Bản án số 02/2024/HS-PT ngày 05/01/2024 của TAND tỉnh Cà Mau về tội vô ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2024/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 02/2024/HS-PT ngày 05/01/2024 của TAND tỉnh Cà Mau về tội vô ý gây thương tích
Tội danh: 108.Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hai sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 02/2024/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/01/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 28/9/2023, bị hại kháng cáo yêu cầu xem xét cho bị cáo Tống Đức T được hưởng án treo. Ngày 29/9/2023, bị cáo kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tội danh đối với bị cáo Tống Đức T; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 02/2024/HS-PT
Ngày 05-01-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Hồ Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên, là Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Phạm Trúc Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sTán nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng
10 năm 2023 đối với bị cáo Tống Đức T do kháng o của bị cáo người bị
hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Bị cáo kháng cáo:
Họ tên: Tống Đức T (Tên gọi khác: Cu), sinh năm 1993 tại Mau; Nơi
cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn:
02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Tống Văn T1 Nguyễn Thị O; Chưa tiền án, tiền sự; Bị cấm đi
khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật Quách Ngọc L; Địa chỉ: Văn phòng
Luật sư Lê Anh T2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị hại: Anh Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ trú: Ấp T, xã B, huyện
T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1990; Địa
chỉ cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Thành Q, sinh năm 1972; Địa chỉ trú: Ấp A, B, huyện
T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
2. Ông Tống Văn T1, sinh năm 1963; Địa chỉ trú: Ấp A, B, huyện T,
tỉnh Cà Mau (có mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hdiễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Ngày 11/01/2021 (âl), ông Trương Thành Q lập hợp đồng nhận thầu xây
dựng nhà cho ông Tống Văn T1 tại ấp A, B, huyện T, tỉnh Mau. Diện
tích xây dựng nhà 124m
2
, tiền công xây dựng 93.000.000 đồng. Để thực hiện
hợp đồng, ông Trương Thành Q thuê 05 người làm công ông Văn T3, ông
Lương Hoài N (là thợ xây), ông Nguyễn Văn Đ, ông Tống Đức T (con ruột của
ông Tống Văn T1) và ông Lê Văn C (là phụ hồ). Trong số nhân công phụ hồ thì có
Tống Đức T là người làm thuê cho ông Trương Thành Q nhiều năm, công việc
chính phụ hồ xây dựng công trình nhỏ lẻ; Bcáo biết sử dụng đã vận hành
thành thạo máy trộn hồ phục vụ cho việc xây dựng các công trình được ông
Trương Thành Q nhận lãnh, bao gồm cả việc xây dựng nhà của ông Tống Văn T1.
Trong quá trình thi công, xây dựng nhà cho ông Tống Văn T1, khi phần nền nhà
được đổ tông bằng phẳng thì ông Trương Thành Q cho nhân công di chuyển
máy trộn hồ vào đặt tại vị trí phòng khách của căn nhà đang xây dựng. Tống Đức T
người trực tiếp chèn cố định máy trộn hồ bằng 02 tảng đá dưới trục ngang bên
trong giữa 02 bánh xe để đảm bảo khi hoạt động thì máy trộn hồ không bị di
chuyển, xê dịch. Sau một thời gian thi công, công trình đến giai đoạn hoàn thiện thì
không cần nhiều nhân công nên ông Trương Thành Q không còn thuê Tống Đức T
làm nhân công phụ hồ nữa nhưng Tống Đức T vẫn mặt tại công trình để làm
công việc của gia đình thỉnh thoảng có phụ đưa gạch, đưa hồ cho Lê n T3,
Lương Hoài N (Do công trình xây dựng nhà của ông Tống Văn T1 cũng nhà
của gia đình Tống Đức T, bị cáo là con ruột của ông Tống Văn T1).
Ngày 22/8/2021, ông Trương Thành Q phân công Lương Hoài N làm công
việc tô máng nước; Lê Văn T3 dán gạch ở mặt tiền nhà; Văn C Nguyễn Văn
Đ phụ hồ. Khoảng 13 giờ cùng ngày, do phần việc của thời gian còn lại trong ngày
không dùng đến máy trộn hnên ông Trương Thành Q thông báo cho mọi người
biết buổi chiều ông Trương Thành Q sẽ thay bánh xe của máy trộn hồ. Lúc này,
ông Tống n T1 có hỏi mượn máy trộn hồ mượn 01 người thợ phụ tiếp Tống
Đức T để xây nền phần hành lang nhà, đây phần xây dựng riêng của gia đình
ông Tống Văn T1, không nằm trong hợp đồng chính. Ông Trương Thành Q đồng ý
cho mượn máy trộn hồ và cho Nguyễn Văn Đ phụ tiếp với Tống Đức T xây bó nền
phần hành lang. Tống Đức T và Nguyễn Văn Đ dùng máy để trộn hồ để xây
nền. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, ông Trương Thành Q tiến hành thay
mới bánh xe của máy trộn hồ có sự giúp sức của anh n C. Do các đinh ốc bị
rỉ sét nên phải dùng nhớt chế vào các đinh, ốc. Trong lúc Trương Thành Q
Văn C ngồi gần cối trộn hồ để chờ các đinh, ốc thấm nhớt cho dễ tháo tTống
Đức T từ ngoài đi vào đlấy hồ. Tống Đức T nhìn thấy ông Trương Thành Q
đang ngồi gần cối trộn hồ nhưng không nhìn thấy anh Căn C1. Bị cáo không
đến kiểm tra, không hỏi ông Trương Thành Q có thay bánh xe hay không và vẫn để
thùng cối nằm nghiêng rồi dùng tay bật cầu dao điện khởi động máy trộn hồ. Khi
máy trộn hồ vừa khởi động thì bị lật ngã đè lên người của anh Văn C, gây
thương tích cho anh Lê Văn C với tỷ lệ thương tật là 92%.
3
Tại bản án hình sự thẩm số: 33/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự; Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Xử phạt Tống Đức T 03 (ba) tháng về tội ý gây thương ch. Buộc
Tống Đức T tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh Văn C số tiền 428.214.000
đồng.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án; Án phí quyền
kháng cáo theo luật định.
Bị cáo Tống Đức T kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo yêu cầu ông
Trương Thành Q phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Văn C số
tiền 428.214.000 đồng.
Bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo
phải tiếp tục bồi thường thiệt hại với số tiền 428.214.000 đồng.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 08/2023/HS-PT ngày 06 tháng 02 năm
2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định: Hủy bản án hình sự sơ thẩm
số: 33/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới
Bình; giao hồ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình để điều tra lại, giải
quyết lại theo thủ tục chung.
Tại bản án hình sự thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định: Áp dụng điểm b khoản 1
Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử
phạt Tống Đức T 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ
thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 28/9/2023, bị hại kháng cáo yêu cầu xem xét cho bị o Tống Đức T
được hưởng án treo.
Ngày 29/9/2023, bcáo kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt xin được
hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tội danh đối
với bị cáo Tống Đức T; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và
cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa đề nghị Hội
đồng xét xử xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b, đ khoản 1 Điều 357 của
Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, bị hại vgiảm
nhẹ hình phạt. Đề nghị sửa bản án hình sự thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày 15
tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo hướng thay đổi tội
danh đối với bị cáo Tống Đức T từ tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”
sang tội “Vô ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 138 của Bộ
4
luật hình sự. Áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2
Điều 138 Bộ luật Hình sự sửa hình phạt đối với bị cáo t 06 tháng tạm giam
chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ 01 năm 06 tháng, do bị cáo phụ
hồ, thu nhập không ổn định nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo, bị hại được thực hiện trong hạn luật định nên được
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về diễn biến vụ án: Ông Trương Thành Q người hợp đồng xây
dựng nhà nông thôn cho ông Tống Văn T1, diện tích xây dựng 124m
2
. Để thực
hiện việc thi công, ông Trương Thành Q thỏa thuận (không bằng văn bản) thuê 05
người làm công trong đó có anh Lê Văn CTống Đức T thực hiện công việc phụ
hồ; Tiền lương được thỏa thuận trả theo ngày làm công. Sau khi hoàn thành phần
xây thô của phần nhà chính theo hợp đồng tgia đình ông Tống Văn T1 nhu
cầu xây thêm phần hành lang và phần công việc này không nằm trong hợp đồng
chính mà do ông Tống Văn T1 tự thực hiện và khi xây bó nền hành lang vào chiều
ngày 22/8/2021 do Tống Đức T phụ hồ còn Nguyễn Văn Đ được ông Trương
Thành Q phân công tiếp Tống Đức T trong việc xây nền. Tống Đức T đã dùng
máy trộn hđể trộn một cối hxây phục vụ cho Nguyễn Văn Đ xây nền, đến
khi ông Trương Thành Q ng với anh Lê Văn C thực hiện việc thay mới cho bánh
xe máy trộn hồ thì phần hồ xây còn trong cối với khối lượng lớn. Khi thay bánh xe
máy trộn hồ thì ông Trương Thành Q đã thông o cho những người làm chung;
Phần bánh xe do bị dính chặt tông, rỉ sét nên vẫn chưa được tháo rời. Trong
lúc ông Trương Thành Q, anh Văn C dùng nhớt chế vào các đinh ốc ngồi
chờ cho bung sét thì các bánh xe của máy trộn hồ vẫn còn nguyên vị trí ban đầu,
máy trộn hồ vẫn cố định tại vị trí được chèn cố định bằng các tảng đá;
Đường dây dẫn điện cho máy trộn hồ thiết bị ngắt điện bằng cầu dao; Ông
Trương Thành Q, anh Văn C vẫn ngồi tại vị trí máy trộn hồ; Cầu dao điện đã
được ngắt an toàn với dòng điện phần hồ còn lại trong cối trộn thường ngày
phải dùng xẻng xúc vào thùng, vào xô mang đi xây. Khi Tống Đức T vào lấy hồ thì
vẫn nhìn thấy ông Trương Thành Q ngồi tại khu vực máy trộn hồ, bị cáo không
quan sát kỹ và cũng không thông báo cho việc đóng cầu dao điện; Không thực hiện
thao tác an toàn xoay miệng cối lại theo chiều thẳng đứng nên khi bị cáo đóng
cầu dao điện máy trộn, phần hồ xây còn lại lượng lớn trong cối, bị lắng dính
chặt một bên thành cối nên khi khởi động đã làm cho máy trộn hbị lật ngã và đè
lên người anh Văn C đang ngồi, gây ra thương tích và đó cũng kết quả điều
tra về nguyên nhân dẫn đến máy trộn hồ bị ngã qua thao tác vận hành của Tống
Đức T. Diễn biến trên phù hợp với lời khai của những người có mặt tại hiện trường
Tống Đức T vẫn thừa nhận việc thiếu quan sát, kiểm tra; Không thông tin với
người xung quanh; Không thực hiện thao tác vận hành máy an toàn đóng cầu
5
dao điện khởi động máy chính là nguyên nhân gây ra thương tích cho anh Văn
C với tỷ lệ thương tật 92%.
[3] Xét về dấu hiệu tội phạm: Đối với tội “Vi phạm quy định về an toàn lao
động trong xây dựng” Bản án hình sự phúc thẩm số: 08/2023/HS-PT ngày 06
tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Mau đã đặt ra, qua kết quả điều
tra lại đã chứng minh ông Trương Thành Q tuy người sử dụng lao động nhưng
xét từ quy công trình; Hình thức thuê sử dụng lao động; Việc chỉ đạo, t
chức thi công; Phần việc đã thực hiện…không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội “Vi phạm quy định an toàn lao động” đối với ông Trương Thành Q.
Tuy nhiên, các quan tiến hành tố tụng cấp thẩm lại quyết định thay đổi tội
danh đối với Tống Đức T để điều tra, truy tố và xét xử Tống Đức T về tội “Vi
phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm b khoản 1 Điều 295 của Bộ luật
hình sự không đúng về tội danh mà Tống Đức T đã phạm. Do bị cáo Tống Đức
T không phải là người sử dụng lao động; Không phải là người có trách nhiệm trong
việc chỉ đạo hoặc thực hiện các quy trình, quy định về an toàn lao động cũng
không phải là người tổ chức thi công công trình…mà chỉ là người làm thuê, vô ý vi
phạm các quy định về an toàn lao động dẫn đến hậu quả gây thương tích cho người
khác nên hành vi của Tống Đức T không thỏa mãn yếu tố cấu thành về mặt chủ thể
của tội phạm “Vi phạm quy định về an toàn lao động” mà từ nh vi vi phạm của
Tống Đức T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vô ý gây thương thích” theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau đã đều
nghị thay đổi tội danh đối với Tống Đức T từ tội “Vi phạm quy định về an toàn lao
động” theo điểm b khoản 1 Điều 295 của Bộ luật hình sự sang tội “Vô ý gây
thương tích” theo điểm b khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Theo quy định của Bộ luật hình sự thì tội “Vô ý gây thương tích” theo điểm
b khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự được xác định là tội nhẹ hơn tội “Vi phạm
quy định về an toàn lao động” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 295 của Bộ
luật hình sự. Căn cứ vào quy định về giới hạn của việc xét xử quy định tại khoản 2
Điều 298 các quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 357
của Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án hình sự thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày
15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình về tội danh đối với Tống Đức T
là có căn cứ.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo và người bị hại: Bị cáo kháng cáo yêu cầu được
giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo; Bị hại anh Văn C người
đại diện hợp pháp cho bị hại chị Nguyễn ThD kháng o xin giảm nhẹ và cho
bị cáo Tống Đức T được hưởng án treo.
Xét thấy bị cáo Tống Đức Trọng phạm t với lỗi ý; phạm tội lần đầu
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo,
ăn năng cải hối; tự nguyện bồi thường xong các khoản thiệt hại cho bị hại. Bị cáo
nơi trú ràng bhại kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng
án treo. Căn cứ vào Điều 36; khoản 2 Điều 38 của Bộ luật hình sự xét thấy không
áp dụng hình phạt thời hạn đối với bị cáo Tống Đức T áp dụng hình phạt
6
Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là có căn cứ và tương xứng với hành vi, tính
chất mức độ phạm tội bo gây ra. Đồng thời, giao Tống Đức T cho Ủy
ban nhân dân cấp xã B, huyện T để giám sát, giáo dục.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị o xác định hiện tại bị cáo vẫn thực hiện công
việc làm thuê, công việc chính phụ hồ. Thu nhập t tiền ng mỗi ngày
250.000 đồng tương đương 7.500.000 đồng/tháng và thu nhập đều. Từ căn cứ trên,
buộc Tống Đức T phải thực hiện nghĩa vụ khấu trừ một phần thu nhập là 5% tương
đương 375.000 đồng/tháng, để sung quỹ nhà nước.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Mau tại phiên tòa phù
hợp, nên chấp nhận.
[7] Đối với trách nhiệm dân sự trong việc bồi thường thiệt hại vsức khỏe
cho người bị hại thì cả bị o Tống Đức T người bị hại là anh Văn C (đại
diện chị Nguyễn Thị D); người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương
Thành Q đều không phản đối theo kết quả xét xử sơ thẩm và không kháng cáo.
Tuy nhiên, sau khi xét xử thì giữa bị cáo Tống Đức T với anh Lê Văn C, chị
Nguyễn Thị D đã thỏa thuận được với nhau và theo đó bị cáo Tống Đức T chỉ phải
bồi thường thêm cho anh Văn C số tiền 150.000.000 đồng, số còn lại theo kết
quả xét xử thẩm 159.397.867 đồng anh Văn C, chị Nguyễn Thị D không
yêu cầu Tống Đức T bồi thường thêm Tống Đức T đã bồi thường xong
150.000.000 đồng cho anh Văn C theo thỏa thuận. Đối với ông Trương Thành
Q về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Văn C với số tiền phải tiếp tục
bồi thường là 60.000.000 đồng sau khi xét xử thẩm ông Trương Thành Q
cũng đã nộp bồi thường xong số tiền 60.000.000 đồng cho anh Văn C, nên về
trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
[8] Bị cáo, người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại về yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.
Sửa một phần Bản án hình sự thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9
năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 36; khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 298 của Bộ luật tố
tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Tống Đức T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng Cải tạo không
giam giữ về tội “Vô ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày
quan, tchức được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành bản
án và bản sao bản án.
7
Giao Tống Đức T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau để giám
sát, giáo dục.
Buộc Tống Đức T thực hiện nghĩa vụ khấu trừ một phần thu nhập 5%
tương đương 375.000 đồng/tháng, để sung quỹ nhà nước. Thời gian chịu khấu trừ
thu nhập là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng và được thực hiện hàng tháng.
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Công an tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Thới Bình;
- Công an huyện Thới Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới
Bình;
- Chi cục THADS huyện Thới Bình;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: HSVA; Tòa HS; án văn;
- Lưu VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Phương
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
XÉT XỬ PHÚC THẨM
Tải về
Bản án số 02/2024/HS-PT Bản án số 02/2024/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất