Bản án số 03/2023/KDTM-ST ngày 16/01/2023 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2023/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2023/KDTM-ST ngày 16/01/2023 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 03/2023/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/01/2023
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chúng tôi, Công ty, là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về phần mềm quản lý vòng đời sản phẩm và quản lý hoạt động sản xuất. Chúng tôi giúp hàng ngàn công ty thực hiện đổi mới bằng cách tối ưu hóa quy trình của họ, từ việc lập kế hoạch và phát triển thông qua việc chế tạo, sản xuất và hỗ trợ. Phần mềm Siemens NX là một giải pháp tích hợp toàn diện các khâu thiết kế sản phẩm, phân tích kỹ thuật và chế tạo giúp khách hàng cung cấp các sản phẩm tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn; được tích hợp CAD/CAM/CAE
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG NAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 03/2023/KDTM-ST
Ngày: 16 - 01 -2023
V/v Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến.
Bà Nguyễn Thị Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 16 tháng 01 năm 2023, tại trsở Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2019/TLST-DS ngày
01 tháng 4 m 2019 về “Tranh chấp về quyền tác giả” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 28/2022/QĐST-DS ngày 04/5/2022, Quyết định hoãn phiên tòa
số 363/2022/QĐST-DS ngày 03/6/2022, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số
428/2022/QĐST-DS ngày 30/6/2022, Thông báo số 664/TB-DSST ngày
16/9/2022 về việc mở lại phiên tòa, Thông báo số 691/TB-DSST ngày
29/9/2022 về việc mở lại phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa số
776/2022/QĐST-DS ngày 28/10/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số
865/2022/QĐST-DS ngày 25/11/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số
920/2022/QĐST-DS ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty S.
Địa chỉ đăng ký: USA.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Anthony L Chủ tịch và Tổng Giám
đốc điều hành của Công ty S (đã ủy nhiệm kết” cho ông S– Phó Chủ tịch
cấp cao, Luật trưởng và Thư của Công ty “được quyền mọi hợp đồng,
giấy ủy quyền tất cả các tài liệu khác liên quan đến việc bảo vệ thực thi
quyền sở hữu trí tuệ của Công ty”).
- Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1975 (có mặt)
2
Địa chỉ: F4B, tổ 7, phường L, TP.Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Công ty V, phường 7, Quận 3, TP.Hồ Chí Minh (Theo
văn bản ủy quyền vào ngày 30/11/2018).
2. B đơn : Công ty T
Địa chỉ: 31, lô 32, Khu dân cư A, phường A, TP.B, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1978
Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc.
Địa chỉ: Lô I21-C, Khu công nghiệp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện vào ngày 30/11/2018 trong quá trình làm việc tại
Tòa án, nguyên đơn Công ty trình bày:
Chúng tôi, Công ty, nhà cung cấp hàng đầu thế giới về phần mềm quản
vòng đời sản phẩm quản lý hoạt động sản xuất. Chúng tôi giúp hàng ngàn
công ty thực hiện đổi mới bằng cách tối ưu hóa quy trình của họ, từ việc lập kế
hoạch và phát triển thông qua việc chế tạo, sản xuất và hỗ trợ.
Phần mềm Siemens NX một giải pháp tích hợp toàn diện các khâu thiết
kế sản phẩm, phân tích kỹ thuật chế tạo giúp khách hàng cung cấp các sản
phẩm tốt hơn, nhanh hơn hiệu quả hơn; được tích hợp CAD/CAM/CAE:
Những quyết định thông minh hơn, sản phẩm tốt hơn. Phần mềm NX giúp khách
hàng thiết kế, phỏng sản xuất những sản phẩm tốt hơn nhanh hơn bằng
cách đưa ra những quyết định thông minh hơn trong môi trường phát triển sản
phẩm tích hợp.
Chúng tôi chủ s hữu các phần mềm Siemens NX bao gồm nhưng
không giới hạn các phiên bản sau NX5, NX6, NX8, NX9, NX10, NX11...Trong
đó, phiên bản NX9 đã được đăng Quyền tác giả tại Hoa Kỳ như sau: Giấy
chứng nhận quyền tác giả phần mềm NX( số Txu 1-883-621 do Văn phòng bản
quyền tác giả Hoa Kỳ cấp ngày 25/9/2013).
Phần mềm NX, bao gồm NX9 được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định
của Luật sở hữu trí tuệ, Công ước Rome vbảo hộ các tác phẩm văn học
nghệ thuật năm 1971” và “Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2001”.
Do vậy, mọi hành vi sao chép, cài đặt sử dụng phần mềm NX không được phép
của chúng tôi xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Theo kết quả kiểm tra ghi nhận trong Biên bản Thanh tra lập ngày
15/12/2016 của Đoàn thanh tra liên ngành của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao
Du lịch Bộ Công an, Kết luận thanh tra số 114/KL-TTr ngày 21/12/2016
của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch thể hiện bị đơn Công ty
3
TNHH On Top đã hành vi sao chép, sử dụng trái phép các phần mềm không
bản quyền, bao gồm: 01 bản phần mềm Siemens NX9.0.0.19 (phần mm NX9).
Theo đó, thông qua đại diện pháp lý của chúng tôi tại Việt Nam Công ty
V đã mời bị đơn làm việc để giải quyết khắc phục vi phạm trên cơ sở sở thương
lượng và hòa giải nhưng bị đơn đã không có thiện chí hợp tác giải quyết.
Do vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 198, Điều 202, Điều 204
Điều 205 của Luật sở hữu trí tuệ, để bảo vệ quyền lợi ích hp pháp của
chúng tôi, chúng tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải
quyết các vấn đề như sau:
1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi của Công ty T sử dụng phần Siemens
NX không được phép hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phầm mềm
máy tính Siemens NX của Công ty S.
2. Buộc Công ty T chấm dứt việc sử dụng bất kỳ phần mềm nào không có
bản xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty S.
3. Buộc Công ty T loại bỏ tất cả phần mềm Siemens NX không bản
quyền trên tất cả các máy tính và cam kết không xâm phạm bất kỳ quyền sở hữu
trí tuệ nào của Công ty S.
4. Buộc Công ty T phải xin lỗi công khai vnhững hành vi xâm phạm
quyền tác giả đối với phần mềm máy tính Siemens NX của ng ty S trên báo
Tuổi trẻ (TP.Hồ Chí Minh), báo Nhân dân trong ba số liên tiếp.
5. Buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công ty các khoản tiền
sau:
- Gía trị thương mại gchuyển giao quyền sử dụng của 01 bản phần
mềm NX 9 không bản quyền (bản đầy đủ các modules) là: 4.945.173.800
đồng (bốn t chín trăm bốn ơi lăm triệu một trăm bảy mươi ba nghìn tám
trăm đồng).
Đến ngày ngày 24/5/2022, người đại diện theo ủy quyền Công ty S có đơn
thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai giải quyết nhưng nội dung sau:
1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi của Công ty T sử dụng phần Siemens
NX không được phép hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phầm mềm
máy tính Siemens NX của Công ty Công ty S.
2. Buộc Công ty T phải xin lỗi công khai về những hành vi xâm phạm
quyền tác giả đối với phần mềm máy tính Siemens NX của ng ty S trên báo
Tuổi trẻ (thành phố Hồ Chí Minh), báo Nhân dân trong ba số liên tiếp.
4
3. Buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công Ty S các khoản tiền
sau:
- Gía trị thương mại giá chuyển giao quyền sdụng (giá bán) của 01
bản phần mềm NX 9 giới hạn 3 -đun tính năng thiết kế sản phẩm, thiết kế
khuôn mẫu và gia công là: 2.001.020.910 đồng (Hai t một triệu không trăm hai
mươi nghìn chín trăm mười nghìn đồng).
Tại Bản tự khai ngày 12/5/2020 trong quá trình làm việc tại Tòa án,
người đại diện theo pháp luật của Công ty T là ông Nguyễn Đình T trình bày:
- Tại Bản tự khai vào ngày 12/5/2020 (BL400), ông Nguyễn Đình T trình
bày: Trong khoảng thời gian năm 2016, chúng tôi có mua lại một số máy của
Công ty VP theo dạng thanh lý, đến ngày 15/12/2016, Thanh tra Bộ Văn hóa,
Thể thao Du lịch đến kiểm tra nhưng thực tế những máy này không hoạt
động một thời gian dài do không chức năng của Công ty. Sau khi nhận được
lời khuyên của các anh trong Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch, chúng tôi đã
soát lại trong toàn bộ hệ thống Công ty yêu cầu gỡ bỏ các phần mềm không
được phép sử dụng (các Biên bản của Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch, chúng
tôi đã thực hiện);
- Tại Biên bản làm việc vào ngày 18/8/2020 (BL425), ông Nguyễn Đình T
có ý kiến là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty S nhưng thừa nhận
thời điểm kiểm tra, Công ty T vi phạm về bn quyền tác giả đối với phần
mềm NX9, công ty T đã tháo dỡ phần mềm NX9 không bản quyền trên các
máy tính và khắc phục hậu quả (Công ty T sẽ thể hiện ý kiến đối với các yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn và kèm theo các tài liệu chứng cứ);
- Tại văn bản vào ngày 03/01/2022 (BL435), Công ty T ý kiến: Chúng
tôi đã mua lại một số máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất của Công ty TNHH
công nghiệp đúc VP giải thể thanh một số thiết bị CNC thiết bị vi tính đi
kèm theo hòa đơn 0001002; chúng tôi mua máy tính của VPDC khá kỹ, chủ
yếu để bán lại theo hình thức phế liệu tại kho L. Sau khi Bộ văn hóa kiểm tra
phát hiện các phần mềm, trong đó NX trong 01 bộ máy CNC đã mua từ
VPDC đã yêu cầu gỡ bỏ. Chúng tôi đã chấp hành hủy bỏ do không sử dụng hoặc
nhu cầu tại kho Agtext L ngay sau khi được nhắc nhở theo chỉ đạo của văn
bản Bộ Văn hóa;
- Tại Biên bản làm việc vào ngày 04/01/2022 (BL438), ông Nguyễn Đình
T xác định sẽ cung cấp văn bản trình bày ý kiến, tài liệu liên quan Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính (kèm theo các tài liệu liên quan). Đồng thời, ông
Nguyễn Đình T ý kiến đề nghị một quan thẩm định giá, giám định lại giá
5
trị bồi thường thiệt hại về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường số
tiền 4.945.173.800đ là quá cao, cần đưa ra giá hợp lý tại thời điểm sử dụng;
Tại phiên tòa thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai
ý kiến:
1. Về chấp hành pháp luật ttụng dân sự: Chấp hành theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự;
2. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty S.
3. Về các kiến nghị: Không.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và
kết quả tranh tụ ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Nguyên đơn Công ty S địa chỉ đăng tại USA theo Giấy chứng
nhận thành lại được sửa đổi trình bày lại của Công ty tại Hoa Kỳ (BL325-
328). Theo Điều lệ Công ty được sửa đổi, bổ sung và trình bày lại lần thứ sáu
của Công ty (BL287) và Ủy nhiệm ký kết (BL303) thì ông A Chủ tịch và Tổng
Giám đốc điều hành người đại diện theo pháp luật (có toàn quyền các giấy
tờ của Công ty, bao gồm đơn khởi kiện) và đã “ủy nhiệm ký kết” cho ông S
Phó Chủ tịch cấp cao, Luật sư trưởng Thư ký của Công ty “được quyền
mọi hợp đồng, giấy ủy quyền tất cả c tài liệu khác liên quan đến việc bảo
vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Công ty”;
- Bị đơn là Công ty T (BL268-269), khi đăng ký lần đầu vào ngày
08/7/2011 tên gọi Công ty N khi đăng thay đổi lần 4 vào ngày
20/7/2018 tên gọi Công ty T do ông Nguyễn Đình T Chủ tịch Hội đồng
thành viên kiêm Giám đốc người đại diện theo pháp luật. Quá trình tiến hành
tố tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhiều lần triệu tập và tiến hành niêm yết
theo quy định đCông ty T tham gia tố tụng nhưng ông Nguyễn Đình T đều
vắng mặt không do nên Hội đồng xét xtheo quy định tại các Điều 227,
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn giành
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu khời kiện của Công ty S đối với Công ty T là tranh chấp về
quyền tác giả (hay còn gọi là tranh chấp quyền sở hưu trí tuệ) đối với phần mềm
NX9 được nguyên đơn đăng quyền sở hu tác giả số đăng TXu 001-
883-621, có hiệu lực vào ngày 25/9/2013 tại Hoa Kỳ (BL68-71).
6
Tại Công văn số 303/BQTG-QLQTGQLQ ngày 02/10/2020 của Cục Bản
quyền tác giả thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch xác định (BL409): “Hiện
nay, Việt Nam Hoa Kỳ đã kết 02 Điều ước quốc tế song song (Hiệp định
về thiết lập quan hệ quyền tác giHiệp định về quan hệ thương mại) đều
thành viên của 02 Điều ưóc quốc tế đa phương vquyền tác giả, quyền liên
quan hiện đang hiệu lực tại cả Việt Nam Hoa Kỳ (Công ước Bern về bảo
hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật, Hiệp định Trip quy định về khía cạnh
liên quan đến thương mại của quyền sở hữu ttuệ). Theo đó, các tác phẩm
Quốc gia thành viên của các Điều ước quốc tế nêu trên sẽ được bảo hộ tại
Viêt Nam theo quy định tại Luât sở hữu trí tuệ các văn bản pháp luật liên
quan. Chương trình máy tính loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
theo quy định tại Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ”.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa Công ty S
Công ty T tranh chấp kinh doanh, thương mại về quyền sở hữu trí tuệ đều
mục đích li nhuận theo quy định tại khoản 2 điều 30, điểm a khoản 1 Điều
37, điểm a khoản 1 Diều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu khởi kiện:
Công ty S thông qua đại diện pháp tại Việt Nam Công ty V mời
Công ty T m việc để giải quyết khắc phục vi phạm. Tuy nhiên, Công ty T
không có thiện trí hợp tác giải quyết nên vào ngày 30/11/2018, Công ty S có đơn
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
1. Yêu cầu tòa án tuyên bố hành vi của Công ty T sử dụng phần Siemens
NX không được phép hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phầm mềm
máy tính Siemens NX của Công ty S.
2. Buộc Công ty T chấm dứt việc sử dụng bất kỳ phần mềm nào không có
bản quyền xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty S.
3. Buộc Công ty T loại bỏ tất cả phần mềm Siemens NX không bản
quyền trên tất cả các máy tính và cam kết không xâm phạm bất kỳ quyền sở hữu
trí tuệ nào của Công ty S.
4. Buộc Công ty T phải xin lỗi công khai vnhững hành vi xâm phạm
quyền tác giả đối với phần mềm máy tính Siemens NX của Công ty S trên báo
Tuổi trẻ, báo nhân dân trong ba số liên tiếp.
5. Buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công Ty S các khoản tiền
sau:
7
- Gía trị thương mại gchuyển giao quyền sử dụng của 01 bản phần
mềm NX 9 không bản quyền (bản đầy đủ các modules) là: 4.945.173.800
đồng.
Đến ngày 24/5/2022, người đại diện theo ủy quyền Công ty S văn bản
thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn
Công ty S chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi của Công ty T sử dụng phần Siemens
NX không được phép hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phầm mềm
máy tính Siemens NX của Công ty S.
2. Buộc Công ty T phải xin lỗi công khai vnhững hành vi xâm phạm
quyền tác giả đối với phần mềm máy tính Siemens NX của Công ty S trên báo
Tuổi trẻ (thành phố Hồ Chí Minh), báo Nhân dân trong ba số liên tiếp.
3. Buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công Ty S các khoản tiền
sau:
- Gía trị thương mại giá chuyển giao quyền sử dụng (giá bán) của 01
bản phần mềm NX 9 giới hạn 3 -đun tính năng thiết kế sản phẩm, thiết kế
khuôn mẫu và gia công là: 2.001.020.910 đồng.
Do đó, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xvụ án
trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ xét xử đối với phần
nguyên đơn rút yêu cầu.
[3] Xét các yêu cầu khởi kiện của Công ty Sđối với Công ty T, Hội đồng
xét xử xác định:
[3.1] Đối với yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi của Công ty T sử dụng
phần Siemens NX không được phép hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với
phầm mềm máy tính Siemens NX của Công ty S.
- Theo Biên bản thanh tra vào ngày 15/12/2016 của Đoàn thanh tra liên
ngành của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch (BL157-160) và Kết luận
Thanh tra số 114/KL-Ttr ngày 21/12/2016 của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao
Du lịch (BL155) thì bị đơn Công ty T đã sao chép, sử dụng các phần mềm
máy tính trong đó phần mềm Siemens NX 9.0.0.19 (phần mềm NX9) thuộc
sở hữu của Công ty S đã được bo h ti Việt Nam.
- Tại Biên bản vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan số
259/BB-VPHC ngày 15/12/2016 của Thanh tra Bộ Bộ Văn hóa, Thể thao Du
lịch xác định Công ty T đã hành vi vi phạm hành chính sao chép tác phẩm
(phần mềm máy tính) mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả quy
định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của
8
Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên
quan đến ngày 21/12/2016, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch
Quyết định số 103/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính về quyền
tác giả, quyền liên quan đối với Công ty T (các biên bản vi phạm đều thể hiện
người đại diện theo pháp luật của Công ty T nhận thừa nhận hành vi vi
phạm);
- Ông Nguyễn Đình T là người đại diện theo pháp luật của Công ty T thừa
nhận tại thời điểm kiểm tra Công ty T có vi phạm bản quyển tác giả đối với phần
mềm NX9 (BL425), Công ty đã tháo gỡ các phần mềm NX9 không bản
quyền trên máy tính của mình đã khắc phục hậu quả, đã nộp phạt vi phạm
hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Ngoài ra, ông Nguyễn Đình T cho
rằng vào tháng 7/2012, Công ty T đã mua lại một số máy móc, thiết bị công cụ,
dụng cụ sản xuất của công ty VP có thiết bị máy vi tính đi kèm theo hóa đơn
số 0001002, trong đó phần mềm NX trong 01 bộ máy CNC đã mua từ
(VPDC BL435). Tuy nhiên, máy móc thiết bị mua của VP từ năm 2012 đến
thời điểm kiểm tra thuộc sở hữu của công ty T nên không thể không biết trên
máy CNC có phần mềm NX9, nên không có cơ sở để xem xét.
- Ngoài ra, quá trình làm việc tại Tòa án, người đi diện theo ủy quyền
của nguyên đơn còn cung cấp tài liệu: Vi bằng số 3202/2020/VB-TPLQ.10 ngày
20/8/2020, thể hiện:
Khi giới thiệu trang Web của bị đơn thì bị đơn có giới thiệu T đội ngũ
thiết kế kỹ thuật, sử dụng phần mềm NX-để phục vụ cho hoạt động thiết
kế của bị đơn (BL368);
Khi giới thiệu đăng tuyển trên trang tuyển dụng timviec365.vn ngày
07/02/2018 thì bị đơn thể hiện tuyển dụng kỹ k-chế tạo yêu cầu thành
thạo các phần mềm cơ khí như NX9 (BL365)
Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty S về việc
tuyên bố hành vi của Công ty T sử dụng phần Siemens NX không được phép
hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phầm mềm máy tính Siemens NX của
Công ty S.
[3.2] Đối với u cầu buộc Công ty T phải xin lỗi công khai về những
hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy tính Siemens NX của
Công ty S trên báo Tuổi trẻ (thành phố Hồ Chí Minh), báo Nhân dân trong ba số
liên tiếp.
- Theo quy định tại Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ quy định: Tòa án áp
dụng các biện pháp dân ssau đây để xử tchức, nhân hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ:
9
1.Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
2.Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
3.Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự...;
- Công ty T hành vi xâm phạm quyền sở hữu ttuệ (như trên đã phân
tích);
Do đó, Hội đồng xét xử trên sở quy đinh tại khoản 2 Điều 202 Luật sở
hữu trí tuệ, chấp nhận yêu cầu của Công ty S về việc buộc Công ty T phải xin lỗi
công khai về những hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phần mềm máy
tính Siemens NX9 của nguyên đơn trên báo Tuổi trẻ (thành phố Hồ Chí Minh),
báo Nhân dân trong ba số liên tiếp với nội dung “Công ty T gửi lời xin lỗi đến
Công ty S đã hành vi xâm phạm quyền tác giả khi sử dụng phần mềm
Siemens NX9.0.0.19 nhưng đã không xin phép, không trả tiền bản quyền s
dụng theo quy định”.
[3.3] Đối với yêu cầu buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công
Ty S các khoản tiền sau: Gía trị thương mại giá chuyển giao quyền sử dụng
(giá bán) của 01 bản phần mềm NX 9 giới hạn 3 -đun tính năng thiết kế
sản phẩm, thiết kế khuôn mẫu và gia công là: 2.001.020.910 đồng”.
[3.3.1] Trong Đơn khởi kiện vào ngày 30/11/2018, nguyên đơn yêu
cầu bồi thường thiệt hại tương đương giá chuyển giao quyền sử dụng của số
lượng bản phần mềm NX9 xâm phạm, cụ thể: Giá thương mại giá chuyển
giao quyền sử dụng của 01 bản phần phần mềm NX9 không bản quyền (bản
đầy đủ các modules) 4.945.173.800 đồng (bốn tỷ chín trăm bốn mươi lăm
triệu một trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm đồng) kèm theo bảng báo giá
(BL189-258).
Tuy nhiên , trong quá trình làm việc, trên sở tài liệu, các chứng cứ đã
thu thập các tài liệu Tòa án thu thập thì đến ngày 25/5/2022, nguyên đơn
văn bản thay đổi yêu cầu bồi thường: “Gthương mại giá chuyển giao quyền
sử dụng (giá bán) của 01 bản phần mềm NX9 giới hạn theo 03 -đun tính
năng thiế kế sản phẩm, thiết kế khuôn mẫu thiết kế gia công2.001.020.910
đồng (hai tỷ một triệu không trăm hai mươi nghìn chin trăm mười đồng)”. Cụ
thể giá bán của các mô đun:
1. Thiết kế sản phẩm (NX Mach 3 Indus trial Design (NX13300)
32.532USD thành tiền là 748.398đ (theo tỷ giá của ngân hàng VCB ngày
23/5/2022 là 01 USD bằng 23.005 đồng);
2. Thiết kế khuôn mẫu (NX Mach 3 Mold Design (NX13200)
29.610USD thành tiền là 681.178.050 đồng;
10
3. Gia công (NX CAD/CAM 3 aAxis Milling (NX12450) 24.840USD
thành tiền là 571.444.200 đồng.
Tổng cộng là 86.982USD thành tiền là 2.001.020.910 đồng.
Theo nguyên đơn thì giá bán các mô-đun trên tính theo giá trị trong Bảng
giá phần mểm NX nguyên đơn đã nộp kèm theo Đơn khởi kiện (BL254,
257). Giá này giá trị trong giai đoạn tháng 12/2016, thấp hơn giá bán tại thị
trường Việt Nam, thể hiện trong các Hợp đồng và hóa đơn của các nhà phân
phối của Công ty Siemens đã cung cấp cho Tòa án theo Biên bản giao nhận tài
liệu chứng cứ vào vào ngày 25/5/2022.
[3.3.2] Tại Biên bản làm việc vào ngày 04/01/2022 (BL438), ông Nguyễn
Đình T ý kiến đề nghị một quan thẩm định giá, giám định lại giá trị bồi
thường thiệt hại về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường số tiền
4.945.173.800đ quá cao, cần đưa ra giá hợp tại thời điểm sử dụng. Tuy
nhiên, trong quá trình làm việc, bị đơn nhiều lần vắng mặt, không thực hiện
nghĩa vụ chứng minh cho ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn. Mặt khác, ngành công nghiệp phần mềm lĩnh vực đặc thù, việc đưa sản
phẩm từ nhà sản xuất tới người sử dụng đều thông qua hệ thống đại lý được nhà
sản xuất ủy quyền xác nhận. Hệ thống đại này ngoài việc cung cấp sn
phẩm phần mềm đến người sử dụng còn trách nhiệm cung cấp dịch vụ hậu
mãi cho khách hàng nhằm đảm bảo cho việc sử dụng phần mềm do nhà sản xuất
thông qua hệ thống đại lý. Do đó, trong trình tiến hành tố tụng, để sở xem
xét yêu cầu bồi thường của nguyên đơn, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã
Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ đối một số Công ty liên quan
đến việc bán sản phẩm phần mềm NX9.0.0.19 (NX9) bản đầy đủ giá bán các
-đun của phần mm NX từ các nhà phân phối của Công ty Siemens như sau:
- Tại Công văn số 41/2022/CV-VBT ngày 26/9/2022, Công ty TNHH
công nghệ V xác định: Giá bán sản phẩm phần mềm NX9.0.0.19 (NX9) tại thị
trường Việt Nam, giá bán phần mềm NX (NX9) bản đầy đủ các -đun: Giá
bán phần mềm NX phiên bản NX bản đầy đủ các -đun (đầy đủ tính năng)
giá rất cao, nếu cộng tất cả giá trị các -đun thì giá lên đến hàng triệu USD.
Bản phần mềm bẻ khóa (bản crack) thì thường có đầy đủ các tính năng (các mô-
đun) của phần mềm NX. Do vậy, khách hàng tại thị trường Việt Nam mua bản
quyền thường sẽ lựa chọn mua các -đun phù hợp yêu cầu công việc: mô-đun
tính năng thiết kết sản phẩm như: mã NX93300 (mã NX13300) với tên
“NX Mach3 Industrial Design”, mô-đun tính năng thiết kế khuôn như -
đun mã NX93200 (mã NX13200) với tên “NX Nach 3 Moid Design”, mô-
đun tính năng gia công như mã NX12450 “NX CAD/CAM 3 Axis Milling
Foundation”…
11
Tài liệu vgiá bán phần mềm NX tại Việt Nam, Công ty TNHH công
nghệ V gửi kèm theo bản sao hợp đồng hóa đơn cho các hợp đồng với
Công ty Y (Hợp đồng số 08/2017/VB-Yougesong) Công ty N (Hợp đồng số
06/2017/VB=NRK) có bán một số mô-đun có tình năng nêu trên:
-đun NX13300 “NX Mach3 Industrial Design” giá 993.190.600 đồng;
-đun NX13200 “NX Nach 3 Moid Design” giá 908.282.137 đồng;
-đun NX12450 “NX CAD/CAM 3 Axis Milling Foundation” giá
745.875.637 đồng.
- Tại Công văn số 05/2022/SCC-CV ngày 29/8/2022, Công ty cổ phần S
xác định: Giá bán bản quyền quyền sử dụng phần mềm NX( bản đầy đủ các mô-
đun có giá rất cao). Tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí, các công ty mua và sử dụng
phần mềm NX bản quyền theo các -đun (các gói sản phẩm) mà họ nhu
cầu, như một số -đun phần mềm NX phổ biến có tính năng thiết kế sản phẩm
(mã NX93300 (mã NX13300) với tên “NX Mach3 Industrial Design”, -
đun tính năng thiết kế khuôn như -đun NX93200 (mã NX13200)
với tên “NX Mach 3 Moid Design”, -đun tính năng gia công như
NX12450 “NX CAD/CAM 3 Axis Milling Foundation”…
Tài liệu gửi kèm theo, Công ty cổ phần S cung cấp một số Hợp đồng
hóa đơn như sau:
Hợp đồng mua bán 02/2017/HĐKT/SIEMENS ngày 21/7/2017 với sản
phẩm “NX Mach 3 Moid Design” (thiết kế khuôn) có giá 936.715.200đ;
Hợp đồng mua bán 07/2018/HĐMB/SIEMENS ngày 31/7/2018 với sản
phẩm “NX Total Machining NX13430” (tính năng gia công) giá
1.246.393.000đ;
Hợp đồng mua bán 08/2018/HĐMB/SIEMENS ngày 06/8/2018 với sản
phẩm “NX Mach 3 Moid Design” (thiết kế khuôn) có giá 1.00.922.000đ và hòa
đơn số 0000037 với sản phẩm “NX CAD/CAM 3 Axis Milling Foundation” với
giá 1.000.922.000đ;
Hợp đồng mua bán 07/2020/HĐMB/SIEMENS ngày 19/3/2020 với sản
phẩm “NX Mach 3 Moid Design” (thiết kế khuôn) giá 974.579.00hóa
đơn số 000007 với sản phẩm “NX mach 3 Product Design- NX13100 với giá
974.579.000đ;
[3.3.3] Tại Công văn số 304/BQTG-QLQTGQLQ ngày 02/10/2020 của
Cục bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn hóa, Thể Thao Du lịch xác định: “Căn
cứ xác định mức bồi thường thiệt hai do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được
thực hiện theo các quy định tại Khoản 2, khoản 3 Điều 205 Luật shữu trí tuệ;
12
khoản 11 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo
hiểm, Luật sở hữu trí tuệ theo quy định tại Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày
22/9/2006 của Chình phủ Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010
sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy
định chi tiết hướng dẫn thi hành một sđiều của Luật sở hữu trí tuệ quản
lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ”.
Do đó, trên sở quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy Công
ty S đã cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu thiệt hại của mình cụ
thể: Công ty S cung cấp 03 hợp đồng và hóa đơn của 03 nhà phân phối sản phẩm
phần mềm Siemens NX có tính năm “Thiết kế sản phẩm”, “thiết kế khuôn mẫu”,
“Gia công” thường bán tại Việt Nam (so sánh các hợp đồng giá phấn phối
phần mềm tại Việt Nam), phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập
trong quá trình tiến hành tố tụng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 204;
điểm b, khoản 1 Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ; khoản 11 Điều 2 Luật sở hữu trí
tuệ chấp nhận yêu cầu bồi thường đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu của
Công ty T, buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công ty S các khoản
tiền sau: Gía trị thương mại giá chuyển giao quyền sdụng (giá bán) của 01
bản phần mềm NX 9 giới hạn 3 -đun tính năng thiết kế sản phẩm, thiết kế
khuôn mẫu gia ng là: 2.001.020.910 đồng (hai tỷ một triệu không trăm hai
mươi nghìn chin trăm mười đồng)”
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử sở chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Công ty Siemens đồng thời quyết định đình chỉ xét xử đối
với các yêu cầu mà nguyên đơn đã rút yêu cầu.
[4] ̀ á n phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
- Nguyên đơn là Công ty S không phải chịu án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty S số tiền 58.200.000đ (năm mươi tám triệu hai
trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 005285 ngày
12/3/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn Công ty T phải chịu án phí 44.001.020đ (bốn mươi bốn
triệu một nghìn không trăm hai mươi đồng)
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai p
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các l trên;
QUYẾ T ĐỊ NH:
Căn cứ khoản 2 Điều 30, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 227,
điều 228, Điều 147, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
13
Căn cứ các Điều 3, Điều 4, Điều 13, Điều 14, Điều 20, Điều 22, Điều 25,
Điều 28, Điều 202, Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ quốc hội 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Công ty Công ty S về việc:
- Buộc Công ty T chấm dứt việc sử dụng bất kỳ phần mềm nào không
bản xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Công ty S.
- Buộc Công ty T loại bỏ tất cả phần mềm Siemens NX không bản
quyền trên tất cả các máy tính và cam kết không xâm phạm bất kỳ quyền sở hữu
trí tuệ nào của Công ty S.
[2] Chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty S đối với bị
đơn Công ty T. Cụ thể như sau:
1. Tuyên b hành vi của Công ty T sử dụng phần Siemens NX không
được phép hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với phầm mềm máy tính
Siemens NX của Công ty S.
2. Buộc Công ty T phải xin lỗi công khai về những hành vi xâm phạm
quyền tác giả đối với phần mềm máy tính Siemens NX của Công ty S trên báo
Tuổi trẻ (thành phố Hồ Chí Minh), báo Nhân dân trong ba số liên tiếp với nội
dung:
“Công ty T gửi lời xin lỗi đến Công ty S đã hành vi xâm phạm
quyền tác giả khi sử dụng phần mềm Siemens NX9.0.0.19 nhưng đã không xin
phép, không trả tiền bản quyền sử dụng theo quy định”.
3. Buộc Công ty T phải bồi thường thiệt hại cho Công ty S các khoản tiền
sau:
“Gía trị thương mại – giá chuyển giao quyền sử dụng (giá bán) của 01 bản
phần mềm NX 9 giới hạn 3 -đun tính năng thiết kế sản phẩm, thiết kế
khuôn mẫu gia ng là: 2.001.020.910 đồng (hai tỷ một triệu không trăm hai
mươi nghìn chin trăm mười đồng)”.
[3] ̀ á n phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
- Nguyên đơn là Công ty S không phải chịu án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty S số tiền 58.200.000đ (năm mươi tám triệu hai
trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 005285 ngày
12/3/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
14
- Bị đơn Công ty T phải chịu án phí 44.001.020đ (bốn mươi bốn
triệu một nghìn không trăm hai mươi đồng)
[4] Về việc thi hành án:
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì còn phải trả lãi
cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm)
ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Công ty T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản bản án hoặc kể từ ngày bản án
được niêm yết theo theo quy định./
Nơi nhận:
- VKSND. tỉnh Đồng Nai;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh ĐN;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Phƣơng Đông
Tải về
Bản án số 03/2023/KDTM-ST Bản án số 03/2023/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất