Bản án số 01/2022/HS-PT ngày 05/01/2022 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tội vận chuyển tiền giả
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 01/2022/HS-PT Lạng Sơn
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 01/2022/HS-PT Lạng Sơn
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2022/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2022/HS-PT ngày 05/01/2022 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tội vận chuyển tiền giả |
|---|---|
| Tội danh: | 207.Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 01/2022/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Trịnh Xuân H phạm tội Vận chuyển tiền giả |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 01/2022/HS-PT
Ngày 05-01-2022
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy
Ông Vi Đức Trí
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Ông Tống Văn Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 100/2021/TLPT-HS
ngày 10 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Trịnh Xuân H, do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2021/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm
2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Trịnh Xuân H, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1954 tại
thành phố Hà Nội. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đường B, phường H, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn
M và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); có vợ là Đoàn Thị N và có 02 con; tiền án:
Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-12-1975 bị Tòa án nhân dân thị xã
Lạng Sơn xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, ngày 31-
5-1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 (hai) năm tù về tội Mua bán
trái phép chất ma túy tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/HS-ST (đều đã được xóa
án tích), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lãnh ngày 19-3-2021, bị tạm giam từ ngày 14-
7-2021 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Tiến D, Luật sư Văn phòng luật sư
Lương Tuấn thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
- Người làm chứng: Bà Hứa Thị H, sinh năm 1970, vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 01-6-2001, Hứa Thị H đi sang chợ P – Trung Quốc
với mục đích mua củ tam thất. Khi đến bãi đỗ xe bên P, Hứa Thị H gặp Trịnh
Xuân H, người quen của ông Hoàng Văn T (chồng của Hứa Thị H) đang đứng
cùng với hai người phụ nữ, gồm một người Việt Nam và một người Trung Quốc.
Trịnh Xuân H hỏi “Có phải vợ của Tín không” và bảo Hứa Thị H quay lại đợi
Trịnh Xuân H. Hứa Thị H đứng cách Trịnh Xuân H khoảng 02m và thấy người
phụ nữ Việt Nam (mặc áo đen, quần âu đen, khoảng 40 tuổi) lấy tiền ra đưa cho
Trịnh Xuân H, Trịnh Xuân H đưa cho người phụ nữ Trung Quốc, người phụ nữ
Trung Quốc đưa túi nilon trắng cho Trịnh Xuân H, Trịnh Xuân H gọi Hứa Thị H
lại bảo xách chiếc túi này qua cửa khẩu về đến cột mốc thì người phụ nữ Việt
Nam sẽ trả tiền công là 300.000 đồng, Hứa Thị H cầm lấy và đi về Việt Nam.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến Trạm kiểm soát Biên phòng T, huyện
V, tỉnh Lạng Sơn Hứa Thị H bị lực lượng Biên phòng phát hiện, bắt quả tang
trong túi Hứa Thị H đang xách có 49.800.000 đồng tiền Việt Nam giả, gồm 996
tờ loại mệnh giá 50.000 đồng/tờ.
Tại Bản kết luận giám định số 42/PC21 ngày 12-6-2001 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ 996 tờ giấy bạc in “Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, loại mệnh giá 50.000 đồng/tờ gửi giám định đều là
giấy bạc (tiền) giả”.
Quá trình điều tra, ban đầu Trịnh Xuân H khai nhận khoảng 09 giờ ngày
01-6-2001, Trịnh Xuân H sang P, Trung Quốc để mua tivi. Tại đây, Trịnh Xuân H
gặp một phụ nữ chủ hàng người Trung Quốc (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) nhờ Trịnh
Xuân H tìm người vận chuyển tiền giả về Việt Nam, thỏa thuận tiền công tìm
người là 50.000 đồng. Trịnh Xuân H đi được khoảng 10 mét thì gặp Hứa Thị H và
nói “Người Trung Quốc kia có tiền Việt Nam giả cần mang qua cửa khẩu, mày có
nhận không”, sau đó Trịnh Xuân H đưa Hứa Thị H đến gặp người phụ nữ Trung
Quốc để hai người tự trao đổi, thỏa thuận, rồi Trịnh Xuân H đi vào chợ P và ngủ
tại đó một đêm.
Ngày 01-6-2001, Trịnh Xuân H thay đổi lời khai như sau: Trịnh Xuân H
sang P, Trung Quốc để mua tivi thì được một người phụ nữ chủ hàng Trung Quốc
nhờ tìm hộ người vận chuyển hàng về Việt Nam. Trịnh Xuân H hứa gặp Hứa Thị
H và đưa đến gặp người này để hai người tự trao đổi, thoả thuận, Trịnh Xuân H
không tham gia và không được biết họ trao đổi với nhau những gì, đến ngày hôm
sau Trịnh Xuân H mới quay về Việt Nam.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất về những vấn đề còn mâu thuẫn
giữa lời khai của Trịnh Xuân H và Hứa Thị H, nhưng các bên đều giữ nguyên lời
khai.
3
Tuy nhiên, căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của Hứa
Thị H, lời khai ban đầu của Trịnh Xuân H, vật chứng thu giữ trong vụ án và các
tài liệu, chứng cứ thu thập được, đủ cơ sở kết luận Trịnh Xuân H đã thực hiện
hành vi nhận chiếc túi xách bên trong có chứa 49.800.000đ (bốn mươi chín triệu
tám trăm nghìn đồng) tiền Việt Nam giả từ người phụ nữ Trung Quốc và đưa cho
Hứa Thị H vận chuyển từ Trung Quốc về Việt Nam, để hưởng tiền công tìm
người là 50.000 đồng.
Ngoài ra, lời khai của ông Hoàng Văn T (chồng Hứa Thị H) tại hồ sơ vụ án
thể hiện khoảng 09 giờ sáng ngày 01-6-2021, có thấy Trịnh Xuân H cùng một
phụ nữ khoảng 40 tuổi, mặc áo đen đón xe trước cửa nhà ông Hoàng Văn T để đi
T. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Trịnh Xuân H cùng người phụ nữ đi cùng buổi sáng
xuống xe trước cửa nhà ông Hoàng Văn T và thông báo Hứa Thị H bị bắt ở Trạm
T và bảo ông Hoàng Văn T cứ an tâm, từ từ giải quyết. Lời khai của ông Hoàng
Văn T cho thấy Trịnh Xuân H khai không biết Hứa Thị H và 02 người phụ nữ
trao đổi với nhau những gì và hôm sau Trịnh Xuân H mới về Việt Nam là gian
dối.
Hứa Thị H đã bị xét xử trong vụ án Vận chuyển tiền giả theo Bản án hình sự
sơ thẩm số 195/HS-ST ngày 26-01-2001 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2021/HS-ST ngày 28-9-2021 của Tòa
án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Căn cứ khoản 2 Điều
207, khoản 2 Điều 51, 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị
cáo Trịnh Xuân H phạm tội Vận chuyển tiền giả. Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H
05 năm 02 tháng tù. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền
kháng theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, bị cáo Trịnh Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trịnh Xuân H mặc dù không thừa nhận hoàn toàn hành vi phạm tội
như bản án sơ thẩm đã mô tả nhưng bị cáo thừa nhận được môi giới cho Hứa Thị
H và người phụ nữ Trung Quốc để vận chuyển tiền giả về Việt Nam, bản án sơ
thẩm kết tội bị cáo là đúng người và không oan. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Trịnh Xuân H trình bày hiện nay bị cáo tuổi đã cao,
sức khỏe yếu, nhiều bệnh, bị cáo rất hối hận về hành vi mà mình đã thực hiện, bị
cáo ra đầu thú là mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về
việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội Vận chuyển tiền giả là
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng nhân
thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đã xem xét đầy đủ các tình tiết
giảm nhẹ và ấn định mức hình phạt 05 năm 02 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc
thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã kết tội nên có
thể xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hiện nay bị cáo đã 68 tuổi, sức

4
khỏe yếu nên cũng cần xem xét theo nguyên tắc nhân đạo cho bị cáo. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh
Xuân H, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo còn
05 năm tù.
Ông Chu Tiến D là người bào chữa của bị cáo trình bày ý kiến: Hành vi
phạm tội của bị cáo như cáo trạng truy tố và mô tả là đúng. Bản án sơ thẩm đã xét
xử là có căn cứ pháp luật, không oan, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành
khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời
khai của người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác. Về mức hình phạt,
Viện kiểm sát đề nghị giảm cho bị cáo 02 tháng tù giam là còn ít, vì xét tính nhân
đạo của pháp luật thì không nên áp dụng cứng nhắc, cần xem xét hoàn cảnh gia
đình, việc làm của bị cáo, tuổi tác bị cáo đã cao, sức khỏe đã giảm sút. Đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo từ 02 tháng đến 06 tháng tù để bị cáo
sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về áp dụng pháp luật: Thời điểm bị cáo Trịnh Xuân H thực hiện tội
phạm năm 2001. Bị cáo phạm tội Vận chuyển tiền giả có khung hình phạt quy tại
khoản 2 Điều 180 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và khoản 2 Điều 207 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 là có mức hình phạt tù bằng nhau. Căn cứ điểm b khoản 1
Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc
thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo luật số 12/2014/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình
sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13,
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13, thời điểm xét xử là năm
2021 do vậy xét xử bị cáo Trịnh Xuân H theo Bộ luật Hình sự năm 2015 là có
căn cứ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trịnh Xuân H đã thừa nhận hành vi
phạm tội của bản thân. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trịnh Xuân H
về tội Vận chuyển tiền giả theo khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 2015
là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
[3] Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trịnh Xuân H,
thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét khách quan, toàn diện về nhân thân và
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định tại điểm
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo mức hình phạt
05 năm 02 tháng tù là có căn cứ.
[4] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trịnh Xuân H thừa nhận hành vi phạm tội
bản thân và ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị
cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

5
năm 2015. Trong vụ án này, bị cáo Trịnh Xuân H với vai trò là tìm người vận
chuyển tiền giả để nhận tiền công là 50.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm
để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được
chấp nhận. Chấp nhận một phần ý kiến của người bào chữa cho bị cáo.
[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị
cáo Trịnh Xuân H; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2021/HS-ST
ngày 28-9-2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đối với
phần hình phạt tù của bị cáo Trịnh Xuân H, cụ thể:
Căn cứ khoản 2 Điều 207; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều
50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H 05
(năm) năm tù về tội Vận chuyển tiền giả, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 14-7-2021.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-
12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trịnh Xuân H
không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn;
- TAND H. Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;
- CCTHADS H. V tỉnh Lạng Sơn;
- CAH. Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;
- Bị cáo, người bào chữa;
- Lưu: HS; Tòa HS; HCTP, KTNV&THA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lộc Sơn Thái
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng