10/2020 vô hiệu.
* Đinh Thị N trình bày: Năm 1997 kết hôn với ông Ngô Lai C,
được đăng kết hôn tại UBND A, huyện T. Sau khi kết hôn, vợ chồng
chung sống cùng bố, mẹ chồng cụ Ngô Văn C1 (T1), sinh năm 1933 cụ
Nguyễn Thị T8, sinh năm 1933. thống nhất với lời khai của ông C việc xác
định cụ C1, cụ T8 9 người con chung, xác định không biết nguồn gốc thửa đất
đang tranh chấp, tuy nhiên từ khi kết hôn bà về chung sống cùng gia đình chồng
tại thửa đất trên, ngày 22/12/2003 UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ lần đầu
cho hộ cụ Ngô Văn C1 diện tích đất nêu trên. Tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho
hộ cụ C1, gia đình các thành viên: Cụ Ngô Văn C1, cụ Nguyễn Thị T8, vợ
chồng hai con Ngô Lai H2 Ngô Thị Thanh H3. Khi vợ chồng về
chung với bố mẹ ông C thì tài sản trên đất có: ngôi nhà 5 gian; 03 gian nhà
ngang; 02 gian bếp; công trình phụ (chuồng lợn). Trong quá trình sử dụng một số
công trình xuống cấp nên cả gia đình gồm có vợ chồng bà và bố mẹ chồng đã sửa
chữa, cụ thể: nhà 5 gian trước đây là tường trình đất sau phá tường đi để xây gạch
lát nền bằng gạch hoa; xây dựng toàn bộ tường bao; làm cổng; khoan giếng;
làm lại chuồng lợn, làm các công trình này khoảng năm 1999. đồng ý với ý
kiến của ông C xác định diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại tờ bản đồ s05, thửa số 16, địa chỉ thửa đất tổ dân phố B, thị trấn
N, huyện T, tỉnh Bắc Giang tài sản chung của hộ gia đình, đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của ông C về việc chia tài sản chung của hộ gia đình, chia di sản thừa
kế của cụ T8 để lại và tuyên bố các văn bản phân chia tài sản chung, phân chia di
sản thừa kế đã được UBND thị trấn N chứng thực ngày 19/10/2020 vô hiệu.
* Bà Ngô Thị L1 trình bày: con cụ Ngô Văn C1, sinh năm 1933 và cụ
Nguyễn Thị T8, sinh năm 1933. Bố mẹ sinh được 9 người con gồm
M, Ú, ông H6, L, ông T4, H, ông C, T2. Bố mẹ không con
nuôi. Ngày 29/4/2019 mcụ Nguyễn Thị T8 chết, khi chết mẹ đlại
di chúc hay không thì bà không rõ. xác định tài sản của bố mquyền sử
dụng đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 05 tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện
T, tỉnh Bắc Giang. Đề nghị chia thừa kế tài sản của mẹ bà để lại là quyền sử dụng
đất thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 05 tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T,
tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật. Trường hợp nếu ai được chia phần
diện tích đất o thì người đó sẽ được sử dụng các công trình, cây cối lâm lộc
trên diện tích đất được chia. Đối với văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung
của hộ gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-
TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số 261,
quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020 không đầy đchủ
8
thể tham gia giao dịch, đề nghị tuyên bố hai văn bản trên hiệu theo quy định
của pháp luật.
* Ngô Thị L trình bày: con gái của cụ Ngô n C1, đồng ý với
quan điểm của các anh chị em bà (trừ ông Ngô Lai C), quan điểm của anh chị em
bà như nào thì bà cũng đồng ý, không thắc mắc gì.
* Ngô Thị M trình bày: Bố là cụ Ngô Văn T1, mẹ cụ Nguyễn
Thị T8. Bố mẹ sinh được 9 người con gồm có: M, Ú, ông H6, L, ông
T4, L1, H, T2 ông C. Ngoài chín người con đẻ thì bố mẹ không
con nuôi, khoảng năm 2019 mẹ chết không để lại di chúc. không biết
nguồn gốc diện tích đất bố đang sử dụng do đâu có, hiện nay trên diện
tích đất có một số cây cối lâm lộc và công trình trên đất là do bố mẹ bà xây dựng
còn vợ chồng ông C không xây dựng gì. Bà xác định diện tích đất 1210,1m
2
tại tổ
dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang và các công trình trên đất của
bố mẹ bà, vợ chồng ông C và các con ông C không có quyền đối với diện tích đất
tài sản trên đất. đồng ý với việc ông C yêu cầu tuyên văn bản thỏa thuận
phân chia tài sản chung của hộ gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số 260,
quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng
thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020
hiệu. Đối với diện tích đất 1210,1m
2
tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh
Bắc Giang là của bố mẹ bà, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện vviệc chia
tài sản chung của hộ gia đình và chia thừa kế tài sản của cụ T8 theo yêu cầu khởi
kiện của ông C.
Đối với Ngô Thị T2 trong quá trình giải quyết vụ án T2 không đến
Tòa án làm việc, không nộp cho Tòa án bản tự khai trình bày ý kiến về nội dung
yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Lai C.
* Dương Thị T5 trình bày: Chồng ông NLai T4, con của cụ
T8 cụ T1. Ngày 12/8/2025 chồng bà do bị bệnh nên đã chết, khi chết không để
lại di chúc gì. Vợ chồng sinh được 02 người con Ngô Thị T7, sinh năm
1992 Ngô Ngọc T6, sinh năm 1999. Ngoài ra, vợ chồng bà không con nuôi
nào. Ông Ngô Lai C yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản
chung của hộ gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số:
01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 Văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số
261, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020 hiệu; Yêu
cầu chia thừa kế tài sản của cụ T8 để lại, người kế thừa quyền nghĩa vụ
của ông Ngô Lai T4 đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Đối
với phần tài sản mà ông Ngô Lại T11 được hưởng thừa kế của cụ T8 để lại thì bà
đồng ý nhận theo quy định. Đối với các tài sản cây cối lâm lộc trên diện tích
đất tranh chấp thì ai được chia phần đất mà trên đất có cây cối lâm lộc hay tài sản
thì người đó sẽ được sử dụng.
9
* Chị Ngô Thị T7 anh Ngô Ngọc T6 đều trình bày:Anh, chị con đẻ của
ông NLai T4, ông T4 là con của cụ T8 cụ T1. Ngày 12/8/2025, ông N
Lai T4 do bị bệnh nên đã chết, khi chết không để lại di chúc gì. Ông Ngô Lai C
yêu cầu tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình do
UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD
ngày 19/10/2020 văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn
Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-
SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020 hiệu; Yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ
T8 để lại thì các anh chị là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Ngô Lai T4
đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Đối với phần tài sản mà ông
Ngô Lại T11 được hưởng thừa kế của cụ T8 để lại thì c anh chđồng ý nhận
theo quy định. Đối với các tài sản và cây cối lâm lộc trên diện tích đất tranh chấp,
ai được chia phần đất trên đất cây cối lâm lộc hay tài sản thì người đó sẽ
được sử dụng.
* Anh Ngô Lai H2 và chị Ngô Thị Thanh H3 trình bày: Ông nội anh chị sinh
được 9 người con gồm có: bà Ú, M, L, ông H6, ông T11, L1, H,
T2, ông C. Các anh chị được biết năm 1997 sau khi bố mẹ các anh chị ông C,
bà N kết hôn thì có ở chung cùng với ông bà nội trên diện tích đất 1210,1m
2
tại tờ
bản đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc
Giang. Quá trình chung sống cùng với ông nội, bố mẹ đã cùng nhau kiếm tiền
tu sửa nhà cửa, công trình trên diện tích đất. Ngày 22/12/2003 UBND huyện T đã
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Ngô Văn C1 diện tích đất
1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại tờ bản đồ số 05, thửa số
16, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tại thời điểm cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông C1 gồm cụ C1, cụ T8, ông C,
bà N, anh H2, chị H3. Ngày 29/4/2019 cụ Nguyễn Thị T8 chết, khi chết không để
lại di chúc. Sau khi nội chết, ngày 19/10/2020, tại UBND thị trấn N thì ông
nội các bác, các đã vào văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của
hộ gia đình do UBND thị trấn N chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-
SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 và văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của
cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N chứng thực số 261, quyển số:
01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020. Đến nay, anh, chị đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của ông C, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông C. Tại phiên tòa sơ thẩm anh H2 mặt không yêu cầu chia cho anh diện
tích đất, anh xác định diện tích đất hiện bố anh đang yêu cầu chia thuộc quyền sử
dụng của cụ C1, cụ T8 và bố mẹ anh, đề nghị chia làm 4 phần.
* Trần Thị H4 trình bày: Bố chồng cụ Ngô Văn T1, mẹ chồng
cụ Nguyễn Thị T8. Bố mchồng sinh được 9 người con gồm có: M, Ú,
ông H6, bà L, ông T11, L1, H, T2 ông C. Ngoài ra không con
nuôi. vcủa ông Ngô Văn H6. Ngày 17/11/2022, chồng chết, khi chết
không để lại di chúc. Vợ chồng 2 con chung Ngô Quốc H5 Ngô Cẩm
V. Diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất vườn) tại tờ bản
đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang
10
được cấp GCNQSDĐ năm 2003 mang tên hộ cụ Ngô Văn C1. Bà đồng ý với các
yêu cầu khởi kiện của ông C.
* Anh Ngô Quốc H5 chị Ngô Cẩm V trình bày: Anh chị con của ông
Ngô n H6. Ngày 17/11/2022, bố anh chị chết, khi chết không để lại di chúc.
Ông, nội của anh chị cụ Ngô Văn T1 cụ Nguyễn Thị T8. Ông, nội
sinh được 9 người con gồm có: bà M, Ú, ông H6, L, ông T11, L1, H,
T2 ông C. Diện tích đất 1210,1m
2
(bao gồm: 300m
2
đất ở; 910,1m
2
đất
vườn) tại tờ bản đồ số 05, thửa số 16, địa chỉ tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T,
tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 mang tên
hộ cụ Ngô Văn C1, anh chị đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông C.
* Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Bắc Ninh do người đại diện trình bày:
Thửa đất s16, tbản đồ số 05, diện tích 1210,1m
2
(trong đó 300m
2
đất
910,1m
2
đất vườn) được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số Đ 773935, cấp
ngày 22/12/2003, vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 283, cấp cho hộ cụ Ngô Văn
C1, địa chỉ thửa đất tại Phố B, thị trấn N, huyện T. Ngày 24/7/2019, U tên chủ sử
dụng từ ông Ngô Văn C1 thành NVăn T1. Hiện trạng thửa đất đã được xây
tường bao xung quanh. Theo trích lục bản đồ địa chính năm 2002, thể hiện tại
thửa đất số 16, diện tích 1210,1m
2
, thể hiện ch sử dụng Nguyễn Văn C3,
Nguyễn Thị T8; Theo trích lục bản đồ địa chính năm 2017, thể hiện tại thửa đất
số 9, diện tích 1211,3m
2
, thể hiện chủ sử dụng Nguyễn Văn C3; Theo Sổ địa
chính tại trang s83, ghi chủ sử dụng Ngô Văn C1, tại thửa đất số 16, tờ bản
đồ số 5, diện tích 1210,1m
2
(trong đó 300m
2
đất 910,1m
2
đất vườn), cấp
tại Quyết định số 130/QĐ-UB; Theo Sổ mục lập năm 2007, thửa đất số 16, tờ
bản đồ số 5, diện tích 1210,1m
2
, loại đất ONT. Thửa đất số 16, tờ bản đồ số
05, diện tích 1210,1m
2
(trong đó 300m
2
đất 910,1m
2
đất vườn) được
UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số Đ 773935, cấp ngày 22/12/2003, vào sổ cấp
Giấy chứng nhận số 283, cấp cho hộ cụ Ngô Văn C1, địa chỉ thửa đất tại Phố B,
thị trấn N, huyện T đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định. Việc sai tên chủ sử
dụng đã được U tên chủ sử dụng từ cụ Ngô Văn C1 thành Ngô Văn T1 ngày
24/7/2019. Thửa đất số 16, tờ bản đồ s5, diện tích 1210,1m
2
(bản đồ địa chính
đo đạc năm 2002) đã được xây tường bao xung quanh. Theo bản đồ địa chính đo
đạc năm 2017 thể hiện tại thửa đất số 9, tờ bản đồ số 56, diện tích 1211,3m
2
, tăng
1,2m
2
so với bản đồ địa chính đo đạc năm 2002 là do sai số đo đạc. Đề nghị Toà
án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết ván, Toà án cấp thẩm còn thực hiện việc thẩm
định, đo đạc thửa đất, định giá tài sản tranh chấp.
Với nội dung trên, bản án dân sự thẩm số 52/2025/DSST ngày 24/9/2025
của Tán nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh đã căn cứ khoản 2, khoản 3, khoản 5
Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144. Điều 146; Điều 157, Điều 165
Điều 166; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bluật tố tụng dân sự; Điều 102; Điều
207; Điều 212; Điều 219; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 609; Điều 610; Điều
611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651;
11
Điều 660 Bộ luật dân sự; Điều 100; Điều 166 Luật đất đai; Điểm đ khoản 1 Điều
12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Lai C:
1.1. Tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình
do UBND thị trấn N (nay là xã N) chứng thực số 260, quyển số: 01/2020-TP/CC-
SCT/HĐGD ngày 19/10/2020 tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế của cụ Nguyễn Thị T8 để lại do UBND thị trấn N (nay N) chứng
thực số 261, quyển số: 01/2020-TP/CC-SCT/HĐGD cùng ngày 19/10/2020
hiệu.
1.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Lai C về việc chia tài sản
chung của hộ gia đình và chia thừa kế tài sản của cụ T8.
+ Chia cho ông Ngô Lai C quyền s dụng đất diện tích 446,93m
2
(gồm
110m
2
đất 336,93m
2
đất vườn) trị giá 1.503.711.000 đồng, tại thửa s16, tờ
bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất tại Thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh hình 1-2-3-4-5-
6-7-8-9-A- 28-29-30-31-32-33-34-1 (có đồ kèm theo). Tạm giao cho ông Ngô
Lai C quản lý tài sản trên diện tích đất gồm bể nước, sân giếng, tường bao
cây cối lâm lộc trên diện tích đất được chia.
+ Chia cho cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1) quyền sdụng đất diện tích
771,87m
2
(gồm 190m
2
đất ở và 581,87m
2
đất vườn trị giá 2.597.049.000 đồng, tại
thửa số 16, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất tại Thôn B, N, tỉnh Bắc Ninh
hình: 9-10-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-22-23-24-25-26-27-A-9 (có đồ
kèm theo). Tạm giao cho cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1) quản tài sản trên
diện tích đất gồm nhà 05 gian, sân gạch, nhà 3 gian, chuồng lợn, nhà vệ sinh,
bếp, nhà tắm, gố ga, tường bao, cây cối lâm lộc trên diện tích đất chia.
+ Cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1) nghĩa vụ trích chia cho Ngô Thị
L, bà Ngô Thị L1, Ngô Thị T2 mỗi người là 136.701.000 đồng.
Cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1) có nghĩa vụ trích chia cho Dương Thị
T5, anh Ngô Ngọc T6, chị Ngô Thị T7, Trần Thị H4, chị Ngô Cẩm V, anh
Ngô Quốc H5 mỗi người là 34.175.250 đồng.
+ Về chi phí định giá tài sản, chi phí thẩm định tại chỗ: Ông Ngô Lai C phải
chịu 10.060.000 đồng chi phí định gthẩm định tài sản, xác nhận ông C đã
nộp đủ.
+ Về án phí:
Cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1), bà Ngô Thị Ú, Ngô Thị M, Ngô
Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Ngô Lai C phải chịu: 57.111.330 đồng án phí dân sự thẩm được trừ
vào số tiền 23.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm
ứng án psố 0007127 ngày 18/10/2024 của Thi hành án dân stỉnh Bắc Ninh
12
(Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang cũ). Ông Ngô Lai C
còn phải nộp 33.311.330 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Dương Thị T5, anh Ngô Ngọc T6, chị Ngô Thị T7, bà Trần Thị H4, chị
Ngô Cẩm V, anh Ngô Quốc H5 mỗi người phải chịu 1.708.762 đồng án phí dân
sự sơ thẩm.
- Ngô Thị L1, Ngô Thị H, Ngô Thị T2 mỗi người phải chịu
6.835.050 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 06/10/2025, cụ Ngô Văn C1, Ngô Thị H, Ngô Thị Ú, Ngô
Thị M đều đơn kháng cáo bản án dân s thẩm số 52/2025/DSST ngày
24/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh, đề nghị Toà án tỉnh Bắc
Ninh xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của
ông Ngô Lai C về việc chia tài sản chung của gia đình và chia thừa kế tài sản của
cụ Nguyễn Thị T8 vì lý do diện tích đất tranh chấp là tài sản riêng của cụ C1.
Ngày 06/10/2025 ông Ngô Lai C kháng cáo bản án dân sự thẩm số
52/2025/DSST ngày 24/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh, đề
nghị Toà án tỉnh Bắc Ninh sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định thửa đất số
16, tờ bản đồ 05, diện tích 1.210,1m
2
tài sản chung của cụ Ngô Văn C1, cụ
Nguyễn Thị T8, ông Ngô Lai C Đinh Thị N, chia tài sản chung của hộ cho
bốn thành viên trên, mỗi người được hưởng 304,7m
2
đất chia di sản thừa kế
của cụ T8 để lại là quyền sử dụng diện tích 304,7m
2
đất cho các đồng thừa kế.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự trên giữ nguyên kháng cáo, nguyên
đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được việc giải
quyết tranh chấp.
Ông Ngô Lai C và luật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trình bày: Thửa
đất số 16, tờ bản đồ 05, diện tích 1.210,1m
2
tại thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh Năm
đã được hộ cụ C1, cụ T8 sử dụng từ trước, tuy nhiên không giấy tờ xác định
quyền sử dụng đất, năm 1991 hộ cụ Ngô Văn C1 được cấp GCNQDĐ tạm thời,
tuy nhiên giấy y không phải căn cứ xác định quyền sử dụng đất của hộ cụ
C1. Theo quyết định số 513 ngày 22/12/1998 của UBND huyện T đã xác định
cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân tại N, huyện T, trong danh sách hộ cụ Ngô
Văn C1. Thời điểm này là nhà nước công nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ
cụ C1 gồm có vợ chồng cụ C1 và vợ chồng ông C. Năm 2003 hộ cụ C1 được cấp
GCNQSDĐ đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 5, cụ C1 đã đi khai và được
cấp GCNQSDĐ tên hkhông bất cứ ý kiến gì, hộ cụ C1 vợ chồng cụ
C1 vợ chồng ông C. Do đó đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của cụ
C1, bà Ú, H, M. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông C, sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông C về việc chia tài sản chung là thửa
đất số 16, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.218,8m
2
cho bốn thành viên gồm cụ C1, cụ
T12, ông C, N. Phần diện tích đất của cụ T8 được chia trong thửa đất trên, do
cụ T8 chết không để lại di chúc nên đề nghị chia cho những người thừa kế của cụ
T8 theo quy định của pháp luật. Do phần di sản thừa kế của các đồng thừa kế
13
khác được chia không đủ điều kiện tách thửa nên đề nghị chia cho cụ C1 ông
C đất. Đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm ông C không kháng cáo.
Cụ Ngô Văn C1, bà Ngô Thị Ú, bà Ngô Thị H và người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp trình bày, tranh luận: Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 5, diện tích
1.218,8m
2
tại thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh tài sản nguồn gốc của bác bố,
mẹ cụ Ngô Văn C1 để lại, cho riêng cụ C1, tài sản này từ trước khi cụ C1 kết
hôn với cụ T8, không phải là tài sản chung của hộ gia đình gồm cụ C1, cụ T8,
ông C như bản án thẩm đã tuyên. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
năm 1994 đã xác định cấp cho riêng cụ C1. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ cụ C1 năm 2003 không đúng. Tuy nhiên, cụ C1 cụ T8 đã
kết hôn từ năm 1954 đã ng quản lý, sử dụng đất từ đó cho đến khi cụ T8
chết, sau khi cụ T8 chết cụ C1 tiếp tục quản lý, sử dụng đất. Do vậy, trường hợp
Toà án xác định đây là tài sản chung chia di sản thừa kế thì căn cứ nguồn gốc
đất, công sức đóng góp, quản lý, tôn tạo tài sản của cụ C1, đề nghị trích chia cho
cụ C1 phần công sức đóng góp 100m
2
trong đó 50m
2
đất 50m
2
đất
vườn. Phần diện tích đất còn lại sau khi trừ 100m
2
đất nêu trên tài sản chung
của cụ C1 cụ T8, đề nghị chia đôi, mỗi người được 125m
2
đất 423,4m
2
đất vườn, tổng 559,4m
2
. Phần di sản của cT8 là 559,4m
2
đất (trong đó
125m
2
đất ở, 423,4m
2
đất vườn) đề nghị chia cho cụ C1 9 người con. Đối với
ông T11, ông H6 chết sau cụ T8 thì cụ C1 và vợ, con ông T11, ông H6 được chia
phần định suất thừa kế ông T11, ông H6 được hưởng. Đề nghị giao cho cụ C1
phần diện tích đất cụ C1 được chia trong khối tài sản chung, di sản thừa kế cụ C1
được hưởng của cụ T8; phần di sản thừa kế của cụ T8 mà bà H, bà Ú, bà M, bà L,
L1, bà T2 được hưởng. Đề nghị chia cho ông C được hưởng phần diện tích đất
bao gồm kỷ phần thừa kế ông C được hưởng của cụ T8 và phần thừa kế tài sản
mà vợ con ông T11, vcon ông H6 được hưởng của cụ T8, ông C phải trích chia
giá trị phần di sản được hưởng bằng tiền cho vợ con ông T11, vợ con ông H6. Cụ
C1, bà H, bà Ú nhất trí tranh luận của luật sư, không tranh luận gì thêm.
Ngô Thị M nhất trí ý kiến của cC1, H, Ú, đề nghị chia di sản
thừa kế như luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cụ C1, bà H, Ú đã nêu,
không tranh luận gì.
Anh Ngô Lai H2 nhất trí ý kiến, yêu cầu của ông C, không tranh luận gì.
Ngô Thị H giao nộp đơn của Ngô Thị T2 nêu xin hưởng phần di
sản thừa kế của cụ T8 để lại chia cho bà, nhưng xin giao lại cho cụ C1 sử dụng,
trông coi; đơn của bà Ngô Thị L xác định quyền lợi được hưởng di sản của cụ T8
để lại bà nhận nhưng giao lại cho cụ C1 sử dụng, trông coi.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát
biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ đến khi mở phiên tòa tại
phiên tòa, HĐXX, thư đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi
tham gia phiên toà. Sau khi xem xét kháng cáo của các đương sự, các tài liệu,
14
chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát xác định không căn cứ
để chấp nhận kháng cáo, đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308,
điều 313; điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12; điều 29 Nghị
quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án, đề nghị xử:
Không chấp nhận kháng cáo của cụ Ngô Văn C1, bà Ngô Thị M, bà Ngô Thị
Ú, Ngô Thị H, ông Ngô Lai C, giữ nguyên Bản án dân s thẩm số
52/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh.
Cụ C1, bà M, Ú người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc
thẩm. Bà H, ông C mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Ngô Lai C, bị đơn
cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1), người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngô Thị H, bà Ngô Thị Ú, Ngô Thị M các luật Giáp Tuấn T, Ngô Thế
H1, Hoàng Văn C2 mặt. Cụ Ngô n C1 từ chối Nguyễn Thị H7 Tr
giúp viên pháp bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cụ C1, đồng thời xác định
không uquyền cho Thị L2 đại diện cho cụ C1 tại phiên toà phúc thẩm;
Đối với luật sư Nguyễn Khắc P, H, Ú, bà M đều xác định không mời luật
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bà tại phiên tphúc thẩm. Đối với
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt, xét thấy đây là
phiên toà mở lần thứ hai, Tán đã triệu tập hợp lcác đương sự, việc vắng mặt
của các đương sự không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cĐiều
296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Các đương sự kháng cáo trong thời hạn, cụ C1, Ú, M được miễn
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; bà H, ông C đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm theo thông báo của Toà án, đúng thời hạn, HĐXX chấp nhận xem xét kháng
cáo của các đương sự trên theo quy định.
[3]. Cụ Ngô Văn C1, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị Ú, bà Ngô Thị M đều kháng
cáo xác định thửa đất số 16, tờ bản dồ số 5, diện tích 1201,1m
2
(theo đo đạc hiện
trạng 1218,8m
2
) tại tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay
thôn B, N, tỉnh Bắc Ninh) tài sản riêng của cụ Ngô Văn C1, không phải
tài sản chung của cụ C1, cụ T8 ông C như bản án thẩm đã tuyên, đề nghị
Toà án tỉnh xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng bác yêu cầu khởi
kiện của ông Ngô Lai C về việc chia tài sản chung của gia đình chia thừa kế
tài sản của cụ Nguyễn Thị T8. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm cụ C1, bà H, bà
Ú, M các luật đều xác định thửa đất u trên tài sản chung của cụ C1
cT8, đnghị trích chia cho cụ C1 phần công sức đóng góp 100m
2
(gồm
50m
2
đất ở, 50m
2
đất vườn), diện tích đất còn lại chia đôi cho cụ T8, cụ C1. Phần
diện tích đất của cụ T8 di sản thừa kế, đề nghị chia cho các đồng thừa kế gồm
15
cụ C1 9 người con theo quy định của pháp luật. Ông Ngô Lai C xác định thửa
đất tranh chấp tài sản chung của hộ gia đình gồm cụ Ngô Văn C1, cụ
Nguyễn Thị T8, ông Ngô Lai C, Đinh Thị N yêu cầu chia tài sản chung
quyền sử dụng đất cho bốn thành viên trên; yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T8
cho cụ C1 và 9 người con của cụ C1, cụ T8 theo quy định. Xét kháng cáo của các
đương sự, HĐXX thấy:
[4]. Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.201,1m
2
tại tổ dân phố B, thị
trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay thôn B, N, tỉnh Bắc Ninh) các đương
sự đều xác định do bố mẹ cụ C1 gia đình cụ T10 (là anh trai bố cụ C1) khai
hoang, sử dụng từ năm 1947 đến năm 1957. Sau đó, do gia đình cụ T10 bố cụ
C1, anh chị em cụ C1 về Bắc Ninh sinh sống, nên từ năm 1957 chỉ còn lại cụ C1
mẹ cụ Nguyễn Thị B quản lý, sử dụng diện tích đất này. Năm 1954, cụ C1
kết hôn với cụ Nguyễn Thị T8, vợ chồng cùng với mẹ cụ C1 tại thửa đất trên.
Năm 1989 cụ B chết, sau đó cụ C1, cụ T8 các con tiếp tục sinh sống trên thửa
đất này. cụ C1 khai năm 1991 cụ C1 khai để cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất
trên, năm 1994 c được cấp GCNQSDĐ cho nhân cụ tuy nhiên theo
GCNQSDĐ do cụ C1 và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai liên xã T cung cấp
thì không thể hiện ngày, tháng, năm được cấp giấy chứng nhận, diện tích đất
được cấp là thửa đất số 46, tờ bản đồ số 4, diện tích đất thổ cư 880m
2
và các thửa
đất nông nghiệp tại thôn B, xã A, huyện T. Tại Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của A năm 1998, Quyết định số 513/QĐ-UB ngày 22/12/1998 của
UBND huyện T, danh sách các hộ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất của thôn B; sổ địa chính của A thể hiện hộ cụ Ngô Văn T1 được
UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đối với tổng diện tích đất 3422m
2
, gồm 6
thửa, trong đó có 880m
2
đất thổ cư tại thửa đất số 46, tờ bản đồ số 4; các thửa đất
canh tác cùng tờ bản đồ số 4 gồm thửa số 60 (ở Đ), diện tích 1380m
2
; thửa số
61 (Đ), diện tích 192m
2
; thửa 336 (ở Đ), diện tích 190m
2
; thửa số 60 (Ao đồng),
diện tích 360m
2
và thửa 87 (ở Đ sau), tờ bản đồ số 3, diện tích 420m
2
. Năm 2003,
UBND huyện T cấp GCNQSDĐ sĐ773935, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận
00283 QSDĐ/130/QĐUB-H ngày 22/12/2003 cho hộ ông Ngô Văn T1 đối với
diện tích đất thổ 1210,1m
2
, trong đó 300m
2
đất và 910,1m
2
đất vườn tại
thửa đất số 16, tờ bản đồ số 5, địa chỉ phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang
(nay là thôn B, N, tỉnh Bắc Ninh). Như vậy, căn cứ quá trình sử dụng đất, tài
liệu chứng cứ thu thập được, sở để xác định thửa đất trên được nhà nước
cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1).
[5]. Về việc xác định nhân khẩu trong hộ cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1):
Tại cấp thẩm, Toà án đã tiến hành xác minh nhân khẩu tại thời điểm hộ cụ C1
được cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên kết quả xác minh xác định tại địa phương không
còn lưu trữ tài liệu hồ nhân khẩu thời điểm năm 1998. Cụ C1, H, Ú,
M, ông C những người con khác đều khai tại thời điểm cụ C1 khai xin cấp
GCNQSDĐ năm 1991, 1998, gia đình cC1 khi đó cụ C1, cụ T8 ông C,
những người con khác đều đã lập gia đình ra riêng, không cùng bố, mẹ.
Tại phiên toà phúc thẩm cụ C1, H, Ú, M đều thừa nhận thửa đất này
16
tài sản chung của cụ C1 cụ T8, nhưng không thừa nhận ông C, N quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 5 nêu trên. HĐXX thấy, đối với
cụ T8 là vợ cụ C1 đã kết hôn hợp pháp và chung sống với cụ C1 từ năm 1954 cho
đến khi chết, cùng quản lý, sử dụng, tôn tạo tài sản nên căn cứ Điều 15 Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959; Điều 14,15,16 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;
Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 29 Luật hôn nhân gia đình
năm 2014, điều 118; Điều 690 Bộ luật dân sự năm 1995 thì cụ Nguyễn Thị T8
quyền sử dụng đối với thửa đất trên. Đối với ông Ngô Lai C con, tuy không
phải người tạo lập nên thửa đất, nhưng người sinh sống cùng bố, mẹ, cùng
làm ăn, quản lý, tôn tạo đất, tại thời điểm UBND huyện T cấp GCNQSDĐ lần
đầu, cũng như cấp đổi lần thứ 2, đều thể hiện cấp cho hộ gia đình cụ C1 và cụ T8,
ông C thành viên trong hộ gia đình, căn cứ Điều 118, điều 690 Bộ luật dân sự
năm 1995, sở xác định ông C quyền sử dụng đối với thửa đất trên. Đối
với N kết hôn với ông C tháng 12 năm 1997, khi N kết hôn với ông C, gia
đình cụ C1 đã tạo lập, sử dụng nhà đất, đã được khai cấp GCNQSDĐ từ năm
1991 N không đóng góp công sức gì, không tạo lập nên tài sản, do vậy không
sở xác định N quyền sử dụng đối với tài sản này. Như vậy, HĐXX
thấy cấp thẩm đã xác định quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 5, diện
tích theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất là 1218,8m
2
, tại tổ dân phố B, thị trấn
N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay thôn B, xã N, tỉnh Bắc Ninh) tài sản chung
của cụ Ngô Văn C1 (tên gọi khác Ngô Văn T1), cụ Nguyễn Thị T8, ông Ngô Lai
C hoàn toàn căn cứ. Do vậy, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của cụ
C1, bà H, bà M, bà Ú cũng như kháng cáo của ông C.
[6]. HĐXX cấp thẩm đã phân chia tài sản chung của hộ gia đình cụ Ngô
Văn C1 (tức Ngô Văn T1) là diện tích đất 1218,8m
2
(trong đó 300m
2
đất
918,8m2 đất vườn) cho cụ Ngô Văn C1, cụ Nguyễn Thị T8, ông Ngô Lai C mỗi
người được quyền sử dụng diện tích đất 1218,8m
2
/3 = 406,3m
2
(gồm 100 m
2
đất 306,3m
2
đất vườn). Trị giá tài sản được chia của mỗi người là: {(100 m
2
x
5.400.000 đồng/01m
2
) + (306,3m
2
x 2.700.000 đồng/01m
2
)} = 1.367.010.000
đồng (một tỷ, ba trăm sáu mươi bảy triệu, không trăm ời nghìn đồng) là hoàn
toàn đúng pháp luật.
[7]. Ông Ngô Lai C yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T8 để lại, do cụ
Nguyễn Thị T8 chết ngày 29/4/2019 không có di chúc nên di sản của cụ T8 để lại
quyền sử dụng đất 406,3m
2
trị giá 1.367.010.000 đồng, được xem xét chia cho
các thừa kế của cụ T8 gồm cụ C1 các con là M, Ú, ông H6, L, ông
T11, L1, H, ông C, T2 theo quy định của pháp luật. Phần di sản của cụ
T8 được chia cho hàng thừa kế thứ nhất mỗi người một kỷ phần bằng nhau
40,63m
2
(gồm 10m
2
đất 30,63m
2
đất vườn) trị giá: 54.000.000 đồng +
82.701.000 đồng = 136.701.000 đồng. Đối với ông Ngô Lai T4, ông Ngô Văn H6
đều chết sau cụ T8, phần di sản ông T4 được hưởng được chia cho cụ C1 và vợ
con ông T4 (bà T5, anh T6, chị T7), mỗi người là 34.175.250 đồng và phần di sản
ông H6 được hưởng được chia cho cụ C1 vợ con ông T4 (bà H4, anh H1, chị
V) mỗi người là 34.175.250 đồng. HĐXX thấy Toà án cấp thẩm đã chấp nhận
17
yêu cầu khởi kiện của ông C về việc chia di sản của cụ T8căn cứ. Toà án sơ
thẩm cũng căn cứ thực tế sử dụng, hiện trạng đất để chia cho cụ C1 và ông C mỗi
người được nhận quyền sử dụng đất gồm phần tài sản chung được chia kỷ
phần thừa kế được nhận của cụ T8, cụ thể: Chia cho ông C quyền sử dụng diện
tích đất 446,93 m
2
(gồm 110m
2
đất 336,93m
2
đất vườn) trị giá
1.503.711.000 đồng và chia cho cụ C1 quyền sử dụng diện tích đất 771,87m
2
đất
(gồm 190m
2
đất ở và 581,87m
2
đất vườn), trị giá 2.597.049.000 đồng, tại thửa đất
số 16, tờ bản đồ số 5 địa chỉ thôn B, N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay thôn
B, N, tỉnh Bắc Ninh). Phần diện tích đất của cụ C1 được chia bao gồm cả kỷ
phần thừa kế của M, H, Ú, L1, bà T2, L, vợ con ông H6, vợ con
ông T4 đồng thời buộc cụ C1 phải thanh toán trích chia bằng tiền cho các đồng
thừa kế khác gồm L, L1, T2, T5, anh T6, chị T7, bà H4, chị V, anh
H8 phần giá trị di sản thừa kế những người trên được nhận, HĐXX thấy hoàn
toàn phù hợp.
[8]. Tại phiên toà, bà Ngô Thị H nộp cho HĐXX đơn của bà Ngô Thị T2, bà
Ngô Thị L đều xác định xin hưởng phần di sản thừa kế của cụ T8 để lại, nhưng
xin giao lại cho cụ C1 sử dụng, trông coi. Như vậy, T2, L chỉ thể hiện việc
nhất trí giao phần di sản cho cụ C1 sử dụng, trông coi chứ không tặng cho cụ C1
phần di sản được nhận. Bản án sơ thẩm đã quyết định giao cho cụ C1 phần di sản
của các trên bằng hiện vật cụ C1 trách nhiệm trích chia trả T2, L
giá trị di sản được nhận bằng tiền là hoàn toàn phù hợp.
[9]. Tại phiên toà, luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cụ C1, bà H, bà
Ú đề nghị tính công sức đóng góp, tôn tạo đất cho cụ C1 bằng 100m
2
đất (trong
đó 50m
2
đất 50m
2
đất vườn), phần diện tích đất còn lại chia đôi cho cụ T8,
cụ C1 mỗi người được chia 125m
2
đất ở và 432,4m
2
đất vườn. Phần di sản của cụ
T8 thì chia đều cho các thừa kế, đề nghị chia cho cụ C1 phần diện tích đất gồm
tài sản của cụ C1 được chia, di sản mà cụ C1 và 6 người con gái được hưởng của
cụ T8; chia cho ông C phần diện tích đất ông C vợ con ông T4, vợ con ông H6
được hưởng. Tuy nhiên, HĐXX thấy cấp thẩm đã xác định phân chia thửa
đất số 16, tờ bản đồ số 5 nêu trên cho cụ C1, cụ T8, ông C sở, đã phân
chia tài sản chung, phân chia di sản bằng hiện vật cho cụ C1 ông C được
hưởng hoàn toàn phù hợp nên HĐXX thấy không căn cchấp nhận kháng
cáo về việc sửa bản án thẩm theo yêu cầu trên. Ngoài ra, luật yêu cầu
xem xét công sức đóng góp, quản lý, tôn tạo tài sản cho cụ C1, tuy nhiên HĐXX
thấy, toàn bộ thửa đất do cụ C1, cụ T8 quản từ năm 1954, sau này vchồng
ông C cũng cùng quản lý, sử dụng đến khi cụ T8 chết năm 2019. Sau khi cụ T8
chết, cụ C1 vợ chồng ông C tiếp tục quản lý, sử dụng đất. Từ thời điểm cụ T8
chết đến thời điểm khởi kiện, do thời gian quản lý tài sản không dài, giá trị tài sản
không thay đổi, quá trình xét xử sơ thẩm các đương sự đều không ý kiến, yêu
cầu gì, nên cấp thẩm đã không tính công sức đóng góp, quản lý, tôn tạo sản là
phù hợp. Do đó, HĐXX không chấp nhận đề nghị trích chia công sức đóng góp,
quản lý tôn tạo tài sản cho cC1.
18
[10]. Từ đánh giá trên, HĐXX phúc thẩm nhất trí ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên toà, không chấp nhận kháng o của
các đương sự, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm. Quá trình giải quyết vụ án,
HĐXX phúc thẩm thấy cấp thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật, thực
hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng, đưa đầy đủ người tham gia tố tụng.
[11]. Về án phí: Căn cứ điều 148 BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản
2 Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án. Cụ C1, Ú, bà M người cao tuổi nên được miễn án phí dân
sự phúc thẩm. Bà H, ông C mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định
[12]. Đối với các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, điều 313; Điều 148 BLTTDS; Điểm đ khoản 1
Điều 12, khoản 4 Điều 26; Khoản 2 điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1),
Ngô Thị Ú, bà Ngô Thị M, bà Ngô Thị H, ông Ngô Lai C.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Ngô Văn C1 (tức Ngô Văn T1), Ngô
Thị Ú, bà Ngô Thị M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Ngô Thị H, ông Ngô Lai C mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân
sự phúc thẩm.
Số tiền án phí bà Ngô Thị H phải chịu được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà
H đã nộp tạm ứng án pphúc thẩm tại biên lai thu số 0001363 ngày 08/10/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Số tiền án phí ông NLai C phải nộp được trừ o số tiền 300.000 đồng
ông C đã nộp tạmng án phí phúc thẩm tại biên lai thu số 0001524 ngày
10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị,
có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
19
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh
- TAND khu vực 3 - Bắc Ninh;
- Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Hằng
Tải về
Bản án số 03/2026/DS-PT Bản án số 03/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/DS-PT Bản án số 03/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất