Bản án số 01/2025/LĐ-ST ngày 11/04/2025 của TAND huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về học nghề, tập nghề

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2025/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2025/LĐ-ST ngày 11/04/2025 của TAND huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp về học nghề, tập nghề
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về học nghề, tập nghề
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lạc Dương (TAND tỉnh Lâm Đồng)
Số hiệu: 01/2025/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/04/2025
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: CÔNG TY TNHH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI OUTWARD BOUND VIỆT NAM và Kơ Să Ha Huỳnh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 01/2025/ - ST
Ngày: 11/4/2025
Tranh chấp về bồi thường chi
phí đào tạo”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thùy V .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Rơ Ông Đi N.
- Ông Dương Văn Nh.
- Thư phiên a: Bùi Thị H - Thư Tòa án nhân dân huyện Lạc D,
tỉnh Lâm Đ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ tham gia
phiên tòa: Bà Hồ Thị P - Kiểm sát v.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Dương xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ số 01/2024/TLST ngày 21 tháng 11 năm
2024 về “Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng lao động” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST ngày 04 tháng 3 năm
2025 theo Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST- ngày 21/3/2025
của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: NG TY TNHH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI OUTWARD B
VIỆT N
Người đại diện theo pháp luật: ông Tan Teck Yg, sinh năm 1954; Chức vụ:
Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Tan Teck Yg: Ông Nguyễn Văn D,
sinh năm: 1976; chức vụ: Chuyên viên pháp chế; ĐKTT: Số 24, Ngõ 43 Phố Đông
Tác, Trung T, Quận Đống Đ, thành phố N; địa chliên hệ: Phòng 8, Tầng 8,
Tòa nhà Centerpoint, 106 Nguyễn Văn Tr, phường , quận Phú Nh, thành phố Hồ
Chí M.(Theo văn bản ủy quyền lập ngày 12/05/2024). (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Ha H, sinh năm: 1995; Địa chỉ thường trú: Thôn Lán Tr,
xã Đưng K n, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, bản tự khai
lời khai trong qtrình tham gia tố tụng nguyên đơn Công ty tnhh doanh nghiệp
2
hội Outward B Việt Na ông Nguyễn Văn D người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Công ty TNHH doanh nghiệp hội Outward B Việt N doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài trụ sở tại Việt Nam được Phòng đăng kinh doanh -
Sở kế hoạch đầu tỉnh Bình Đ cấp giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp lần
đầu vào ngày 07/11/2016 đăng thay đổi vào ngày 22/02/2024 ngành nghề
kinh doanh giáo dục thể thao giải trí, dịch vụ hỗ trợ giáo dục, giáo dục khác
chưa được phân vào đâu và một số danh mục khác.
Ngày 18/02/2023 ông Ha H “Thỏa thuận đào tạo” với ng ty
TNHH Doanh nghiệp xã hội Outward B Việt N về việc tham gia khóa học Chương
trình đào tạo Huấn luyện viên ngoài trời Outward B Việt N thời gian khóa học bắt
đầu từ ngày 27/2/2023 đến 08/6/2023 chi pđào tạo 106.000.000đ. Theo
thỏa thuận đào tạo, Công ty sẽ chịu trách nhiệm chi trả thanh toán toàn bộ Chi
phí đào tạo của khóa học, ông Să Ha Hh có nghĩa vụ tham gia khóa đào tạo và
cam kết sẽ làm việc cho công ty đến ngày 08/6/2026. Theo thỏa thuận đào tạo các
bên đã kết thì ông Ha H vi phạm thỏa thuận đào tạo thì phải bồi thường chi phí
đào tạo công ty đã chi trả cho ông Huỳnh. Ông Ha H bắt đầu tham gia
khóa đào tạo theo thỏa thuận từ ngày 27/2/2023 trước khi thời gian hoàn thành
khóa đào tạo phía Công ty đã gửi Hợp đồng Lao động và đề nghị người lao động
kết Hợp đồng Lao động với thời gian làm việc cho Công ty cho đến ngày
08/6/2026 như các bên đã cam kết theo các điều khoản trong “Thỏa thuận đào
tạo”.
Đến ngày 07/6/2023, ông Kơ Să Ha H vẫn không ký hợp đồng Lao động mặc
đã được cán bộ phòng nhân sự nhắc nhở nhiều lần thông qua điện thoại
email; đến ngày 08/6/2023 thì ông Ha H đã nghỉ việc không bất k lý do
hay thông báo nào cho Công ty. Công ty đã viết thư gửi cho ông Ha H vtrách
nhiệm pháp lý phát sinh đối với trường hợp vi phạm các điều khoản các bên đã
kết tại Thỏa thuận đào tạo, ông Ha H vẫn không có bất kỳ phản hồi nào cho Công
ty. Theo quy định tại khoản 2 Điều 61 của Luật giáo dục Nghề nghiệp năm 2014
và Khoản 5.3.2 và 5.3.6 của thỏa thuận đào tạo ký kết giữa ông Ha Hu với Công ty
thì ông Ha H vi phạm thỏa thuận đào tạo ký kết vào ngày 18/2/2023.
Nay Công ty làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Ha H bồi thường toàn bộ
chi phí đào tạo mà Công ty đã chi trả 88.306.652đ (tám mươi tám triệu ba trăm
lẻ sáu ngàn sáu tram năm mươi hai đồng). Trong đó:
Tiền trợ cấp sinh hoạt trong thời gian đào tạo là 34.787.273đ
Chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội: 2.279.000đ
Chi phí trả lương cho Giáo viên giảng dạy Khóa đào tạo: 44.579.688đ
Chi phí tiền ăn, vận chuyển đưa đón và dụng cụ thực hành: 6.660.692đ
Đến ngày 03/03/2025 ông D đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về chi
phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội số tiền là 2.279.000đ và ngày 11/4/2025 có đơn
xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lương tháng 05, tháng 6 với số tiền
12.527.273 đồng.
Ngoài ra ông D không còn yêu cầu gì khác.
3
2. Đối với bị đơn ông Ha H: Tòa án nhân dân huyện Lạc D đã tiến
hành xác minh địa chỉ nơi trú của ông H thực hiện tiến hành niêm yết thông
báo thụ lý vụ án, niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ hòa giải, tiến hành niêm yết thông báo kết quả phiên họp,
tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, tiến hành niêm yết Quyết định
hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho ông Kơ Ha H nhưng ông
Ha H không có ý kiến gì do đó hồ sơ không có lời khai của ông H.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, Ông D rút một phần yêu cầu khởi kiện về chi phí bảo hiểm y
tế, bảo hiểm hội số tiền 2.279.00 tiền lương tháng 05, tháng 6 với số
tiền là 12.527.273 đồng. Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc bồi thường chi
phí đào tạo theo như Thỏa thuận đào tạo ông Ha H Công ty đã kết vào ngày
18/2/2023. Buộc ông H phải hoàn trả chi phí đào tạo cho Công ty số tiền
73.500.379đ. Trong đó: Tiền lương trợ cấp sinh hoạt trong thời gian đào tạo
22.260.000đ; Chi phí trả lương cho Giáo viên giảng dạy Khóa đào tạo:
44.579.688đ; Chi p tiền ăn: 4.206.335đ, vận chuyển đưa đón 2.160.000đ
dụng cụ thực hành: 294.357đ .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc D phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành
pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ vụ án đế trước thời điểm xét
xử không có gì sai phạm.
Về phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng:
Xác định lại quan htranh chấp Tranh chấp về bồi thường chi phí đào
tạo” giữa ng ty TNHH Doanh nghiệp xã hội Outward B Việt Nvới bị đơn ông
Kơ Să Ha H.
Đề nghị Hội đồng xét x đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn đối với chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm hội số tiền là 2.279.000đ tiền
lương tháng 05, tháng 6 với số tiền 12.527.273 đồng. Chấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Ha Huỳnh phải có trách nhiệm
hoàn trả cho Công ty TNHH Doanh nghiệp xã hội Outward B Việt Nsố tiền
69.630.181 đồng gồm (Chi phí lương 18.998.000 đồng; chi phí nhân ng
44.579.688 đồng; chi phí ăn uống 4.095.350 đồng; chi phí đi lại 1.957.143 đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông
Ha H phải hoàn trả cho Công ty TNHH Doanh nghiệp xã hội Outward B Việt
N số tiền 3.933.056 đồng gồm (chi phí dụng cụ, ăn uống và đi lại).
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Ha H phải hoàn trả cho
ng ty TNHH Doanh nghiệp xã hội Outward B Việt N chi phí lương tháng 5,
tháng 6 và chi phí bảo hiểm số tiền 14.806.273 đồng.
- Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu
của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Nguyên đơn Công ty TNHH doanh nghiệp xã hội Outward B Việt Nlà doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài trụ sở tại Việt Nam được Phòng đăng kinh
doanh - Sở kế hoạch đầu tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận đăng doanh
nghiệp lần đầu vào ngày 07/11/2016 và đăng ký thay đổi vào ngày 22/02/2024 với
1 trong những ngành nghề kinh doanh giáo dục thể thao giải trí, dịch vụ hỗ
trợ giáo dục khởi kiện ông Ha H địa chỉ thường trú tại: Thôn Lán Tr,
Đưng Kn, huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ. Tại thời điểm thụ lý Tòa án xác định quan hệ
tranh chấp Tranh chấp về bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng lao
động” tuy nhiên căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì các bên mới
chỉ ký “Thỏa thuận đào tạo” chưa ký Hợp đồng lao động theo quy định do vậy Hội
đồng xét xử xác định lại quan hệ “tranh chấp về bồi thường chi phí đào tạo
giữa nguyên đơn Công ty TNHH doanh nghiệp hội Outward Bd Việt N với bị
đơn ông Ha H; sau khi hòa giải viên lao động hòa giải không thành nên vụ
án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạc D, tỉnh Lâm Đ
quy định tại điểm a khoản 3 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Kơ Ha H được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai vẫn vắng mặt không do chính đáng nên Tòa án vẫn tiến hành xét
xử vắng mặt ông Ha H phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn Công ty TNHH doanh nghiệp hội Outward B Việt N buộc bị
đơn ông Ha H phải trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo cho Công ty
số tiền 73.500.379đ. Trong đó: Tiền lương trợ cấp sinh hoạt trong thời gian đào
tạo 22.260.000đ; Chi p tr lương cho Giáo viên giảng dạy Khóa đào tạo:
44.579.688đ; Chi p tiền ăn: 4.206.335đ, vận chuyển đưa đón 2.160.000đ
dụng cụ thực hành: 294.357đ, Hội đồng xét xử, xét thấy:
Ngày 18/02/2023 ông Ha H “Thỏa thuận đào tạo” với công ty
TNHH Doanh nghiệp xã hội Outward B Việt Nvề việc tham gia khóa học Chương
trình đào tạo Huấn luyện viên ngoài trời Outward B Việt N, thời gian khóa học bắt
đầu từ ngày 27/2/2023 đến 08/6/2023 chi pđào tạo 106.000.000đ. Theo
thỏa thuận đào tạo, Công ty schịu trách nhiệm chi trả thanh toán toàn bộ Chi
phí đào tạo của khóa học, ông Ha H nghĩa vtham gia khóa đào tạo
cam kết sẽ làm việc cho công ty đến ngày 08/6/2026. Căn cứ vào bảng chấm ng
phía Công ty xuất trình cho Tòa án thì ông Kơ Să Ha H bắt đầu tham gia khóa đào
tạo theo thỏa thuận từ ngày 27/2/2023 đến ngày 07/6/2023. Ngày 08/6/2023 thì
ông Ha H đã nghỉ việc không bất kỳ ly do hay thông báo nào cho Công ty.
Vào ngày 08/6/2023 Công ty có gửi email đề nghị ông Ha Hh ký kết hợp đồng lao
động về trách nhiệm pháp lý phát sinh đối với trường hợp vi phạm các điều khoản
các bên đã kết tại Thỏa thuận đào tạo, ông Ha H vẫn không bất kỳ phản hồi
nào cho Công ty.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 61 của Luật giáo dục Nghề nghiệp năm 2014
thỏa thuận đào tạo kết vào ngày 18/2/2023 giữa ông Ha Huỳnh với
Công ty TNHH Doanh nghiệp hội Outward BViệt N: Mục 5.2 Nếu người lao
5
động vi phạm Hợp đồng đào tạo, người lao động cũng sẽ trách nhiệm hoàn trả
cho Công ty toàn bộ chi phí đào tạo” và mục 5.3 “Hợp đồng đào tạo sẽ bị coi là bị
vi phạm bởi người lao động trong nhưng không giới hạn ở những trường hợp sau:
người lao động chấm dứt công việc của mình với Công ty trước ngày 08/6/2026.
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định ông Ha H đã vi phạm thỏa thuận đào tạo đã
kết.
Công ty xác định khoản tiền lương trợ cấp sinh hoạt trong thời gian đào tạo
của tháng 2, tháng 3, tháng 4 đã chi trả cho ông Ha H với tổng số tiền là
22.260.000 đồng. Tuy nhiên tài liệu chứng cứ do phía Công ty xuất trình thì ch
chi trả chi phí tiền lương cho ông Ha H tháng 3/2023 9.958.000đ (bổ sung tại
phiên tòa) tháng 4/2023 số tiền là 9.040.000đ (BL14). Do vậy đối với chi phí tiền
lương trợ cấp sinh hoạt trong thời gian đào tạo Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Ha Hu phải bồi thường cho Công ty khoản tiền
trợ cấp sinh hoạt trong thời gian đào tạo số tiền 18.998.000đ. Không chấp nhận
số tiền 3.262.000đ theo yêu cầu của phía Công ty.
Đối với số tiền chi phí trả lương cho Giáo viên giảng dạy Khóa đào tạo: theo
hóa đơn chứng từ phía nguyên đơn xuất trình tổng 375.335.114đ/7 hc
viên = 53.619.302đ. Tuy nhiên ông Ha Huỳnh tham gia khóa học từ ngày
27/2/2023 nghỉ vào ngày 07/6/2023 do đó cở sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Công ty về việc buộc ông Ha H hoàn trả chi phí trả lương cho giáo
viên giảng dạy khóa đào tạo là 44.579.688đ.
Căn cứ vào Nghị định 123/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2020 quy
định về hóa đơn, chứng từ: quy định bắt buộc xuất hóa đơn cho tất cả các giao
dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ, không phân biệt giá trị. Do đó Hội đồng xét xử
không chấp nhận đối với các chứng từ là hóa đơn bán lẻ (viết tắt: HĐBL). Do đó:
- Về chi phí tiền ăn: Căn cứ vào các chứng từ nguyên đơn cung cấp tổng tiền
ăn 29.444.347đ 42.000đ (HĐBL) 151.000đ (HĐBL) = 29.251.347/7 học
viên = 4.178.764đ 83.414đ (hóa đơn ngày 10/6/2023 ông Ha Huỳnh đã nghỉ
việc) nên chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty đối với số tiền 4.095.350đ.
Không chấp nhận số tiền 110.985 đồng.
- Về chi phí vận chuyển đưa đón: Căn cứ vào các chứng từ nguyên đơn cung
cấp tổng số tiền chi phí đi lại 15.560.000đ - 1.860.000đ/7 học viên (hóa đơn
ngày 13/6/2023 ông Ha Hu đã nghỉ việc) do đó Hội đồng xét xchấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của Công ty với số tiền 1.957.143đ. Không chấp nhận
số tiền là 265.714 đồng.
-Về chi phí dụng cụ thực hành: Căn cứ vào các chứng từ nguyên đơn cung
cấp tổng số tiền 458.500đ ngày 24/02/2023 (BL 30) 655.000đ ngày
16/6/2023 (BL 27) các hóa đơn trước ngày 27/2/2023 sau khi ông Ha
Huỳnh nghỉ việc ngày 07/6/2023. Đối với các hóa đơn còn lại là hóa đơn bán lẻ do
vậy hội đồng xét xử không chấp nhận đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện về chi phí
dụng cụ thực hành là 294.357 đồng.
Đối với khoản tiền Công ty TNHH Doanh nghiệp hội Outward B Việt
Nam yêu cầu ông Kơ Să Ha H về chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội số tiền
2.279.000đ tiền lương tháng 05, tháng 6 với số tiền 12.527.273 đồng, phía
6
nguyên đơn có đơn xin rút đối với hai yêu cầu này nên Hội đồng xét xử chấp nhận
cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu về các khoản tiền: 2.279.000đ
12.527.273đ.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ha H nghĩa vụ phải
bồi thường về chi phí đào tạo học nghề, tập nghề do vi phạm thỏa thuận đào tạo
tổng số tiền 69.630.181đ. (Trong đó: Tiền lương: 18.998.000đ, chi phí giáo
viên: 44.579.688đ, chi phí ăn uống: 4.095.350đ, chi phí đi lại: 1.957.143đ)
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Doanh
nghiệp hội Outward B Việt Nam đối với số tiền là 3.933.056 đồng (Trong đó:
Tiền lương 3.262.000đ; tiền ăn uống: 110.985đ; tiền đi lại: 265.714đ; tiền dụng cụ
thực hành: 294.357đ)
Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện về chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm hội
số tiền 2.279.000đ tiền lương tháng 05, tháng 6 với số tiền 12.527.273
đồng.
[5] Về án phí: Buộc bị đơn ông Să Ha H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí
đối với yêu cầu không được chấp nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 62 của Bộ luật Lao Động năm 2019
Căn cứ Điều 61 Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014.
Nghị định 123/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2020 quy định về
hóa đơn, chứng từ.
n cứ Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Doanh nghiệp
xã hội Outward Bo Việt N
Buộc ông Ha H nghĩa vụ bồi thường chi phí đào tạo cho Công ty
TNHH Doanh nghiệp hội Outward Bound Việt N số tiền 69.630.181đ (Sáu
mươi chín triệu sáu trăm ba ơi ngàn một trămm mươi mốt đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Doanh
nghiệp hội Outward Bd Việt N đối với stiền 3.933.056 đồng gồm (chi phí
tiền lương trợ cấp sinh hoạt, dụng c thực hành, ăn uống và đi lại).
7
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Doanh nghiệp xã hội
Outward B Việt N đối với yêu cầu khởi kiện về chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm
hội số tiền 2.279.000đ chi phí tiền lương tháng 05, tháng 6 với stiền
12.527.273 đồng.
“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác”.
2. Về án phí:
- Bị đơn ông Kơ Să Ha Huỳnh phải chịu số tiền 2.088.905 đồng án phí dân sự
sơ thẩm.
- Nguyên đơn Công ty TNHH Doanh nghiệp hội Outward B Việt N phải
chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm
ng án phí Công ty đã nộp 1.325.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002136
ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương.
Hoàn trả cho Công ty TNHH Doanh nghiệp hội Outward B Việt N số tiền còn
dư là 1.025.000 đồng.
3. Quyền kháng cáo: Đương s mặt tại phiên a quyền kháng o
trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày bản án được cấp, tống đạt hợp lệ hoặc
niêm yết công khai bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử
phúc thẩm.
4.“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thùy V
8
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Tải về
Bản án số 01/2025/LĐ-ST Bản án số 01/2025/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2025/LĐ-ST Bản án số 01/2025/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất