Bản án số 03/2024/KDTM-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2024/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 03/2024/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2024/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2024/KDTM-PT ngày 02/05/2024 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 03/2024/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 03/2024/KDTM-PT
Ngày: 02 – 5 – 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Khánh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Đức và ông Nguyễn Duy Thuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Chi – Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn
Thị Hải Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2024/TLPT-KDTM
ngày 22/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án sơ thẩm số
03/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk
Lắk bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐPT-KDTM
ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng H; Địa chỉ: Số 15T N, phường T, quận C, thành phố
Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc C – Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị; (Vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Xuân L – Chức vụ: Phó Giám đốc
Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk; Địa chỉ: Số 68 – 70 L, phường T, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Vũ Quang V – Chức vụ:
Trưởng phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk; Địa chỉ: Số 334A
G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Cao Thị C, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn P 1, xã E, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Công T, sinh năm 1974; (vắng mặt)
2
+ Bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1981; (vắng mặt)
+ Ông Hoàng Công H1, sinh năm 1983; (vắng mặt)
+ Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1987; (vắng mặt)
+ Bà Hoàng Thị Ngọc A, sinh năm 1989; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
+ Ông Hoàng Công S, sinh năm 1993; (vắng mặt)
Địa chỉ: Phường 22, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà L1, ông H1, bà H2, bà A và ông S:
Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1977 (có mặt); Địa chỉ: Số 94 Đ, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk;
+ Bà Hoàng Thị Mỹ L2, sinh năm 1991; (vắng mặt)
+ Ông Hoàng Công V, sinh năm 1979; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn P 1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
+ Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1977 (có mặt); Địa chỉ: Số 94 Đ, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk.
+ Phòng Công chứng số 02, tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: Số 33 N, thị trấn P, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S (có mặt) – Chức vụ: Phó
trưởng phòng.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Xuân L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền lại tham gia tố tụng của nguyên đơn Ông Vũ
Quang V trình bày:
Ngày 22/11/2013, Phòng Giao Dịch số 01- Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk
cho bà Cao Thị C vay theo Hợp đồng tín dụng số TC 501/917 ngày 22/11/2013, số
tiền vay là: 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 22/11/2013 đến ngày
22/11/2014) và được Ngân hàng cho gia hạn đến 22/11/2015, lãi suất 0,98%/tháng.
Để đảm bảo khoản vay nói trên, ngày 21/11/2013, các bên đã ký kết với Phòng
Giao Dịch số 01 - Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk Hợp đồng thế chấp số: TC
228/13 để thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 246B, tờ
bản đồ số 14, diện tích 180 m
2
, toạ lạc tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do UBND
huyện K cấp ngày 30/9/2003 cho hộ bà Cao Thị C.
Bà Cao Thị C đã vi phạm các cam kết trả nợ theo Hợp đồng tín dụng mà hai
bên đã ký kết. Số tiền vay của bà C đã quá hạn trả nợ từ ngày từ ngày 23/11/2015.
3
Mặc dù cán bộ tín dụng đã nhiều lần làm việc yêu cầu trả nợ nhưng Bà C vẫn không
thực hiện việc trả nợ và có biểu hiện né tránh trách nhiệm trả nợ, không hợp tác với
Ngân hàng.
Nay Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk thông qua Phòng giao dịch số 01, Chi
nhánh huyện K - Đắk Lắk khởi kiện yêu cầu bà Cao Thị C phải trả cho ngân hàng
tổng số tiền tính đến ngày 18/8/2023 là 2.051.148.400 đồng. Trong đó, nợ gốc là
694.000.000 đồng, tiền lãi là 1.357.148.400 đồng. Tiếp tục tính lãi quá hạn, lãi chậm
trả trên số tiền gốc phát sinh theo hợp đồng tín dụng số TC 501/917 ngày 22/11/2013
cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng. Nếu bà C không trả hết nợ gốc và lãi
vay Ngân hàng, đề nghị Tòa tuyên xử lý tài sản thế chấp đảm bảo tiền vay theo Hợp
đồng thế chấp số TC 228/13 ngày 21/11/2013 để thu hồi nợ cho Nhà nước.
Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xác định
tính đến ngày 28/9/2023 thì bà Cao Thị C còn nợ tổng số tiền là 2.065.090.800 đồng,
trong đó nợ gốc là 694.000.000 đồng, lãi trong hạn là 217.873.400 đồng, lãi quá hạn
là 1.142.884.500 đồng, lãi chậm trả là 10.332.900 đồng. Do đó, Ngân hàng H khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Cao Thị C phải thanh toán số tiền
2.065.090.800 đồng.
Bị đơn bà Cao Thị C trình bày:
Tôi có giao kết với Ngân hàng H Hợp đồng tín dụng số TC 501/917 và Hợp
đồng thế chấp số TC 228/13 cùng ngày 22/11/2013 có nội dung như nguyên đơn đã
trình bày.
Theo hợp đồng tín dụng mà tôi đã ký kết với Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk
thì tính đến nay tôi đã trả cho Ngân hàng được số tiền gốc là 306.000.000 đồng và
tiền lãi là 20.920.000 đồng.
Quá trình vay, tôi làm ăn gặp nhiều khó khăn và gia đình gặp nhiều biến cố nên
chưa trả được nợ cho ngân hàng. Tôi mong muốn Ngân hàng tại điều kiện để cho tôi
thêm thời gian để tôi trả khoản nợ gốc và lãi. Đến nay, tôi xác định đã vi phạm Hợp
đồng. Sau khi Ngân hàng nộp đơn khởi kiện và đến buổi làm việc vào lần trước thì
tôi đã cố gắng xoay tiền các nơi để trả thêm cho ngân hàng nhưng tôi chưa tìm được
người đồng ý cho vay mượn tiền và cũng chưa tìm được người để mua đất của tôi nên
gia đình chúng tôi chưa trả thêm được khoản nào cho ngân hàng.
Nay Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk thông qua Phòng giao dịch số 01, Chi
nhánh huyện K - Đắk Lắk yêu cầu tôi phải trả cho ngân hàng tổng số tiền tính đến
ngày 18/8/2023 là 2.051.148.400 đồng, trong đó nợ gốc là 694.000.000 đồng và tiền
4
lãi là 1.357.148.400 đồng thì tôi không đồng ý. Bởi vì, tôi hiện tuổi đã cao, sức khoẻ
đã rất yếu, không trả tiếp được nợ cho ngân hàng và cũng không có tiền để trả nợ thi
hành án. Vì vậy, tôi đề nghị Ngân hàng xem xét giảm trừ số nợ, miễn cho tôi tiền lãi
suất để tôi động viên các con giúp tôi trả thay số nợ gốc còn lại, nếu không được thì
tôi đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định.
Đối với việc yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số TC
228/13 để thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 246B, tờ
bản đồ số 14 thì tôi không đồng ý vì Hợp đồng uỷ quyền ngày 21/11/2013 không đủ
thành viên trong hộ gia đình tham gia ký và Hợp đồng thế chấp trên cũng không đúng
theo quy định.
Tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật và tuyên
Hợp đồng thế chấp số TC 228/13 ngày 21/11/2013 là vô hiệu. Vì như vậy mới đảm
bảo quyền và lợi ích cho các thành viên trong gia đình chúng tôi theo quy định của
pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị M, đồng thời là người
đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Hoàng
Công T, bà Hoàng Thị L1, ông Hoàng Công H1, bà Hoàng Thị H2, bà Hoàng Thị
Ngọc A, ông Hoàng Công S trình bày:
Tôi là con ruột của bà Cao Thị C đồng thời là người được các anh chị em tôi
gồm ông Hoàng Công T, Bà Hoàng Thị L1, Ông Hoàng Công H1, Bà Hoàng Thị H2,
Bà Hoàng Thị Ngọc A, Ông Hoàng Công S uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án.
Tôi xác định mẹ tôi có giao kết với Ngân hàng H Hợp đồng tín dụng số TC
501/917 và Hợp đồng thế chấp số TC 228/13 cùng ngày 22/11/2013 có nội dung như
nguyên đơn đã trình bày. Đến nay mẹ tôi đã trả cho Ngân hàng được số tiền gốc là
306.000.000 đồng và tiền lãi là 20.920.000 đồng.
Về quan điểm giải quyết vụ án thì tôi đồng ý với phần trình bày của mẹ tôi, đề
nghị Ngân hàng xem xét đến điều kiện và hoàn cảnh hiện nay của mẹ tôi để chấp
nhận và xét giảm một phần lãi. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm thì tôi cũng không
đồng ý và yêu cầu Toà án tuyên Hợp đồng thế chấp số TC 228/13 ngày 21/11/2013
là vô hiệu. Về Hợp đồng uỷ quyền ngày 21/11/2013, trong quá trình giải quyết vụ án
tôi không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của các anh chị em trong hợp đồng ủy
quyền này. Về tiền án phí, do mẹ tôi hiện đã lớn tuổi cao sức yếu thường hay ốm đau,
không có thu nhập, không những vậy mẹ tôi hiện còn phải chăm sóc 01 người con gái
5
tên là Hoàng Thị Mỹ L2 tên thường gọi là T, sinh năm 1991 là nạn nhân chất độc da
cam Dioxin, mất khả năng lao động, phải sống nhờ trợ cấp hàng tháng của Nhà nước.
Người đại diện theo pháp luật của Phòng Công chứng số 02 tỉnh Đắk Lắk
Ông Nguyễn Ngọc S trình bày:
Ngày 21/11/2013, Phòng Công chứng số 2 có công chứng Hợp đồng ủy quyền
số công chứng 4917, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD giữa bên ủy quyền là các
ông/bà Hoàng Công T, Hoàng Thị M, Hoàng Công V, Hoàng Thị L1, Hoàng Thị H2,
Hoàng Thị Ngọc A, Hoàng Công S, Hoàng Công H1 với bên nhận ủy quyền bà Cao
Thị C đối với tài sản là QSD đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 146624
do UBND huyện K cấp ngày 30/9/2003. Nội dung ủy quyền để thế chấp tại Ngân hàng
để vay vốn.
Về thủ tục công chứng: Nội dung, hình thức, mục đích của Hợp đồng ủy quyền
số công chứng 4917, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD đã được Phòng Công chứng số
2, tỉnh Đắk Lắk công chứng đúng theo quy định của Luật công chứng năm 2006, không
vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; tại thời điểm công chứng các bên giao
kết có mặt, có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và cung cấp đầy
đủ các giấy tờ liên quan đến việc ủy quyền, đã đồng ý toàn bộ nội dung trong hợp
đồng và ký Hợp đồng trước mặt Công chứng viên. Ngoài ra, Phòng công chứng số 2
tỉnh Đắk Lắk không có ý kiến gì thêm khác.
Tại Bản án sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân
dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39,
Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ
luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 128, Điều 137, Điều 160, Điều 471, Điều 474
của Bộ luật dân sự 2005; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng H: Buộc bà
Cao Thị C phải trả cho Ngân hàng H tổng số tiền tính đến ngày 28/9/2023 là
2.065.090.800 đồng (Hai tỷ, không trăm sáu mươi lăm triệu, không trăm chín mươi
ngàn, tám trăm đồng); Trong đó: Gốc 694.000.000 đồng; lãi 1.371.090.800 đồng.
6
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H đối với việc
tranh chấp hợp đồng thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số:
TC 228/13 ngày 21/11/2013 để đảm bảo cho khoản vay của bà Cao Thị C theo hợp
đồng tín dụng số TC 501/917 ngày 22/11/2013 với Ngân hàng H, Chi nhánh Đắk Lắk
- Phòng giao dịch số 01.
Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp số: TC 228/13 ngày 21/11/2013 đối với
tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng
nhận QSDĐ số V 146624 có diện tích: 180 m
2
; Thửa đất số: 246B; Tờ bản đồ số: 14,
số vào sổ: 415286 QSDĐ do UBND huyện K cấp ngày 30 tháng 9 năm 2003 cho hộ
bà Cao Thị C.
Trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 146624 do UBND huyện K
cấp ngày 30 tháng 9 năm 2003 cho hộ bà Cao Thị C của Thửa đất số: 246B; Tờ bản
đồ số: 14, số vào sổ: 415286 diện tích: 180 m
2
toạ lạc tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
cho bà Cao Thị C.
Ngoài ra, Quyết định sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2023, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn
Xuân L kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội
dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án cũng
như các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án.
Về nội dung vụ án: Theo kết quả xác minh tại UBND xã E, huyện K thì bà Hoàng
Thị Mỹ L2 bị nhiễm chất độc Dioxin, mất khả năng lao động từ 81% trở lên và được
hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng nhưng chưa mất năng lực hành vi dân sự nên vẫn có
quyền được thừa kế đối với thửa đất số 246B. Quá trình giải quyết Toà án sơ thẩm
không tiến hành các biện pháp cần thiết để lấy lời khai của bà L2, bà L2 cũng không
có người đại diện theo uỷ quyền mà nhận định bà L2 vắng mặt dù đã được triệu tập
hợp lện 2 lần nhưng vắng mặt là chưa đảm bảo quyền và lợi ích của bà L2. Ngoài ra,
Toà án cấp sơ thẩm cũng chưa đưa Văn phòng công chứng T vào tham gia tố tụng là
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
7
Từ những phân tích, nhận định trên, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308,
Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên
đơn Ngân hàng H và huỷ một phần Bản án sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày
28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn
Xuân L được nộp trong thời hạn luật định và đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp
lệ. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù
hợp. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn
khởi kiện và đơn kháng cáo; Các đương sự không tự hòa giải được với nhau về việc
giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng số TC 501/917 ngày 22/11/2013 và phụ lục hợp
đồng tín dụng số TC 501/917/PL-HĐTD ngày 21/11/2014, bị đơn bà Cao Thị C và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị M đều thừa nhận bà C đã vi
phạm nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng trên. Mặc dù đã được Ngân hàng gia hạn thời gian
trả nợ đến ngày 22/11/2015 và đã được Ngân hàng nhiều lần làm việc, nhắc nhở
nhưng đến nay bà C chưa vẫn trả được hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng là vi phạm
thoả thuận tại điểm c khoản 2 Điều 7 Hợp đồng tín dụng số TC 501/917 ngày
22/11/2013. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 305 và khoản 1, 5
Điều 474 BLDS 2005, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Cao Thị C phải
trả cho Ngân hàng tổng số tiền 2.065.090.800 đồng nợ gốc, lãi suất nợ quá hạn và
tiền phạt chậm trả là phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời các đương sự
cũng không kháng cáo về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Đối với Hợp đồng thế chấp số TC 228/13 ngày 22/11/2013 thì thấy: Tòa
án cấp sơ thẩm cho rằng tại thời điểm bà C vay ngân hàng, ký hợp đồng thế chấp số
TC 228/13 ngày 21/11/2013 mặc dù những người con của bà C có làm hợp đồng ủy
quyền, nhưng còn một người con út là chị Hoàng Thị Mỹ L2 sinh năm 1991 đã đủ 15
tuổi cũng là thành viên của hộ gia đình không ký, nên căn cứ Điều 109 BLDS 2005
và khoản 2 Điều 146 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 để tuyên hợp
đồng thế chấp vô hiệu là chưa đủ căn cứ. Bởi lẽ, thửa đất số 246B, tờ bản đồ số 14,
8
đã được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ vào ngày 30 tháng 9 năm 2003 cho hộ bà
Cao Thị C. Như vậy, tại thời điểm này bà C là chủ hộ, còn chị L2 là con út trong gia
đình lúc này mới 12 tuổi, đang trong độ tuổi ăn học, chưa có công sức đóng góp vào
tài sản chung của bố mẹ. Mặt khác, theo lời khai của bà C và tại Biên bản xác minh
(BL số 135) thì xác định chị L2 là người bị nhiễm chất độc hóa học, bị dị dạng, suy
giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bà C phải chăm sóc và nuôi từ nhỏ cho đến
nay, hiện chị L2 cũng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Do đó có cơ sở
xác định bà C là người trực tiếp nuôi dưỡng, chị L2 là người sống phụ thuộc mẹ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có đưa chị L2 vào tham gia tố
tụng vơi tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không thu thập lời
khai và ý kiến của chị L2, đồng thời theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 47 Bộ
luật Dân sự 2015 thì nếu chị L2 thuộc trường hợp “Người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi” thì cần phải có người giám hộ trong quá trình tham gia tố tụng
tại tòa án, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện nội dung này đã làm ảnh hưởng
quyền lợi hợp pháp của đương sự.
Như vậy, xét thấy cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ và không
đưa Văn phòng công chứng T vào tham gia tố tụng là thiếu sót, làm ảnh hưởng đến
việc đánh giá chứng cứ, mà tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục bổ sung được.
Nên cần phải hủy một phần của bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải
quyết lại đối với nội dung về hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm giữa bà Cao Thị C
với Ngân hàng H là phù hợp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí:
- Về án phí sơ thẩm: Do bà Cao Thị C là người cao tuổi nên được miễn chịu án
phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng H số tiền 35.140.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp.
- Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng H không phải chịu án phí và được nhận lại
2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng có của nguyên đơn Ngân hàng H; Huỷ một phần Bản án
sơ thẩm số 03/2023/KDTM-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông

9
Pắc, tỉnh Đắk Lắk và chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục
sơ thẩm.
[2] Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
án phí, lệ phí Tòa án:
- Về án phí sơ thẩm: Bà Cao Thị C không phải chịu án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng H số tiền 35.140.000 đồng (Ba mươi lăm triệu
một trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0016542,
ngày 19/10/ 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Về án phí phúc thẩm: Ngân hàng H không phải chịu án phí và được nhận lại
2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số
0003407 ngày 18/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Krông Pắc;
- Chi cục THADS huyện K; (Đã ký)
- Các đương sự;
- Công thông tin điện tử Tòa án;
- Lưu hồ sơ vụ án. Hoàng Kim Khánh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm