Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 26/01/2022 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 26/01/2022 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Giang (TAND tỉnh Hải Dương) |
| Số hiệu: | 03/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 03/2022/HS-ST
Ngày 26-01-2022
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Nam
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Mạnh Toàn và ông Vũ Đình Mạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị May- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện
Bình Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
tham gia phiên toà:bà Hoàng Thị Phƣơng Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang,
tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2022/TLST-
HS ngày 14 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số
07/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Xuân T, sinh năm 1987 tại thị trấn L, huyện K, tỉnh Hƣng Yên;nơi cƣ
tr: Thôn B, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hƣng Yên;nghề nghiệp: lao động tự do;trình
độ học vấn: 9/12;dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Lê Văn H và bà Phạm Thị T;Có vợ là Trần Thị T (đã ly hôn) và 02
con;
Tiền án:
- Bản án số 24 ngày 13/7/2016, Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh
Hƣng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản trộm
cắp 570.000 đồng, do bị cáo có tiền sự (Quyết định số 19 ngày 24/12/2015 Công
an huyện Kim Động xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành
vi Trộm cắp tài sản). Ngày 30/8/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
- Bản án số 47 ngày 06/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh
Hƣng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội
xảy ra các ngày 09/8/2019, 10/8/2019, 13/8/2019; tổng trị giá tài sản trộm cắp
35.060.000 đồng).
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/12/2015, Công an huyện Kim Động, tỉnh Hƣng Yên xử
phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản.
2
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2021 đến ngày 24/12/2021 bị áp dụng biện
pháp tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang,
tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
- Người chứng kiến:ông Phạm Văn T1, sinh năm 1959; Nơi cƣ tr: Khu 4,
thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng;Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lê Xuân T là ngƣời nghiện ma ty. Khoảng 06 giờ 30 pht ngày 23/12/2021,
T điều khiển xe mô tô BKS 89M1-151.xx (T mƣợn của bạn là anh Nguyễn Duy Đ,
sinh năm 1992, ở thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Hƣng Yên trƣớc đó) đi từ nhà ở thôn
B, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hƣng Yên đến thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng để
mua ma ty về sử dụng. Khi đến thị trấn K, T đi đến đƣờng bờ sông thuộc khu H
gặp và mua của một ngƣời đàn ông không quen biết 01 gói ma ty với số tiền
100.000 đồng. Sau khi mua đƣợc ma ty, T cất giấu gói ma ty vào phía trong
khẩu trang T đang đeo trên mặt rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến 08 giờ 15
phút cùng ngày, khi T đang đi ở đƣờng V thuộc khu H, thị trấn K, huyện B thì bị
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong
khẩu trang T đang đeo trên mặt 01 gói bọc ngoài bằng giấy tráng kim loại màu
trắng, kích thƣớc (0,5 x 01)cm bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, T
khai là ma ty loại Heroine mua về để sử dụng; quản lý của T xe mô tô BKS 89M1
- 151.xx.
Kết luận giám định số 80/KLGĐ-PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng, kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong 01
gói giấy bạc mầu trắng đƣợc niêm phong trong phong bì ghi thu của Lê Xuân T,
gửi đến giám định khối lƣợng là: 0,144 gam là ma ty, loại Heroine. Hoàn lại đối
tƣợng giám định: 0,116 gam Heroine; 01 mảnh giấy bạc mầu trắng và 01 vỏ phong
bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Heroine - STT 09, Danh mục I, Nghị
định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 14-01-2022, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Bình Giang truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định
VKSND huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo
trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án
thấp nhất để bị cáo sớm đƣợc trở về đoàn tụ với gia đình.
3
- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề
nghị Hội đồng xét xử:Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106;
khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.Về
tội danh: đề nghị HĐXX tuyên bốbị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Về hình phạt chính: đề nghị xử phạt bị cáo từ 5 năm 3 tháng đến 5
năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/12/2021.Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng:đề nghị
tịch thu tiêu huỷ 0,116 gam ma túy Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01
mảnh giấy bạc mầu trắng và 01 vỏ phong bì.Về án phí: buộc bị cáo phải chịu
200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo
trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến, biên bản bắt
ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có
trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 15 pht ngày 23/12/2021, tại
đƣờng V, thuộc khu H, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng, Lê Xuân T có hành vi
cất giấu trái phép trên ngƣời 0,144 gam Heroine, mục đích để sử dụng, bị Cơ quan
cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật
chứng.
[3] Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng
trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền
của Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nhƣng bị
cáo vẫn cố ý thực hiện nênhành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái
phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Ma túy mà bị cáo tàng trữ là Heroine có khối lƣợng 0,144 gam, mục đích tàng trữ là
để sử dụng, bị cáo đã tái phạm, chƣa đƣợc xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội
do cố ý nên với lần phạm tội này, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị
cáo theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung tăng nặng
“tái phạm nguy hiểm” là có căn cứ, đng pháp luật.
4
[4] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của
bị cáo thấy rằng: Bị cáo là ngƣời có nhân thân không tốt.Quá trình điều tra cũng
nhƣ tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách
nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội một
thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa
tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn
định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Trong vụ án này còn có đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều
tra không xác định đƣợc họ, tên, tuổi, địa chỉ;anh Nguyễn Duy Đ cho bị cáo T
mƣợn xe nhƣng không biết T dùng để đi mua ma ty nên không có căn cứ xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô BKS 89M1-151.xx là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn
Duy Đ, khi cho mƣợn anh Đ không biết T sử dụng để đi mua ma ty, ngày
12/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang trả lại xe cho
anh Đ là phù hợp.
Đối với 0,116 gam ma túy Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật
nhà nƣớc cấm lƣu hành; 01 mảnh giấy bạc mầu trắng và 01 vỏ phong bì không còn
giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9]Về án phí: Bị cáo Lê Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm okhoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;điểm c
khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106;khoản 2 Điều 135;
khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố:Bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân T 05 (năm) năm 03 (ba)tháng tù, thời hạn tù
tính từ ngày tạm giữ 23/12/2021.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,116 gam ma túy Heroine (mẫu vật
hoàn lại sau giám định); 01 mảnh giấy bạc mầu trắng và 01 vỏ phong bì.
5
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Bình Giang).
4. Về án phí: Bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dƣơng;
- Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng;
- Trại tạm giam – CA tỉnh Hải Dƣơng;
- VKSND huyện Bình Giang;
- CQCSĐT – CA huyện Bình Giang;
- CCTHADS huyện Bình Giang;
- CQ THAHS huyện Bình Giang;
- Bị cáo;
- Lƣu HS; Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Thanh Nam
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng