Bản án số 03/2024/LĐ-PT ngày 06/03/2024 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2024/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 03/2024/LĐ-PT ngày 06/03/2024 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 03/2024/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/03/2024
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 03/2024/-PT
Ngày: 06-3-2024
V/v: tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động,
đòi tiền lương
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Phương Thảo
Các Thẩm phán: Mai Vân Anh
Tôn Thị Xuân Thủy
- Thư phiên tòa: Chử Thị Bích Lệ Thẩm tra viên chính Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Nội: Hoàng Thị
Hồng Chiêm- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong c ngày 29 tháng 02 năm 2024 06 tháng 3 năm 2024 tại Trụ
sở Tòa án nhân dân thành phố Nội xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ
số: 02/2024/TLPT- ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động, đòi tiền lương”.
Do bản án dân sự thẩm 07/2023/LĐST ngày 20 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân quận C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xphúc thẩm số: 05/2024/QĐST-
ngày 22 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
1.1. Nguyên đơn: Ông Đào T, sinh năm 19**; Địa chỉ: Số ** M,
phường M quận H thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông ĐA, Trần H, ông Đỗ H - Công
ty luật trách nhiệm hữu hạn GL tầng ** tòa nhà C ** LH quận H, Nội. Số
2
điện thoại: 094******. Ông Đỗ A mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án;
bà Trần H và ông Đỗ H vắng mặt.
1.2. Bị đơn: Công ty cổ phần B; Địa chỉ chi nhánh: Tầng X tòa X khu
đô thị mới H phường H quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn P - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần A - Nhân viên công ty. Vắng
mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
1. Theo đơn khởi kiện lời trình bày của nguyên đơn, nội dung vụ
án như sau:
Ngày 16/6/2019, ông Đào T và Công ty cổ phần B (viết tắt là B) kết
Hợp đồng lao động số 30506/2019/HĐLĐ-E. Theo đó, ông T được tuyển làm
việc vị trí nhân viên Pháp với mức lương bản 30.000.000 đồng/tháng.
Thời hạn của Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, bắt đầu từ ngày
16/6/2019. Thời gian thử việc từ ngày 16/4/2019 đến 15/6/2019.
Sau khi ký kết Hợp đồng Lao động cho đến khi bị B chấm dứt Hợp
đồng Lao động, ông T vẫn làm việc tại Chi nhánh Nội của B tại Tòa nhà C,
số * đường V, quận C, Nội. Trong suốt thời gian làm việc, ông T luôn hoàn
thành tốt công việc được giao và chưa từng bị kỷ luật lao động.
Tuy nhiên, từ tháng 04/2020 đến tháng 06/2020, B tự ý cắt giảm tiền
lương tháng thực nhận; từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2020, tự ý cắt giảm
tiền lương tháng đóng bảo hiểm hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của ông
T xuống còn 12.000.000 đồng/tháng. Việc giảm lương này ông T hoàn toàn
không đồng ý các bên cũng không kết bất kỳ văn bản sửa đổi Hợp đồng
Lao động nào.
Ngày 27/5/2020, ông T bt ng nhận được Thông báo v vic chm dt
hợp đồng lao động đề ngày 27/5/2020. Theo văn bn này, B quyết định chm
dt hợp đồng lao đng vi ông k t ngày 27/6/2020 vì do thay đổi cấu
theo khoản 1 Điều 44 B luật Lao động năm 2012. Ông T biết không vic
thay đổi cấu, nên đã yêu cầu B cung cấp cho ông các văn bn liên quan
3
đến việc thay đổi cấu ca B phương án sử dụng lao động (được nhắc đến
tại Thông báo chấm dứt, nhưng B không cung cấp. Ông T cho rằng do thay
đổi cấu của B không thật B đã viện ra do này để chấm dứt Hợp
đồng lao động trái luật đối với ông. B đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động
trái luật nên phải chịu các trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 38 B luật Lao động 2012,
Công ty B phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp
đồng lao động không xác định thời hạn về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động. Tuy nhiên, tính từ ngày ông T nhận được Thông báo chấm dứt (ngày
27/5/2020) đến ngày chấm dứt Hợp đồng Lao động (ngày 27/6/2020) chỉ 30
ngày. Do vậy, không chvi phạm về do chấm dứt, B đã vi phạm cả quy định
về thời hạn báo trước.
Ông T khởi kiện đề nghị Tòa án:
- Buộc công ty B phải thanh toán cho ông T toàn bộ số tiền tạm tính đến
20/9/2023 do đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật, cụ thể:
1. Tiền lương trong những ngày ông T không được làm việc, tính từ
ngày 27/06/2020 đến 20/9/2023 là: 962.289.141 đồng;
2. Bồi thường hai (02) tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt Hợp
đồng lao động trái pháp luật: 60.000.000 đồng;
3. Bồi thường tiền lương cho những ngày B vi phạm thời hạn báo trước
là 15 ngày: 15.000.000 đồng;
4. Tiền lương những ngày nghỉ ng năm chưa sử dụng 06 ngày:
8.571.428 đồng;
5. Tiền lương B chưa trả của tháng 04/2020 đến tháng 06/2020:
8.772.820 đồng;
6. Tiền lãi chậm trả phát sinh từ tiền lương chưa trả của tháng 04/2020
đến tháng 06/2020: 1.373.554 đồng;
- Buộc B đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
trong những ngày ông T không được làm việc.
- Buộc B nhận lại ông T làm việc theo Hợp đồng lao động đã ký. Trong
trường hợp B không nhận lại ông T làm việc, B phải bồi thường thêm cho ông T
02 tháng tiền lương: 60.000.000 đồng.
- Buộc B đóng bổ sung bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho ông T theo đúng Hợp đồng lao động trong khoảng thời gian từ tháng
4
03/2020 đến tháng 06/2020.
2. Bị đơn - trình bày như sau:
Công ty cổ phần B và ông Đào T xác nhận kết hợp đồng lao động
số 30506/2019/HĐLĐ-E ngày 16/06/2019, loại hợp đồng không xác định thời
hạn, hiệu lực bắt đầu từ ngày 16/06/2019.
Quá trình làm việc của ông T tại B: Thử việc từ ngày 16/04/2019 đến
ngày 15/06/2019, vị trí: Chuyên viên Pháp lý (Legal Counsel) thuộc Phòng Pháp
chế và Kiểm soát tuân thủ của Công ty. Từ ngày 16/06/2019 đến tháng 09/2019,
ông T làm việc theo Hợp đồng lao động chính thức; vị trí: Chuyên viên Pháp
(Legal Counsel) thuộc Phòng Pháp chế Kiểm soát tuân thủ của Công ty. Từ
tháng 09/2019 đến ngày 27/06/2020, ông T làm việc theo Hợp đồng lao động
chính thức, vị trí: Chuyên viên Quan hệ Đối ngoại (External Affairs Executive)
thuộc phòng Quan hệ Đối ngoại (External Affairs) của Công ty. Lý do chuyển vị
trí công việc: Ông T là người chủ động xin chuyển công tác từ Phòng Pháp chế
Kiểm soát tuân thủ sang Phòng Quan hệ Đối ngoại của ng ty đã được
Công ty tạo điều kiện, hỗ trợ chuyển công tác theo đúng nguyện vọng của ông
T.
Ngày 27/05/2020, B gửi thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động -
cho thôi việc đối với ông T kể từ ngày 27/06/2020 vì do thay đổi cấu tổ
chức, theo khoản 1 Điều 44 Bộ Luật lao động 2012. Ông T nhận thông báo, sau
đó xác nhận nội dung “NLĐ đã được thông báo giải thích đầy đủ vào ngày
27/05/2020. Nếu thắc mắc, NLĐ sẽ phản hồi lại sau ký, ghi htên
vào văn bản thông báo.
Mặc thời gian chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 27/06/2020,
nhưng kể từ ngày 28/05/2020, ông T đã không đến Công ty để làm bất kỳ công
việc nào, không xin phép Công ty dưới bất cứ hình thức gì. Sau đó, vào ngày
01/06/2020, ông T đã tiến hành bàn giao nghỉ việc theo biên bản bàn giao nghỉ
việc ông T lập ngày 01/06/2020 theo mẫu biểu của Công ty, ông T đã trả lại máy
tính (laptop) cho Công ty; trlại thẻ nhân viên khóa tài (tài khoản nội b
dùng để Công ty cấp hạn mức tài chính để dụng các dịch vụ ứng dụng E của
Công ty để đi lại công tác).
Ngày 12/06/2020, ông T nhận bàn giao sổ Bảo hiểm hội (gồm 02 t
bìa 01 tờ rời) theo Biên bản bàn giao được lập ngày 12/06/2020 giữa ông T
và đại diện B là ông Phạm N - Nhân viên Phòng Nhân sự của Công ty.
5
Quá trình cho thôi việc, B đã trao đổi, gửi thông báo bằng văn bản cho
ông T xác nhận và chi trả tiền lương cho ông T như sau:
- Tiền lương các tháng 03, 04, 05 tháng 06/2020 của ông T đã được
Công ty chi trả đầy đủ, trực tiếp vào số tài khoản 180874558 của ông T mở tại
VPBank, cụ thể:
+ Ngày 30/03/2020: chi trả tiền lương tháng 3 số tiền 27.180.750 đồng.
+ Ngày 29/04/2020: chi trả tiền lương tháng 4 số tiền 22.231.990 đồng.
+ Ngày 29/05/2020: chi trả tiền lương tháng 5 số tiền 22.533.190 đồng.
+ Ngày 30/06/2020: chi trả tiền lương tháng 6 số tiền 20.830.950 đồng.
Mặc dù kể từ ngày 28/05/2020 ông T đã không đến làm việc cho Công ty
nhưng Công ty vẫn chi trả khoản này cho ông T, mang tính chất tự nguyện hỗ
trợ cho người lao động được cho thôi việc do Người sử dụng lao động tái
cấu tổ chức. Q trình nhận tiền lương do B thanh toán như trên, ông T
không bất cứ ý kiến, thắc mắc, khiếu nại dưới bất cứ hình thức với Công
ty. Nay, ông T khởi kiện Công ty cổ phần B, công ty không đồng ý đối với tất cả
các yêu cầu khởi kiện của ông T.
* Tại bản án dân sự thẩm 07/2023/LĐST ngày 20 tháng 9 m
2023 của Tòa án nhân dân quận C, thành phố Hà Nội đã xử:
1. Tuyên bố Công ty cổ phần B đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động với ông Nguyễn T là trái pháp luật.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đào T. Buộc công ty
cổ phần B phải thanh toán cho ông Đào T các khoản cụ thể như sau: Tiền lương
trong những ngày ông T không được làm việc trong tháng 07/2020
30.000.000 đồng. Trả thêm khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng lương là 60.000.000
đồng; Tiền lương cho 15 ngày không báo trước 15.000.000 đồng; Tiền lương
chi trả còn thiếu từ tháng 04/2020 đến tháng 06/2020 là 8.772.820 đồng; Tiền lãi
chậm phát sinh trên tiền lương chi trả còn thiếu t tháng 04/2020 đến tháng
06/2020 tính từ thời điểm trả lương đến ngày 20/9/2023 với tổng số tiền lãi
1.300.000 đồng; Tiền bảo hiểm hội trong những ngày ông T không được làm
việc trong tháng 07/2020 5.100.000 đồng; Tiền bảo hiểm y tế trong những
ngày ông T không được làm việc trong tháng 07/2020 là 900.000 đồng; Tiền bảo
hiểm thất nghiệp trong những ngày ông T không được làm việc trong tháng
07/2020 300.000 đồng; Tiền đóng bổ sung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2020 7.560.000 đồng.
6
Tổng số tiền công ty B phải trả cho ông T 128.930.000 đồng.
3. Ghi nhận công ty B nhận ông T trở lại làm việc.
4. Không chấp nhận những yêu cầu khởi kiện khác của c bên đương
sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền, nghĩa
vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án thẩm, ngày 04.10.2023 ông Đào T kháng
cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận các nội dung sau:
Bản án thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc
buộc Công ty cổ phần B thanh toán tiền lương, đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm
y tế trong những ngày ông T không được làm việc từ tháng 08 năm 2020 đến
ngày 20 tháng 09 năm 2023 (ngày xét xử thẩm) không phù hợp với quy
định tại Điều 21 khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động 2012. Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện về việc buộc Công Ty thanh toán tiền lương cho những ngày
nghhằng năm chưa sử dụng, là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều
144 Bộ Luật lao động 2012 Điều 10.1 Mục II của Hợp đồng lao động số
30506/2019/HĐLĐ-E ngày 16/6/2019. Xác định mức lãi suất áp dụng đối với
tiền lãi chậm trả phát sinh trên tiền lương chưa trả từ tháng 04/2020 đến tháng
06/2020 thấp hơn mức lãi suất trần huy động tiền gửi kỳ hạn 01 tháng do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương không phù
hợp.
Tại cấp phúc thẩm, các đương sự không xuất trình tài liệu, chứng cứ
mới, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghHội đồng t
xử phúc thẩm buộc Công ty cổ phần B phải:
- Thanh toán tiền lương những ngày không được làm việc từ 27.6.2020
đến 20.9.2020 (38 tháng 18 ngày): 962.289.141 đồng.
- Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật: 60.000.000 đồng.
- Bồi thường tiền lương do vi phạm thời hạn báo trước chấm dứt hợp
đồng: 15.000.000 đồng.
- Tiền lương những ngày nghỉ hàng năm chưa sử dụng: 8.571.428 đồng.
- Tiền lương trả thiếu của tháng 4,5,6 năm 2020: 8.772.820 đồng.
7
- Lãi chậm trả lương số tiền còn thiếu: 1.373.554 đồng.
- Trả tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong
thời gian không được làm việc (phần người sử dụng lao động phải đóng cho
người lao động).
- Đóng bổ sung bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
theo mức lương trong hợp đồng lao động.
- Tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty cổ phần B kể từ
ngày 20.9.2023.
Tại phiên tòa, Công ty cổ phần B đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa
lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội phân tích nội dung
vụ án và phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư Tòa án đã tuân thủ
đảm bảo đúng trình tự, thtục từ khi thụ đến tại phiên tòa; người tham gia tố
tụng đã được thực hiện đầy đủ chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng t xử áp dụng khon 2 Điu 308
B lut t tng dân s; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông T đối với yêu cầu thanh toán
tiền lương cho những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng và áp dụng mức lãi suất
4,75% do Ngân hàng Nhà c Vit Nam công b để tính lãi sut chm tr; đề
nghị trợ cấp thôi việc cho ông T theo quy định do ông T không quay lại làm
việc; sửa căn cứ pháp luật của bản án lao động thẩm số 07/2023/LĐ– ST
ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân quận C, thành phNi.
- Án phí lao động phúc thẩm: Ông Đào T không phải chịu án phí theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, phân tích, đánh giá nhận định về kháng cáo, kháng
nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm,
những căn cứ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy;
[1] Về tố tụng:
8
Ngày 20.9.2023, Tòa án nhân dân quận C tuyên bản án, ngày
04.10.2023 ông Đào T kháng cáo. Kháng cáo của ông Đào T phù hợp với
quy định về người kháng cáo, nội dung kháng cáo thời hạn kháng cáo theo
quy định tại Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Công ty cổ phần B không kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc
thẩm, Công ty cổ phần B đã được triệu tập đến phiên tòa lần thhai nhưng
vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty cổ phần B.
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền
lương của tháng 4,5 6/2020 còn thiếu Tòa án cấp thẩm đã thụ lý, xem
xét, chấp nhận yêu cầu này nhưng phần quan hệ pháp luật tranh chấp không ghi
đòi tiền ơng suất khi xác định quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp.
Cần sửa án thẩm về quan hệ pháp luật, xác định quan hpháp luật là: Tranh
chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và đòi tiền lương.
Về áp dụng pháp luật: Tòa án cấp thẩm áp dụng các quy định tại Bộ
luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực pháp luật tngày 01/01/2021) Nghị
định số 145/2020 ngày 14/12/2020 (có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/02/2021)
để giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Thông
báo chấm dứt Hợp đồng lao động ngày 27/5/2020 là không đúng.
Căn cứ pháp luật để giải quyết tranh chấp trong vụ án này là Bộ luật Lao
động năm 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015.
[2] Về nội dung:
Ông Đào T kháng cáo bản án thẩm, không đồng ý về các nội dung
sau: Xác định thời gian ông Đào T không được làm việc thời gian kể từ khi
bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đến khi Công ty cổ
phần B nhận ông Đào T trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký; tính lại
phần trăm bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp người sử
dụng lao động phải chịu; tính lại mức lãi suất chậm trả lương 4,75%; buộc
Công ty cổ phần B thanh toán tiền nghỉ hàng năm chưa sử dụng 8.571.428
đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Về quan hệ lao động:
Ông Đào T bắt đầu thử việc tại Công ty cổ phần B từ ngày 16.4.2021
theo thư mời thử việc. Ngày 16.6.2019, ông Đào T và Công ty cổ phần B ký kết
9
hợp đồng lao động số 30506/2019/HĐLĐ-E. Theo hợp đồng lao động, các bên
thỏa thuận như sau:
Loại hợp đồng: Hợp đồng thử việc 60 ngày kể từ ngày 16/4/2019 đến
15/6/2019; hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 16/6/2019.
Lương các khoản trợ cấp: Lương bản thử việc lương bản
chính thức: 30.000.000 đồng. các khoản hỗ trợ lương khác: Không áp dụng.
Đóng góp: Công ty sẽ khấu trừ các khoản tương ứng từ lương bản
hàng tháng của người lao động, bao gồm bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp đoàn phí công đoàn theo quy định của pháp luật địa
phương, tỷ lệ đóng góp:
+ Bảo hiểm hội bắt buộc: Công ty người lao động đóng góp lần
lượt là 17,5% và 8%.
+ Bảo hiểm y tế bắt buộc: Công ty và người lao động đóng góp lần lượt
là 3% và 1.5%.
+ Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc: Công ty người lao động đóng góp
lần lượt là 1% và 1%.
+ Kinh phí công đoàn: Công ty người lao động đóng góp lần lượt
2% và 1%.
Ngoài ra, hợp đồng còn có các thỏa thuận khác về thời gian, địa điểm,
nhiệm vụ, điều chuyển công việc các nội dung liên quan khác. Ngoài hợp
đồng lao động này, các bên không hợp đồng lao động hoặc phụ lục hợp
đồng lao độngo khác.
Cần xác định đến thời điểm xảy ra tranh chấp, hợp đồng lao động giữa
hai bên đã ký là loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng, từ tháng 3/2020 đến tháng 6/2020, Công
ty cphần B tự ý đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
cho ông Đào T mức 12.000.000 đồng/1 tháng. Từ tháng 4/2020 đến tháng
6/2020, Công ty không trả đủ lương theo hợp đồng lao động cho ông Đào T.
Ngày 27/5/2020, Công ty cổ phần B ra Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng
lao động đối với ông Đào T kể từ ngày 27/6/2020 với lý do: Người sử dụng lao
động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu theo khoản 1 Điều 44 Bộ
luật lao động năm 2012.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty cổ phần B cho rằng,
ông Đào T đã chủ động xin chuyển từ Phòng pháp chế sang Phòng đối ngoại và
10
được Công ty đồng ý. Tuy nhiên, các bên không kết lại Hợp đồng lao động,
không có thỏa thuận về việc thay đổi bằng văn bản. Tại thời điểm cho thôi việc,
Công ty không chứng minh được do chấm dứt hợp đồng lao động là căn
cứ. Do đó, bản án sơ thẩm xác định Công ty cổ phần B đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động với ông Đào T trái pháp luật là căn cứ. Các bên đương
sự không kháng cáo về nội dung này.
2.2. Về yêu cầu thanh toán các chế đdo bị đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật, đòi tiền lương.
Như nhận định trên, Công ty cổ phần B đã đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động không phù hợp với quy định tại Điều 44, Điều 38 của bộ luật lao
động năm 2012 nên phải nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền cho người lao
động theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật lao động.
Về mức lương làm căn cứ bồi thường: khoản 2 Điều 21 Nghị định số
05/2015/NĐ-CP quy định về tiền lương quy định: Tiền lương trả cho người lao
động được n cứ theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, năng suất lao
động, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã thực hiện.
Trong vụ án này, ngoài thỏa thuận về tiền lương 30.000.000
đồng/tháng, tại tiểu mục 4.1, mục 4, phần II- Điều khoản chung của hợp đồng,
các bên thỏa thuận như sau: Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng
này, Công ty sẽ trả cho người lao động một khoản tiền như được quy định tại
khoản 5 Điều khoản cụ thể (“lương”) được tính theo ngày, nếu người lao động
làm việc không đủ ngày thì tiền lương được tính theo tỷ lệ số giờ làm việc
trong ngày, và sẽ được thanh toán vào tài khoản Ngân hàng của người lao động
vào ngày 30 của mỗi tháng. Nếu ngày 30 ngày cuối tuần, tiền lương sẽ được
trả vào ngày thứ sau trước đó (hoặc trả theo tỷ lệ phần trăm khi người lao động
chỉ làm việc một phần trong một tháng). Do đó, cần xác định mức lương làm
căn cứ bồi thường là 30.000.000 đồng/tháng.
Các khoản tiền Công ty cổ phần B phải bồi thường được xác định cụ thể
như sau:
a. Tiền lương trong những ngày không được làm việc: Tòa án cấp
thẩm xác định thời gian ông Đào T không được làm việc tháng 7.2020. Căn
cứ vào văn bản số 2783/BHXH-TST ngày 07.9.2023 của Bảo hiểm hội Việt
Nam, ông Đào T đã dừng đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty cổ phần B từ tháng
6/2020, từ tháng 8/2020 đến tháng 5/2023, ông Đào T đóng bảo hiểm xã hội tại
11
Công ty cổ phần tập đoàn Thành Công, từ tháng 7/2023 đến nay tại Công ty
trách nhiệm hữu hạn P (Việt Nam). Do đó xác định từ tháng 8/2020 đến nay
không phải là thời gian ông Đào T không được làm việc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Điều 42 Bộ luật lao động quy định:
“…Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã
giao kết phải trả tiền lương, bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế trong những ngày
người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo
hợp đồng lao động”.
Đây quy phạm pháp luật phần chế tài nêu lên những biện pháp tác
động sẽ được áp dụng khi người sử dụng lao động không thực hiện đúng điều
kiện về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Chế tài pháp luật chính
những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Đây thái độ của
nhà nước đối với họ đảm bảo cần thiết cho những quy định của nhà nước được
thực hiện không chế tài loại trừ trường hợp đặc biệt nào. Thời gian người
lao động không được làm việc được xác định thời gian bị chấm dứt hợp
đồng lao đông trái pháp luật người lao động không được làm việc với chính
người sử dụng lao động đã ký hợp đồng lao động. Do đó, mặc ông Đào T đã
hợp đồng lao động với người sử dụng lao động khác thì người sdụng lao
động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật vẫn phải trả
lương cho người lao động cho đến khi nhận người lao động trở lại làm việc. Như
vậy, thời gian không được làm việc được tính từ tháng 7.2020 đến ngày xét x
sơ thẩm là ngày 20/9/2023, tổng là: 38 tháng và 2/3 tháng.
Theo hợp đồng lao động, tiền lương của ông Đào T 30.000.000
đồng/tháng, đã bao gồm bảo hiểm hội 8%, bảo hiểm y tế 1,5%, bảo hiểm
thất nghiệp1%, kinh phí công đoàn 1%. Các khoản tiền này, người sử dụng lao
động phải thực hiện cho người lao động trong thời gian người lao động không
được làm việc theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, theo
đó bản chất của quan hệ bảo hiểm và nguyên tắc thụ hưởng quyền lợi của người
lao động thì cần buộc Công ty cổ phần B phải thực hiện. Do đó, khi tính tiền
lương thực nhận của ông Đào T, cần trừ đi số tiền này. Cụ thể: 30.000.000
đồng/tháng 10,5% tiền lương 3.150.000 đồng (bảo hiểm hội 8%, bảo
hiểm y tế 1,5%, bảo hiểm thất nghiệp1%; kinh phí công đoàn do người lao
12
động không được làm việc nên không phải đóng) = 26.850.000 đồng. Tại phiên
tòa, ông Đào T xác nhận ngoài thỏa thuận đóng các khoản tiền theo hợp đồng
lao động, hàng tháng, người lao động còn phải đóng lệ phí công đoàn các
khoản tiền khác nên lương thực nhận hàng tháng 24.789.650 đồng. Ông Đào
T tnguyện đề nghị tòa án lấy mức lương thực nhận hàng tháng 24.789.650
đồng/ tháng làm căn cứ tính tiền lương người sử dụng lao động phải trả trong
thời gian không được làm việc. Sự tự nguyện của người lao động không trái
pháp luật nên công nhận. Cụ thể: (24.789.650 đồng/tháng x 38 tháng) +
(24.789.650 đồng/tháng x 2/3 tháng) = 958.533.133 đồng.
b. Hai tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
60.000.000 đồng.
c. 15 ngày vi phạm thời gian báo trước: 15.000.000 đồng.
d. Đối với tiền lương tháng 4,5,6 của năm 2020, ông Đào T đã được
nhận như sau:
Tháng 4/2020: 22.231.990 đồng;
Tháng 5/2020: 22.533.190 đồng;
Tháng 6/2020: 20.830.950 đồng.
So với tiền lương ông Đào T được nhận thực tế hàng tháng, còn thiếu:
8.772.820 đồng. Cấp thẩm buộc Công ty cổ phần B thanh toán cho ông Đào
T số tiền này là có căn cứ, đúng pháp luật.
Nguyên đơn kháng cáo v vic xác định mc lãi sut áp dụng đối vi
tin lãi chm tr phát sinh trên tiền lương chưa trả t tháng 04/2020 đến tháng
06/2020 thấp hơn mức lãi sut trần huy động tin gi k hn 01 tháng do
Ngân hàng Nhà c Vit Nam công b ti thời điểm tr lương không phù
hp.
Xét thấy, theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Lao động năm 2012 thì mức
lãi suất để tính lãi trên slương thanh toán còn ít nhất bằng lãi suất huy động
tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương. Tuy
nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất huy động tiền gửi tại ngân hàng
nơi người lao động mở tài khoản nhận lương của người lao động (theo quy định
tại Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2019) để tính lãi chậm trả phát sinh trên tin
lương chưa trả cho ông T chưa đúng. Do đó, ông T kháng cáo v vic cn áp
dng mc lãi sut áp dụng đi vi tin lãi chm tr phát sinh trên tiền lương
13
chưa trả t tháng 04/2020 đến tháng 06/2020 cho ông T 4,75% 1.373.554
đồng là có căn cứ chp nhn.
đ. Tiền trợ cấp thôi việc: Tại cấp thẩm, ông Đào T đề nghị Công ty
cổ phần B phải nhận trở lại làm việc, Công ty cổ phần B cũng đồng ý nhận ông
Đào T trở lại làm việc. Tại phiên tòa hôm nay, ông Đào T tự nguyện không yêu
cầu Công ty cổ phần B nhận trở lại làm việc, tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao
động ktừ ngày 20/9/2023. Sự tự nguyện của ông Đào T không trái pháp luật
nên ghi nhận. Do đó, Công ty cổ phần B phải thanh toán cho ông Đào T tiền trợ
cấp thôi việc cho thời gian làm việc thực tế tại Công ty, mỗi năm bằng ½ tháng
lương. Thời giam làm việc thực tế của ông Đào T từ ngày 15/4/2019 đến
tháng 6/2020 tương đương 14 tháng. Trợ cấp thôi việc được nhận là:
15.000.000 đồng.
e. Tiền ơng cho những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng: Theo tha
thun ca các bên ti Điu 10.1 Mc II ca Hợp đồng lao động s
30506/2019/HĐLĐ-E ngày 16/6/2019 quy định rng "thi gian ngh phép
lương hằng năm của người lao động s tùy theo quyết định ca giám sát viên
các yêu cu công vic kinh doanh ca Công ty". B đơn trình bày ông T đã nghỉ
hết s ngày ngh phép, ông T xác định chưa nghỉ ngày phép nào. H sơ v vic
chưa bt k quyết định nào của giám sát viên liên quan đến việc đồng ý cho
ông T ngh phép, ngh hằng năm trong năm 2020; ông T chưa gi bt k email,
hay tin nhắn nào đăng ký xin ngh phép. Do vậy, có căn cứ để xác định rng ông
T chưa ngh phép trong năm 2020. Tòa án sơ thm không chp nhn yêu cu
khi kin ca ông T v vic buc công ty B thanh toán tiền lương cho những
ngày ngh hằng năm chưa sử dụng là chưa đúng quy đnh ti khoản 1 Điu 114
Bộ luật Lao động năm 2012 (người lao động do thôi vic, b mt vic làm hoc
các lý do khác mà chưa ngh hằng năm hoặc chưa nghỉ hết s ngày ngh hng
năm thì được thanh toán bng tin những ngày chưa nghỉ). Do đó, cần chp nhn
yêu cu kháng cáo này của nguyên đơn, buộc Công ty c phn B thanh toán s
tiền 6 ngày phép chưa nghỉ là: 8.571.428 đồng.
Tổng số tiền Công ty cổ phần E Grup phải thanh toán cho ông Đào T
đến ngày xét xử sơ thẩm là: a.+b.+c.+d.+đ.+e. = 1.067.250.935 đồng.
Công ty cổ phần B còn phải đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp cho ông Đào T trong những ngày không được làm việc, bảo
hiểm hội, bảo hiểm y tế còn thiếu của các tháng tự ý sửa đổi mức lương
14
đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo mức lương
trong hợp đồng lao động đã là 30.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 3/2020
đến 20/9/2023.
Các vấn đề khác không kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
[3] Về án phí:
Do yêu cầu kháng cáo của ông Đào T được chấp nhận một phần nên
không phải chịu án phí phúc thẩm.
Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty cổ phần B phải chịu án phí lao
động thẩm giá ngạch trên stiền phải thanh toán. Số tiền phải thanh toán
là 1.067.250.935 đồng có án phí là: 44.017.528 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn co khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụngn sự.
Sửa một phần bản án lao động sơ thẩm số 07/2023/LĐST ngày 20 tháng
9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận C, xử:
Áp dụng Điều 22, 38, 41, 42, 44, 48, 114 Bộ luật lao động 2012; Nghị
định số 05/2015/NĐ-CP
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Đào T.
2. Chấp nhận yêu cầu của ông Đào T về việc bị Công ty cổ phần B đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Hủy Thông báo về việc
chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhân viên ngày 27.5.2020 của Công ty cổ
phần B đối với ông Đào T.
3. Ghi nhận stự nguyện của ông Đào T không yêu cầu Công ty cổ
phần B nhận trở lại làm việc kể từ ngày 20.9.2023.
4. Buộc Công ty cổ phần B thanh toán trả ông Đào T các khoản tiền
sau:
4.1. Tiền lương trong những ngày không được làm việc: từ ngày
01.7.2020 đến ngày xét xử thẩm 20.9.2023 (38 tháng 2/3 tháng) là:
958.533.133 đồng (chín trăm năm mươi tám triệu năm trăm ba mươi ba nghìn
một trăm ba mươi ba đồng).
4.2. Hai tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
15
4.3. Tiền vi phạm thời gian báo trước: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu
đồng).
4.4. Tiền trợ cấp thôi việc: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
4.5. Tiền lương còn thiếu của tháng 4, 5 6 của năm 2020: 8.772.820
đồng (tám triệu bảy trăm bảy mươi hai nghìn m trăm hai mươi đồng) lãi
chậm trả lương trên số lương chậm trả: 1.373.554 đồng (một triệu ba trăm bảy
mươi ba nghìn năm trăm năm mươi tư nghìn đồng).
4.6. Tiền 6 ngày nghỉ hàng năm chưa nghỉ của năm 2020: 8.571.428
đồng (tám triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng).
Tổng số tiền Công ty cổ phần B phải thanh toán cho ông Đào T là:
1.067.250.935 đồng (một tỷ không trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm năm mươi
nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).
5. Buộc Công ty cphần B phải đóng bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp cho ông Đào T trong những ngày không được làm việc,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn thiếu của các tháng tự
ý sửa đổi mức lương đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
theo mức lương trong hợp đồng lao động đã (mức lương theo hợp đồng lao
động đã ký là 30.000.000 đồng/tháng) kể từ tháng 3/2020 đến 20/9/2023.
6. Về án phí: ông Đào T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty cổ phần B phải chịu án phí lao
động thẩm gngạch trên stiền phải thanh toán là: 44.017.528 đồng
(bốn mươi bốn triệu không trăm mười bảy nghìn năm trăm hai mươi tám đồng).
7. Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các
trường hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án)
hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật dân sự năm 2015.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9
16
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
9. Án xử công khai, phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên
án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Hà Nội;
- Các đương sự;
- Cơ quan thi hành án
- Lưu hồ sơ vụ án.
17
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 75:
(1) và (5) Ghi tên Toà án xét xử phúc thẩm. Nếu là Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thì
cần ghi Tòa án nhân dân tỉnh (thành phố) nào (ví dụ: Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ); nếu Toà án nhân dân cấp cao, thì cần ghi Toà án nhân dân cấp
cao tại thành phố nào (ví dụ: Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng).
(2) Ô th nht ghi số bản án, ô th hai ghi năm ra bản án (ví dụ: Nếu bản án gii
quyết tranh chấp v kinh doanh thương mại m 2017 số 10 thì ghi: S
10/2017/KDTM-PT).
(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử phúc thẩm
và kết thúc trong một ngày hay được xét xử phúc thẩm trong nhiều ngày.
(4) Ghi quan hệ tranh chấp Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp
Tòa án thụ giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng
dân sự, đghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp Tòa án thụ
lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được
quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về
quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
(6) Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán.
(7) Ghi htên của Thư phiên tòa ghi rõ là Thư ký Tòa án hoc Thẩm tra viên
của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(8) Nếu có Viện Kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa thì ghi như hướng dẫn tại
điểm (1) song đổi các chữ "Tòa án nhân dân" thành "Viện kiểm sát nhân dân".
(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ
“Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét x
trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3
năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví
dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không
liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng
3 năm 2017); nếu khác tháng liền nhau thì ghi tngày... tháng... đến ngày...
tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 m 2017); nếu không
lin nhau thì ghi c ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3
và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.
(11) Nguyên đơn nhân thì ghi họ tên, địa chỉ trú (nếu người chưa
thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp
pháp của người chưa thành niên). Trường hợp nguyên đơn quan, tổ chức
thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.
(12) Chỉ ghi khi người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ghi họ tên, địa
chỉ trú; ghi người đại diện theo pháp luật hay người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú
trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu người đại diện
18
theo ủy quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: "được uỷ quyền theo văn bản ủy
quyền ngày... tháng... năm...". Trường hợp người đại diện theo pháp luật của
quan, tổ chức, thì ghi họ tên, chức vụ của người đó.
(13) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi
họ tên, địa chỉ trú (nếu Luật thì ghi Luật của Văn phòng luật
nào thuộc Đoàn luật nào); nếu nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo v
quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.
(14) và (17) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (11).
(15) và (18) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (12).
(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).
(20) Ghi họ tên, địa chỉ trú (nếu người chưa thành niên thì sau họ tên ghi
ngày, tháng, năm sinh họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành
niên).
(21) Ghi họ n, chức danh, địa chỉ i m vic (nếu không có nơi m việc
thì ghi địa chỉ cư trú).
(22) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư
trú).
(23) Ghi họ tên và tư cách tham gia tố tụng của người kháng cáo.
(24) Ghi người thẩm quyền kháng nghị (ví dụ: Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Hà Nam).
(25) Trong phần này ghi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Toà án cấp
thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị.
(26) Trong phần này, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét
tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá nhận định về
kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án
cấp thẩm, những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) Tòa án viện dẫn, áp
dụng; nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bluật t
tụng dân sự thì tùy từng trường hợp Tòa án phân tích, lập luận về việc áp
dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ
hoặc lcông bằng để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị
và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số th t trong du [ ].
(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(28) Ghi các quyết định ca Hội đồng xét x phúc thm v tng vấn đ phi gii
quyết trong v án, v áp dng bin pháp khn cp tm thời, án phí sơ thẩm, phúc
thm, chi phí t tng (nếu có). Trường hp xét x li v án bn án, quyết
định đã bị hy mt phn hoc toàn b theo quyết định giám đốc thm, tái thm
thì Tòa án phi gii quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có)
theo bn án, quyết định hiu lc pháp luật nhưng b hy ghi trong bn
án. Ghi rõ bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
19
(29) Phn cuing ca bn án, đối vi bản án được tng qua ti phòng ngh án
thì phải đầy đ ch ký, ghi h tên ca các thành viên Hội đồng xét x
đóng dấu (bn án này phải lưu vào h sơ vụ án); đi vi bản án đ gi cho các
đương sự, quan, t chc, cá nhân khi kin và Vin kiểm sát thì ghi như sau:
Nơi nhận:
- Ghi theo quy định tại Điều
315 của Bộ luật tố tụng dân
sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
Tải về
Bản án số 03/2024/LĐ-PT Bản án số 03/2024/LĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất