Bản án số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 11/05/2022 của TAND huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 11/05/2022 của TAND huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lý Sơn (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 01/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/05/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN, CHO LY HÔN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LÝ SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
ngày 11/05/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con chung nợ chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Tuyết Nhung.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Mai
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Duy Bình Thư Tòa án nhân dân huyện
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia
phiên tòa: Bà Lê Thị Điền Kiểm sát viên.
Ngày 11/05/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn xét xử thẩm công
khai vụ án dân sự thụ số: 08/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 về
việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và nợ chung khi ly hôntheo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST- HN
ngày 21 tháng 04 năm 2022,
Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 05 năm 2022,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Hữu T, sinh năm: 1983.
Địa ch: KDC s 2 Thôn Đông An H, huyn L, tnh Qung Ngãi, (có mt).
- B đơn: Ch Trn Th Th, sinh năm: 1985.
Địa ch: KDC s 2 Thôn Đông An H, huyn L, tnh Qung Ngãi, (vng mt).
- Người có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Chính sách xã hi
Địa ch: S 169, ph Linh Đường, phường Hoàng Lit, qun Hoàng Mai, thành
ph Hà Ni.
Người đại din theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th Chc v: Tng Giám
đốc
Người đại din theo y quyn: Ông Trần Văn N- Chc v: Giám đc Phòng
giao dch Ngân hàng Chính sách hi huyện Sơn, tỉnh Qung Ngãi (theo Quyết
định số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019).
2
Địa chỉ: Thôn Tây An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Qung Ngãi, (vng mt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đngày 09/21/2021, qua bản tự khai, biên bản kiểm tra,
giao nộp, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Dương Hữu
T trình bày như sau:
Trước đây anh chị Trần Thị Th tìm hiểu, sau đó đi đến kết hôn trên tinh
thần tnguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ ới vào năm 2006. Sau thời gian
chung sống vợ chồng mới đi đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân An H ngày 25
tháng 8 năm 2011, Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau hai con
chung. Trong quá trình chung sống từ năm 2019 đến nay vợ chồng nhiều mâu
thuẫn, do mâu thuẫn là chị Th ham cờ bạc, không quam m đến gia đình, lo
lắng, chăm sóc cho các con. Anh T đã nhiều lần khuyên bảo nhưng chị Th không
nghe vẫn chứng nào tật ấy. từ đó vợ chồng thường hay cãi vả nhau mâu thuẫn
ngày càng trầm trọng nên đã ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay, không ai quan
tâm ai. Nay anh T xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, hôn
nhân không đạt được. Nên viết đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn
với chị Trần Thị Th.
Về con chung: 02 con chung cháu Dương Thị H, sinh ngày 04/11/2007 và
cháu Dương Chí H, sinh ngày 29/11/2012, hiện các cháu đang với anh T, nếu ly
hôn anh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 2 con chung, không
yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi 2 con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng vay của Ngân hàng Chính sách (tại phòng giao
NHCSXH huyện Lý Sơn) 2 lần vay. Lần 1 vay vào ngày 18/11/2020 với số tiền
50.000.000đ theo Sổ vay vốn mã số 3500062042, lãi suất 8,25%/năm, thời hạn
60 tháng, hạn trả cuối vào ngày 18/11/2025. Lần 2 vay vào ngày 18/11/2020 với số
tiền 20.000.000đ theo Sổ vay vốn có mã số 3500062042, lãi suất 9%/năm, thời hạn là
60 tháng, hạn trả cuối vào ngày 18/11/2025. Tổng cộng hai khoản nợ là 70.000.000đ
(bảy mươi triệu đồng). Anh T đồng ý nhận nđã viết cam kết với ngân hàng là
chịu trách nhiệm trả khoản nợ gốc trên cho Ngân hàng chính sách xã hội tiền lãi
suất sinh cho đến khi trả xong hai khoản nợ trên theo Sổ vay vốn mã số
3500062042, ngày 18/11/2020, Ngân hàng Chính sách hội đồng ý. Do đó, Ngân
hàng đã rút yêu cầu khởi kiện về khoản nợ trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai, biên bản kiểm tra, giao nộp,
công khai chứng cứhòa giải bị đơn chị Trần Thị Th trình bày như sau:
Như lời trình bày của anh T về tình trạng hôn nhân, về con chung đúng, vợ
chồng kết hôn trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã
3
An H, huyện L năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau
02 con chung, Tuy nhiên thời gian gần đây vchồng không hợp nhau, xảy ra mâu
thuẩn nhưng chưa đến mức phải ly hôn, có thể hàn gắn được, hiện tại vợ chồng không
sống chung với nhau. Nay anh T yêu cầu ly hôn , chị Th không đồng ý ly hôn.
Về con chung: 02 con chung cháu Dương Thị H, sinh ngày 04/11/2007
cháu Dương Chí H, sinh ngày 29/11/2012, hiện các cháu đang với ông T. Nếu ly
hôn, chị Th đồng ý giao cháu Dương Chí H, sinh ngày 29/11/2012 cho ông T trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, còn cháu Dương Thị H, sinh ngày 04/11/2007 chị Th yêu
cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. không bên nào phải cấp dưỡng nuôi
con chung.
Tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Khoản nợ của ngân hàng chính sách hội theo như lời của anh
Tài trình bày là đúng. Vợ chồng vay Ngân hàng chính hội (tại phòng giao
NHCSXH huyện Sơn) hai khoản nợ tổng số tiền 70.000.000đ để làm nbếp.
Nay anh T nhận nợ tự chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách hội
khoản nợ trên. Nếu ly hôn, chị Th đồng ý đanh T trả nợ, không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản trình bày, biên bản kiểm tra, giao nộp,
công khai chứng cứ hòa giải của người đại diện cho người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Trần Văn N trình bày như sau:
Vợ chồng anh Dương Hữu T, ch Trần Thị Th có vay của Ngân hàng Chính sách
(tại phòng giao NHCSXH huyện Sơn) với 2 lần vay. Lần 1 vay vào ngày
18/11/2020 với số tiền 50.000.000đ theo Sổ vay vốn s3500062042, lãi suất
8,25%/năm, thời hạn 60 tháng, hạn trả cuối vào ngày 18/11/2025. . Lần 2 vay vào
ngày 18/11/2020 với số tiền 20.000.000đ theo Sổ vay vốn số 3500062042, lãi
suất 9%/năm, thời hạn 60 tháng, hạn trả cuối vào ngày 18/11/2025. Tổng cộng hai
khoản nợ 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) đến nay chưa trả. Ngày 14/04/2022
anh T đã đến Ngân hàng làm cam kết tự chịu trách nhiệm trả khoản nợ trên cho Ngân
hàng Chính sách xã hội. Do đó, cùng ngày 14/04/2022 Ngân hàng Chính sách xã hội
đã đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về khoản nợ nêu trên đối với vợ chồng
anh T, chị Th.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư đã tuân
thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng thẩm quyền, quan
hệ tranh chấp, cách đương sự, thủ tục cấp, tống đạt, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời
gian chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Nguyên đơn, đại diện cho người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình
4
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương
Hữu T đối với chị Trần Thị Th. Về con chung đề nghị giao hai cháu Dương Thị H
Dương Chí H cho anh Dương Hữu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh T
không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn tự thỏa thuận, không yêu cầu nên
không xét.
Về nợ chung: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đơn t đơn yêu cầu
khởi kiện đối với các khoản ncủa vợ chồng anh T, chị Th, căn cứ Điều 217, 218
Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết.
Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Dương Hữu T đơn yêu cầu ly hôn
giải quyết vấn đvề con chung, nợ chung đối với bị đơn chị Trần Thị Th, trú tại:
Thôn Đông An H, huyện L, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 23/12/2021, Tòa án nhân dân
huyện Sơn đã thụ giải quyết vụ án. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng Chính sách xã hội có yêu cầu độc lập yêu cầu vợ chồng anh T, chị Th phải
trả khoản nợ đã vay cho Ngân hàng. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khi kiểm
sát việc tuân theo pháp luật đã nhận xét Tòa án tiến hành đúng đầy đủ các thủ tục
tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, các đương sự cũng
không có bất cứ khiếu nại, ý kiến gì về thủ tục tố tụng của Tòa án. Do đó, căn cứ vào
khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39
Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sơn đã thụ vụ án
đúng thẩm quyền và thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: An Dương Hữu T chị Trần Thị Th tự nguyện kết
hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân An H, huyện L, tỉnh Quảng
Ngãi ngày 25/8/2011, hôn nhân hợp pháp theo đúng quy định tại Điều 9 của Luật
Hôn nhân gia đình. Anh T chị Th đều thừa nhận quá trình chung sống mâu
thuẫn vợ chồng phát sinh, do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm
mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân tcuối năm 2021
đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh, qua xác minh
của Chi hội Phụ nữ Thôn Đông An H cho rằng anh T làm nghề biển thường hay đi
biển, chị Th nhà không chí thú làm ăn, chăm lo cho các con ham cờ bạc rồi
bỏ bê con không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho các con, anh T đã nhiều lần khuyên
5
bảo chị Th không nghe. Do đó, vợ chồng thường hay cải vả mâu thuẫn ngày
càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Về phía Tòa án đã cố gắn nhiều lần hòa giải
để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng anh T, chị Th nhưng chị Th chỉ mặt một lần
việc hòa giải đoàn tụ không thành do anh T cương quyết ly hôn; còn những lần hòa
giải sau chị Th vắng mặt không do, nghĩa chị Th bỏ mặt cho sự việc ra sao
cũng được (đoàn tụ hay ly hôn chị Th đều không ý kiến ). Từ những vấn đề nêu
trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T chị Th trầm
trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của
Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương
Hữu T.
[2.2] Về con chung: Anh Dương Hữu T chị Trần Thị Th 02 con chung
cháu Dương Thị H, sinh ngày 04/11/2007 cháu Dương Chí H, sinh ngày
29/11/2012, hiện tại các cháu đang với anh T. Nguyện vọng của các cháu Dương
Thị H Dương Chí H được với anh Dương Hữu T. Trong quá trình giải quyết
vụ án chị Th yêu cầu được nuôi cháu Dương Thị H, còn anh Tài yêu cầu được nuôi cả
02 cháu H H. Tòa án đã hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được về người
trực tiếp nuôi con. Mặt khác, qua xác minh của Chi hội Phụ nữ Thôn Đông An H cho
rằng anh T làm nghề biển có thu nhập ổn định, còn chị Th không nghề nghiệp ổn
định, cũng ntrong thời gian chung sống chị Th ít quan tâm, chăm sóc các con cho
nên khi hỏi đến nguyện vọng của các con đều thống nhất với anh T; ngược lại nếu
người mẹ thường hay quan tâm, chăm sóc, gần gủi các con thì khi hỏi đến nguyện
vọng với ai thì các con sẽ giành cho mẹ nhiều hơn. Từ những phân tích nêu trên,
Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao 02 cháu H H cho anh Dương Hữu T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi
con nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.3] Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Qua phiên hòa giải anh T, chị Th đều thừa nhận vợ chồng
còn nợ của Ngân hàng Chính sách hội hai khoản nợ gốc tổng cộng 70.000.000đ
(bảy mươi triệu đồng) tiền lãi. Anh T đã đến Ngân hàng viết cam kết là tự chịu
trách nhiệm trả khoản nợ trên cho Ngân hàng. Do đó, ngày 14/04/2022 Ngân hàng
Chính sách hội đã đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về khoản nợ trên đối
với anh T, chị Th, việc rút yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là tự nguyện và tại phiên
tòa đại diện Ngân hàng vẫn giữ nguyên ý kiến. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c
khoản 1 Điều 217, Điều 218 khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ
yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội
[2.5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phôn nhân gia đình theo quy
định của pháp luật.
6
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203; điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218
và khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Hữu T về việc “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con chung và nợ chung khi ly hôn”
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Hữu T được ly hôn chị Trần Thị Th.
2. Về con chung: Giao 02 cháu Dương Thị H, sinh ngày 04/11/2007 cháu
Dương Chí H, sinh ngày 29/11/2012 cho anh Dương Hữu T trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục; chị Trần Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Trần Thị Th quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản
trở; đồng thời nghĩa vụ tôn trọng quyền của các con được sống chung với người
trực tiếp nuôi.
3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không xem xét giải quyết.
4. Về nchung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính
sách xã hội.
4. Về án phí: Anh Dương Hữu T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền
án phí hôn nhân và gia đình thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số: 0000862 ngày 23/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Sơn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân s thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a 9 Luật Thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
7
Bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo
quy định của pháp luật.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
- TAND T. Quảng Ngãi; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND H. Lý Sơn;
- Chi cục THADS H. Lý Sơn;
- Phòng Tư pháp H. Lý Sơn; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Văn Thu
8
Tải về
Bản án số 01/2022/HNGĐ-ST Bản án số 01/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất