Bản án số 01/2022/DS-PT ngày 05/01/2022 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2022/DS-PT ngày 05/01/2022 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ninh
Số hiệu: 01/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/01/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Năm 1980, ông bà Nh - Th và ông X (đã chết năm 2012) có thỏa thuận đổi đất cho nhau, nội dung đổi đất như sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 01/2022/DS-PT
Ngày 05/01/2022
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi
quyển sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Hồng Ánh và ông Bùi Đức Thanh
Thư phiên tòa: Trần Thị Thảo - Thư Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Trần Thị Hương
Huyền – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 01 m 2021, tại trụ sở Tòa án nhân n tỉnh Quảng Ninh t
xử phúc thẩm công khai vụ án thụsố: 34/2021/TLPT-DS ngày 12/7/2021 về việc:
"Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyn sử dụng đất. Do Bản án dân sự thẩm
số: 05/2021/DS-ST ngày 04/5/2021 ca Tòa án nhân n th ĐT, tnh Qung
Ninh bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
93/2021/QĐ-PT ngày 03/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 111a/-PT
ngày 20/12/2021, giữa c đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim T; địa chỉ: t1, khu VS, phường MK,
thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh;
- Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Thế V; địa chỉ: tổ 2, khu VS,
phường MK, thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Mạnh H -
Luật Công ty Luật TNHH BSV; địa chỉ: số 487 đường Nguyễn Văn C, phường
HH, thành phố HL, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
2. Bị đơn: bà Phạm Thị X; địa chỉ: t1, khu VS, phường MK, thị ĐT,
tỉnh Quảng Ninh;
- Người đại diện theo ủy quyền: chị Đoàn Thị L (tên gọi khác Ng); địa chỉ:
khu VS, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Lãnh Thị Mai H -
Luật sư Công ty Luật TNHH MW chi nhánh Quảng Ninh; địa chỉ: số nhà 326
đường TNT, phường TS, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- ChLưu L; địa chỉ: Viktorinova, 292/28, Z, Ta, Slovakia (có đơn từ
chối thừa kế và từ chối tham gia tố tụng).
- Anh Nguyễn Thế V; địa chỉ: tổ 2, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh
Quảng Ninh, có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Mai H; địa chỉ: tổ 5, khu TL 4, phường CT, thành phố CP,
tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu Q; địa chỉ: p TV, MX, huyện TT, tỉnh Rịa Vũng
Tàu, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu T; địa chỉ: tổ 41, khu VT, quận TK, thành phố Đà Nẵng,
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H, anh Q anh T : anh Nguyễn
Thế V; địa chỉ: tổ 2, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh, theo văn
ủy quyền ngày 22/9/2016, có mặt.
- Anh Trương Việt A anh Trương Tuấn A1; cùng địa chỉ: tổ 1, khu VH,
phường MK, thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh, đều có đơn từ chối tham gia tố tụng.
- Chị Trương Thị Thanh H; địa chỉ: phố ĐH, phường HH, thành phố HL,
tỉnh Quảng Ninh, có đơn từ chối tham gia tố tụng.
- Anh Trương Văn Đ; địa chỉ: tổ 1, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh
Quảng Ninh, có mặt.
- Anh Trương Văn Đ1; địa chỉ: tổ 2, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh
Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Trương Thị H1 (tên gọi khác Mai); địa chỉ: t7, khu VS, phường MK,
thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Trương Văn L; địa chỉ: tổ 1, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh
Quảng Ninh, vắng mặt.
- Chị Đoàn Thị L (tên gọi khác Ng); địa chỉ: tổ 1, khu VS, phường MK, thị
ĐT, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Chị Bùi Thị L; địa chỉ: tổ 1, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh Quảng
Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Trương Văn Đ, Trương Văn Đ1, ch
Trương Thị H1, Trương Văn L chị Bùi Thị L : chị Đoàn Thị L (tên gọi khác
Ng), theo văn bản ủy quyền ngày 30/01/2021, ngày 23/4/2021 và ngày 28/10/2021,
có mặt.
4. Người kháng cáo: bị đơn Phạm Thị X những người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan: anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh Trương Văn L
chị Trương Thị H1.
5. Người kháng nghị: Viện Trưởng, Viện kiểm sát nhân dân thị ĐT, tỉnh
Quảng Ninh Viện Trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn, anh Nguyễn Thế V trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Văn Nh (đã chết năm 2000) Nguyễn Thị Kim T
sinh sống trên quyền sdụng đất diện tích đất khoảng 900m
2
nguồn gốc của
bố mẹ để lại cho từ những năm 1960 tại tổ 2, khu VS, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh
3
Quảng Ninh (trước đây xóm Chợ Con, khu VS, thị trấn MK). Khoảng năm 1978
1979, Ủy ban nhân dân thị trấn MK (viết tắt là UBND thị trấn MK) san lấp khu
cánh đồng phía Đông quyền sử dụng đất của gia đình ông Nh - Th (phần giữa
hai con suối), để làm mặt bằng. Gia đình ông Trương Đình X mất đất nên được
UBND thị trấn MK cấp đất về làm nhà bên cạnh gia đình ông Nh - Th. Cũng
vào thời điểm này, gia đình ông Nh - Th khai hoang thêm được khoảng 150m
2
đất.
Năm 1980, ông Nh - Th ông X (đã chết năm 2012) thỏa thuận đổi
đất cho nhau, nội dung đổi đất như sau: ông Nh - Th lấy 21m
2
đất thổ của
ông X; ông X lấy khoảng 300m
2
đất vỡ hoang của ông Nh - Th. Văn bản đổi đất
chữ của hai bên có chứng thực của ông Thân Văn Tỵ, phó khu VS đề
ngày 12/8/1987. Hai bên đã nhận và sử dụng diện tích đất thỏa thuận đổi cho nhau:
ông Nh-bà T sử dụng diện tích đất 21m
2
làm quán bán hàng, ông X thì đào đất
tại diện tích đất 300m
2
để đổ vào móng nhà và làm ao thả cá.
Cuối m 1989, ông Nh làm đơn xin cấp đất o điền bạ phần đất cũ có xác
nhận của ông Nguyễn Kim Phượng Chtịch UBND thị trấn MK nhưng không
được giải quyết. Cũng vào thời điểm này, ông Nh - Th đang bán nước tại quán
xây dựng trên diện tích đất 21m
2
thì ông X chỉ đạo c con đập ờng mang tre
rào chắn toàn bộ cửa quán với lý do Uỷ ban không giải quyết việc đổi đất nên ông X
đòi lại đất nhưng không trlại phần đất của ông Nh - Th đã đổi cho ông X, dẫn
đến hai gia đình đã xảy ra mâu thuẫn tranh chấp.
Tranh chấp giữa hai gia đình, đã được UBND thị trấn MK giải quyết, kết quả:
yêu cầu hai gia đình khôi phục lại hiện trạng, cụ thể: ông Nh - Th đã tháo dỡ qn
trả lại đất cho ông X; ông X phải lấp ao bằng đất canh tác trên diện ch đã đổi
khoảng 300m
2
trả lại cho ông Nh - Th nng tđó đến nay gia đình ông X kng
trả lại đất cho ông Nh Thành. Tranh chấp tiếp tục được quan nhà nước
thẩm quyền giải quyết nhiều lần nhưng gia đình ông X không thực hiện việc trả lại
đất cho ông bà Nh Thành.
Mặc hai gia đình đang tranh chấp đất đai với nhau nhưng khoảng năm
1989 1990, UBND thị trấn MK vẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm
thời cho gia đình ông Nh - Th và gia đình ông X nhưng không có sơ đồ. Ông
Nh - Th được cấp diện tích đất 627m
2
: không phần đất đã đổi cho ông X
phần đất khai hoang thêm, nhưng lại diện tích đất 21m
2
(phần đất đã nhận đổi
của ông X); ông X được cấp diện tích đất 500m
2
nhưng không diện tích đất
300m
2
đã nhận đổi của ông Nh - Th. Khi được cấp như vậy nhưng hai bên s
dụng phần đất đã đổi này và nộp thuế cho nhà nước.
Về hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông X được các cơ quan chuyên môn
của thị ĐT xác định tăng lên 260m
2
, đây chính phần đất của ông Nh - Th
đã đổi cho gia đình ông X từ năm 1980. Sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm
định tại chỗ xác định diện tích đất tăng lên là 263,9m
2
.
Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa
ông Nh ông X hiệu yêu cầu Tòa án buộc Phạm Thị X những
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía X trả lại T những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía T diện tích đất 263,9m
2
theo như kết quả
xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án. Đối với phần diện tích đất 263,9m
2
, gia
4
đình X đã đào ao nhưng không yêu cầu gia đình bà X phải hoàn thổ, không yêu
cầu phải bồi thường thiệt hại và tự nguyện chịu phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
*Trong quá trình tố tụng, người đại diện của bị đơn Phạm Thị X, trình
bày: gia đình ông Xê - Xôi được đền bù mảnh đất thổ cư từ năm 1979, một phần
diện tích làm nhà ở, phần đất trũng còn lại làm ao thả cá. Cùng thời điểm này, gia
đình khai hoang được một phần diện tích đất liền kề. Quá trình sử dụng đất vào
năm 1983, đã thực hiện khai phần diện tích đất khai hoang thêm thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ. Năm 1983, được UBND thị trấn MK giao cho quản
mảnh đất thổ liền kề từ đó đến nay gia đình đều thực hiện nghĩa vụ đóng
thuế với nhà nước.
Năm 1987, ông Nh chủ động thỏa thuận đổi đất với gia đình ông Xê -Xôi:
ông Nh lấy 21m
2
đất thổ cư của ông Xê - Xôi làm quán nước, đổi cho ông bà Xê
-Xôi khoảng 300m
2
đất vỡ hoang ngoài bờ suối và việc này được chính quyền khu
chứng thực. Sau một thời gian, ông Nh mang văn bản đổi đất ra UBND thị trấn
MK nhưng không được chấp nhận với do: hai mảnh đất này không thể đổi cho
nhau được (đất thổ không đổi đất khai hoang), không giấy t thị trấn đang
quản lý và sau đó thì gia đình không đổi nữa. Vì tình cảm nên ông bà Xê - Xôi vẫn
để ông Nh sử dụng 21m
2
đất thổ làm quán bán nước; đối với diện tích đất ông
Nh đổi cho ông bà Xê Xôi nằm ngoài bờ suối, chứ không phải diện tích ao của
ông bà Xê - Xôi đang sử dụng nên bà X không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
T, tuy nhiên để giải quyết tranh chấp giữa hai gia đình, X nhất trí cắt về phía
nhà T 03 mét chiều ngang, kéo dài vào hết diện tích đất để làm đường đi cho
nhà bà T.
Tại phiên tòa, người đại diện của bị đơn trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử
công nhận Hp đồng đổi đất ngày 12/8/1987 hiệu lực. Nếu Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T, đề nghị miễn án phí cho X X
người cao tuổi.
*Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đưa ra quan điểm đề
nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện. Trường hợp, Hội đồng xét
xử xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì đề nghị Hội đồng xét xbác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của bà T.
*Trong quá trình tố tụng, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan về
phía nguyên đơn : anh Nguyễn Thế V, chị Nguyễn Mai Hiển, anh Nguyễn Hữu
Q và anh Nguyễn Hữu T đều quan điểm nhất trí với lời trình bày quan điểm
của người đại diện của nguyên đơn trình bày nêu trên.
*Trong quá trình tố tụng, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị
đơn là: anh Trương Văn Đ, Trương Văn Đ1, chị Trương Thị H1 anh Trương
Văn L đều quan điểm nhất trí với lời trình bày quan điểm của người đại diện
theo ủy quyền của bị đơn trình bày nêu trên.
*Trong quá trình tố tụng:
- Người làm chứng ông Thân Văn Tỵ trình bày: ông có được chứng thực vào
văn bản đổi đất ngày 12/8/1987 giữa ông Nguyễn Văn Nh ông Trương Đình X.
Nội dung ông Nh ông X thỏa thuận : ông Nh đổi diện tích khoảng 300m
2
đất
khai hoang vị trí: phía Tây giáp hộ ông X; phía Đông giáp hông Dũng; phía
5
Bắc giáp hộ ông Nh và phía Nam giáp đường đi của xóm cho ông X để lấy diện
tích 21m
2
đất của ông X vị trí: phía Tây giáp đường đi vào mỏ MK; phía Bắc
giáp đường vào ngõ của nhà ông Nh; phía Đông và phía Nam giáp đất nhà ông X.
- Người làm chứng ông Bùi n Vịnh trình bày: ông Vịnh n bộ UBND
thị trấn MK từ năm 1983 đến năm 2005, công việc của ông Vịnh quản lý thuế
đất thuế sử dụng đất nông nghiệp. Trong qtrình thực hiện nhiệm vụ
tham gia giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai gia đình ông Nh ông X. Trong
quá trình giải quyết, Ủy ban nhân dân phường MK không đồng ý với việc đổi đất
của hai gia đình phần đất các bên đổi cho nhau không cùng loại, không phù hợp
với quy định của pháp luật.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn Khiết trình bày: được biết gia đình
ông Nh gia đình ông X đổi đất cho nhau, còn vị trí, diện tích đất do lâu ngày
không nhớ.
- Người làm chứng Ngô ThNghĩa trình bày: biết được việc đổi đất
giữa gia đình ông Nh gia đình ông X. Về diện tích đất các bên đổi cho nhau,
Nghĩa không nắm được, chỉ biết vị trí đất mà các bên đổi cho nhau ao trước đây
gia đình ông X sử dụng.
*Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại khởi kiện
hành chính giữa gia đình ông Nh gia đình ông X đã được UBND phường MK,
thị xã ĐT, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
giải quyết, như sau:
- Tại biên bản họp giải quyết của Hội đồng vấn đất giải quyết tranh chấp
giữa anh Nguyễn Thế V ông Trương Đình X đề ngày 28/9/2006 Biên bản
Hội nghị giải quyết tranh chấp đất đai ngày 28/9/2006 (có sự tham gia của ông X)
để xác định diện tích ao ông X đang sử dụng phía Đông nhà của ông X
khoảng 160m
2
, có nguồn gốc đất trước ngày 18/12/1980, là đất vỡ hoang làm vườn
của gia đình ông Nguyễn Văn Nh (bố đẻ anh Nguyễn Thế V). Yêu cầu hai hộ gia
đình thống nhất trả lại đất cho nhau đảm bảo đúng quy định của pháp luật hiện
hành.
- Tại Thông báo số: 98/TB-UB ngày 06/10/2006 của UBND thị trấn MK về
việc giải quyết đơn đề nghị của anh Nguyễn Thế V nội dung: không chấp nhận
việc đổi đất giữa ông Nh ông X, yêu cầu hai hộ gia đình phải khôi phục lại hiện
trạng sử dụng đất ban đầu trao trả cho nhau để sử dụng đất đúng mục đích theo
quy định của Luật Đất đai năm 2003.
- Tại Quyết định số: 05/QĐ-UB ngày 09/4/2007 của UBND thị trấn MK giải
quyết đơn đề nghị của ông Trương Đình X nội dung: không công nhận nội dung
đề nghị của ông Trương Đình X về việc diện tích đất của gia đình ông Nh đổi cho
gia đình ông X, địa phương đã cấp cho người khác.
- Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số: 2388/QĐ-UBND ngày 12/11/2009
của Ủy ban nhân dân huyện ĐT giải quyết khiếu nại của anh Nguyễn Thế V đã
quyết định: đồng ý với Thông báo số: 98/TB-UB ngày 06/10/2006 Quyết định
số: 05/QĐ-UB ngày 09/4/2007 của UBND thị trấn MK.
- Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số: 580/QĐ-UBND ngày 14/3/2012
Quyết định số: 3206/QĐ-UBND ngày 04/12/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh Quảng Ninh giải quyết khiếu nại của ông Trương Đình X đã quyết định: chấp
6
nhận nội dung khiếu nại của ông Trương Đình X về việc không đồng ý trả lại diện
tích đất ao và 21m
2
đất có nguồn gốc là đất thổ cư của ông Trương Đình X cho anh
Nguyễn Thế V (con ông Nh).
- Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 03/2013/HC-ST ngày 14/8/2013 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh: người khởi kiện Nguyễn Thị Kim T (vợ
ông Nh) và người bị kiện là Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã quyết định: chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của T về việc hủy quyết định giải quyết khiếu nại số:
580/QĐ-UBND ngày 14/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phần:
“Quyết định này thay thế Quyết định số: 580/QĐ-UBND ngày 14/3/2012 về việc
giải quyết khiếu nại của ông Trương Đình X trú tại khu VS, thị trấn MK, huyện
ĐT của Điều 3 Quyết định giải quyết khiếu nại số: 3206/QĐ-UBND ngày
04/12/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Lý do hủy: Quyết
định giải quyết số: 580/QĐ-UBND ngày 14/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Quảng Ninh, ban hành trái thẩm quyền không có giá trị pháp lý.
- Tại công văn số: 28/UBND ngày 16/01/2019 của Ủy ban nhân dân phường
MK, thị xã ĐT (viết tắt là UBND phường MK) cung cấp thông tin như sau:
Việc đổi đất giữa hai gia đình ông Nguyễn Văn Nh ông Trương Đình X
trước đây không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận;
UBND phường MK không xác định được diện tích khoảng 300m
2
ngoài bờ
suối trước đây đã đổi đất như nội dung đơn đổi đất ngày 12/8/1987 giữa ông
Nguyễn Văn Nh ông Trương Đình X từ năm 1987 đến nay nhiều biến
động về đất đai;
Đối với diện tích đất vườn ao của gia đình ông Trương Đình X đã sử dụng từ
năm 1983, hàng năm nộp thuế sử dụng đầy đủ;
Về hiện trạng thửa đất của gia đình ông X: đang quản sử dụng 773m
2
,
trong đó: 513m
2
là đất được UBND thị trấn MK cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất tạm thời năm 1989, còn lại là đất ngoài điền bạ.
Xác định vị trí diện tích đất 21m
2
, là một phần trong tổng số diện tích đất thổ
của gia đình ông Trương Đình X; từ m 1987, gia đình ông Nh sử dụng làm
quán bán hàng; năm 2000, ông Nh chết, quán không sử dụng sau đó tháo dỡ, từ đó
ông Trương Đình X quản lý hàng năm nộp thuế đầy đủ.
- Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng
đất của bà Phạm Thị X do Tòa án nhân dân thị xã ĐT lập ngày 01/3/2017 xác định:
phần diện tích hộ Phạm Thị X đang quản lý, sử dụng diện tích 513m
2
, bao
gồm cả phần diện tích quán đổi cho ông Nh 21m
2
; phần diện tích đất tranh
chấp giữa T X diện tích là 260m
2
. Các bên đương sự không ý kiến
gì tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/3/2017.
- Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/01/2021, của Tòa án nhân
dân thị ĐT, kết quả xác định diện tích đất tranh chấp giữa hai gia đình T
X 260m
2
tại buổi xem xét thẩm định, tại chỗ ngày 01/3/2017, sau khi đo đạc
lại tăng lên 263,9m
2
trên phần diện tích đất này 03 mái tạm, lần lượt có diện
tích là 8,5m
2
; 18m
2
và 32,1m
2
(các mái tạm này do anh Đ đang sử dụng). Anh Đ
(con bà X) có ý kiến đây không phải là diện tích đất tranh chấp vì gia đình đã đóng
thuế sử dụng từ m 1983; anh V (con T) ý kiến: đây diện tích đất b
anh là ông Nh đã đổi cho ông X.
7
Vi nội dung tn, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2021/DS-ST ngày
04/5/2021 ca Tòa án nhân dân thĐT, tnh Qung Ninh, đã quyết định:
Áp dng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điu
39; Điu 184; khoản 2 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 157; Điu 271; Điu 273
ca B lut T tng dân s. Điu 127; 128; 136; 137; Điu 637 B lut Dân s
năm 2005. Điu 132; Điều 688 B lut Dân s năm 2015. Điu 15; Điều16 Pháp
lnh Hợp đng dân s năm 1991. Đim d mc 2 phn III ca Quyết định s: 201-
CP ngày 01/7/1980 ca Hội đồng Chính ph v vic thng nht qun ruộng đất
tăng cường công tác qun ruộng đất trong c c. Đim a tiu mc 2.2
tiu mc 2.3 ca mc 2, phn II ca Ngh quyết s: 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 ca Hội đồng Thm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dn áp dng
pháp lut trong vic gii quyết các v án dân sự, hôn nhân gia đình. Điểm đ
khoản 1 Điều 12 Ngh quyết s: 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 ca U
ban thường v Quc hội, quy định v án p, l phí Tòa án.
Tuyên x: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim
T.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất ngày 12/8/1987 giữa ông
Nguyễn Văn Nh và ông Trương Đình X hợp đồng vô hiệu.
Buộc bị đơn bà Phạm Thị X những người quyền lợi, nghĩa vliên
quan về phía bị đơn gồm: anh Trương Văn Đ, anh Trương n Đ1, ch Trương Th
H1, tên gọi khác: Trương Thị Mai, anh Trương Văn L phải trả lại diện tích đất
263,9m
2
địa chỉ tại tổ 1, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh,
được giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11 về 1 cho nguyên đơn bà
Nguyễn Thị Kim T những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía
nguyên đơn gồm: anh Nguyễn Thế V, chị Nguyễn Thị Mai H, anh Nguyễn Hữu Q,
anh Nguyễn Hữu T.
Buộc anh Trương Văn Đ nghĩa vụ tháo dỡ 03 mái tạm, lần lượt với diện
tích các mái tạm là 8,5m
2
; 18m
2
và 32,1m
2
trên diện tích đất 263,9m
2
.
Phạm Thị X được tiếp tục sử dụng diện tích đất 21m
2
địa chỉ tại tổ 1,
khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh, được giới hạn bởi các điểm:
12,13,14,15 v12 (phần diện tích đất này Nguyễn Thị Kim T đã trả bà Phạm
Thị X).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
quyền thi hành án theo quy định.
- Ngày 14/5/2021, bị đơn bà Phạm Thị X những người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ, anh Trương n Đ1, anh Trương n L
chị Trương Thị H1 kháng cáo toàn b bản án sơ thẩm.
- Quyết định kháng ngh phúc thm s: 26/QĐKNPT-VKS-DS ngày
01/6/2021 ca Vin kim sát nhân dân tnh Qung Ninh kháng ngh các ni dung:
v t tụng, đưa thiếu người tham gia t tng; v ni dung, bản án xác định 21m
2
thuc quyn s dng ca X ông X nhưng do ông X đã chết nên phn din
tích này thuc quyn s dng ca X các đồng tha kế nhưng Bản án ch
tuyên bà X đưc tiếp tc s dng 21m
2
là thiếu sót, bản án xác định anh Đ là người
đang quản s dng 03 mái tôn tuyên buc anh Đ phi tháo d mâu thun,
8
bản án sơ thẩm tuyên “trả lại cho nguyên đơn diện tích 263,9m
2
đt là không chính
xác, phi tuyên tr lại cho nguyên đơn quyn s dng din tích 263,9m
2
. Ngoài ra,
phần đầu bn án ghi mt anh Trương Văn Đ nhưng sau đó lại th hin anh Đ
vng mt và có giy y quyn cho ch Đoàn Thị L tham gia t tng là mâu thun.
- Quyết định kháng ngh phúc thm s: 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày
18/5/2021 ca Vin kim sát nhân dân th ĐT tnh Qung Ninh kháng ngh đối
vi phần xác định diện tích đất có tranh chp.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T, là
anh Nguyễn Thế V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phạm Thị X những người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh
Trương Văn L và chị Trương Thị H1, chĐoàn Thị L vẫn giữ nguyên kháng
cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh vẫn ginguyên kháng
nghị.
- Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn là Lãnh Thị Mai H
trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo: Tòa án cấp thẩm đã
không đánh giá chứng cứ toàn diện: vthời điểm đổi đất xác định năm 1987,
không phải từ năm 1980 (bản án sơ thẩm cũng nhận định năm 1987). X đã
nộp thuế đất ao từ năm 1983, đồng nghĩa với việc diện tích đất này đã hình thành
trước thời điểm đổi đất nên Tòa án cấp thẩm xác định diện tích đất đổi là diện
tích đất ao nhà X yêu cầu trả lại gia đình T không căn cứ. Vvị trí
đất, các cơ quan chuyên môn đều không xác định được vị tđất đổi ngoài bờ suối
chính xác là vị trí đất nào, bản án sơ thẩm nêu một số tài liệu nhưng còn mâu thuẫn
về vị trí và diện tích. Tại biên bản làm việc ngày 30/3/2009 của Thanh tra nhà nước
huyện ĐT xác định diện tích đất ông Nh đổi cho ông X là đất nông nghiệp, từ bờ
tre phía đông sang nhà ông X, hiện trạng diện tích 160m
2
”, tức là đất đổi nằm
ngoài phần bờ tre hất ra phía Đông. Đối chiếu với biên bản xác định lại tài sản
tranh chấp ngày 30/11/2021 của Tòa án cấp thẩm, xác định phía Nam thửa đất
bụi tre (bị đơn xác định trồng từ năm 1980); phía Đông phần đất tranh chấp
01 gốc tre k (bị đơn xác định trồng tnăm 1979 - 1980). vậy căn cứ để
loại trừ diện tích đất 263,9m
2
tranh chấp đất ông X ông Nh đã thỏa thuận đổi
và không có cơ sở để khẳng định diện tích đất 263,9m2 mà tòa án sơ thẩm xác định
diện tích của ông Nh đổi cho ông X. Vhiện trạng diện tích đất của gia đình bà
T: năm 1989, hộ T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời đất
thổ với diện tích 627m
2
; theo bản kết quả xác minh tại UBND phường MK
ngày 29/11/2021: theo bản đồ địa chính năm 2011 của UBND phường MK th
hiện thửa đất T đang sử dụng thửa đất số 02, tờ bản đồ 147 diện tích
749,3m
2
, tăng lên 122,3m
2
so với giấy chứng nhận tạm thời. Quá trình giải quyết
vụ án, phía bị đơn đã đơn yêu cầu xem xét, thẩm định diện tích đất gia đình
T nhưng không được chấp nhận. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn giữ yêu cầu
Hội đồng xét xử xem xét, thẩm định diện tích đất gia đình T. Vnguồn gốc
tính hợp pháp của diện tích đất của ông Nh đổi cho ông X: anh V cho rằng nguồn
9
gốc đất đổi do gia đình khai hoang từ trước năm 1980, nhưng lại không khai
với quan nhà nước thẩm quyền cũng không tài liệu chứng minh được
Nhà nước giao để sử dụng hay cho thuê. Theo Quyết định 201 ngày 11/7/1980 của
Chính phủ thì không căn cứ cho rằng nguyên đơn người sử dụng hợp pháp
nên không căn cứ để Tòa án cấp thẩm tuyên giải quyết hậu quả của Hợp
đồng hiệu. Về việc áp dụng pháp luật: Tòa án cấp thẩm áp dụng Pháp lệnh
Hợp đồng dân sự năm 1991; điểm a mục 2.2 của Mục 2, phần II Nghị quyết số:
02/2004/NQ-HĐTP để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên bố
hợp đồng chuyển đổi quyền sdụng đất giữa ông Nh ông X hiệu, buộc b
đơn phải trả quyền sử dụng đất 263,9m
2
không n cứ. Nếu căn cứ c
định hợp đồng hiệu thì phải xác định hợp đồng chưa được thực hiện không
căn cứ để giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Từ những căn cứ trên, đề
nghị Hội đồng xét xử, sửa bản án thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phạm Thị X những người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh
Trương Văn L và chị Trương Thị H1, là chị Đoàn Thị L nhất trí với quan điểm của
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày nêu trên, không trình
bày bổ sung ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày nội dung
kháng nghị (theo Quyết định kháng nghị số: 03/QĐKNPT-VKS-DS ngày
18/5/2021 và số: 26/QĐKNPT-VKS-DS ngày 01/6/2021).
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, ông Mạnh
H trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị: vẫn giữ nguyên quan điểm
như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn
Đ1, anh Trương Văn L chị Trương Thị H1. Đối với kháng nghị của Viện
Trưởng, Viện kiểm sát nhân dân thị ĐT không sở pháp ; vkháng
nghị của Viện Trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh một nội dung
căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: thứ nhất, việc tuyên trả 21m
2
cho
X mà không hàng thừa kế thứ nhất của ông X không đúng; tuyên trả lại diện
tích 263,9m
2
kháng nghị 03 mái tạm. Còn những nội dung kháng nghị khác
không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, là bà Lãnh Thị Mai H
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phạm Thị X những người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh Trương
Văn L chị Trương Thị H1 chị Đoàn Thị L, đều không nhất trí với nội dung
kháng nghị của Viện kiểm sát hai cấp.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, nh Thị Mai H
xuất trình bổ sung các tài liệu: 01 biên bản xác minh đề ngày 29/11/2021 (bản
chính) và 01 trích lục bản đồ địa chính (bản pho to).
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát, đều không xuất
trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm trong
quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
10
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đều thực hiện đúng quyền nghĩa vụ
của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Phân tích các tình tiết của vụ án đưa ra căn cứ cho thấy
Bản án thẩm của Tòa án nhân n thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh mt svi
phạm như Viện kiểm sát đã kháng nghị đưa ra căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử
xác định diện tích đất ông Nh đổi cho ông X theo hiện trạng hiện nay chỉ khoảng
84,8m
2
đnghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm
sát; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn những người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan về phía bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bluật Ttụng dân sự, sửa
bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh L tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn Phạm Thị X, những người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh Trương n L chị
Trương Thị H1; Quyết định kháng ngh ca Viện trưởng, Vin kim sát nhân dân
th ĐT Quyết định kháng ngh ca Viện trưởng, Vin kim sát nhân dân tnh
Qung Ninh, đều trong hạn luật định. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 28 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án thì người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm. Tòa án cấp
thẩm ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chung cho bị đơn
Phạm Thị X những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ,
anh Trương n Đ1, anh Trương n L, chị Trương ThH1 chị Đoàn Thị L
người đại diện theo ủy quyền với mức 300.000 đồng không đúng pháp luât.
Ngoài ra, trong danh sách những người kháng cáo tại phần đầu của đơn kháng cáo
thể hiện chị Đoàn Thị L chỉ đại diện theo y quyền của Phạm Thị X,
vào đơn kháng cáo nhưng không thể xác định chị Loan cũng kháng cáo và yêu cầu
chị Loan nộp tiền tạm ứng kháng cáo cùng với X, anh Đ, anh Đ1, anh L chị
Hòa. Đây sai sót của Tòa án cấp thẩm, cần rút kinh nghiệm. Để đảm bảo
quyền lợi của các đương sự, Hội đồng xét xử vẫn chấp nhận xem xét kháng cáo
của bị đơn Phạm Thị X, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh
Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh Trương Văn L, chị Trương Thị H1
kháng nghị của Viện kiểm sát, để xem xét lại bản án thẩm theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Phạm Thị X những người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ, anh Trương n Đ1, anh Trương n L
chị Trương Thị H1 về việc kháng cáo toàn bộ bản án thẩm. Hội đồng xét xử
thấy:
11
[2.1] Căn cứ đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn bà T nộp
theo đơn khởi kiện. Tòa án cấp thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh
chấp, đúng thẩm quyền và người tham gia tố tụng; các đương sự đã được thực hiện
đúng quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
[2.2] Đối với yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn X: bđơn quan
điểm đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, Hội đồng xét xử thấy giao dịch nguyên đơn đề nghị tuyên hiệu thuộc
trường hợp giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật nên thời hiệu khởi kiện
không bị hạn chế theo quy định tại khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015
Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định không áp dụng thời
hiệu giải quyết vụ án là có căn cứ.
[2.3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn T: các bên đều xác định việc
thỏa thuận đổi đất giữa gia đình ông Nh gia đình ông X thật, ông Nh đổi
khoảng 300m
2
đất khai hoang ngoài bờ suối để lấy 21m
2
đất thổ của ông X để
làm quán bán hang nhưng không xác định được thời gian đổi đất: nguyên đơn xác
định là năm 1980, bị đơn xác định là năm 1987. Sau khi đổi đất, hai gia đình đã đề
nghị UBND thị trấn MK xác nhận vào điền bạ nhưng không được giải quyết do hai
loại đất không phù hợp nên không được đổi kể từ khi ông Nh ông X đổi đất
cho nhau đến nay, giao dịch này vẫn không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
công nhận.
[2.3.1] Về nguồn gốc quá trình sử dụng đất đối với diện tích đất thổ
21m
2
của ông X đã đổi cho ông Nh sử dụng làm quán bán hàng:
Nguồn gốc một phần diện tích trong tổng diện tích đất thổ của ông X,
sau đó ông X đổi 21m
2
cho ông Nh. Từ năm 1987, gia đình ông Nh sử dụng làm
quán bán hàng, đến năm 2000 ông Nh chết, quán không sdụng nữa, sau đó tháo
dỡ, từ đó đến nay gia đình X (vợ ông X) đang quản sử dụng, hàng năm nộp
thuế đầy đủ. Ông Nh cũng nộp thuế đối với diện tích đất này.
[2.3.2] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng phần ao của gia đình ông
Xôi đang quản lý, sử dụng:
Về hiện trạng không xác định được diện tích đất khoảng 300m
2
ngoài bờ
suối trước đây ông Nh đã đổi cho ông X như nội dung đơn đổi đất của ông Nh
ông X đề ngày 12/8/1987.
- Văn bản báo cáo việc tranh chấp đất ở khu VS của ông Bùi Văn Vịnh - Bộ
phận quản đất đai của thị trấn MK ngày 08/01/1990, có nội dung: Hiện trạng 2
mảnh đất ông X đã đào ao thả cá trên diện tích 237m
2
…”
- Bn bản họp Hi đồng tư vấn ngày 28/9/2006, đã kết luận: diện tích ao ông
X đang sử dụng phía Đông nhà ông X khoảng 160m
2
là có nguồn gốc đt trước
ngày 18/12/1980, là đất vỡ hoang m vườn của gia đình ông Nguyn Văn Nh, bố đẻ
anh Nguyễn Thế V.
- Biên bản làm việc của UBND thị trấn MK ngày 21/11/2006, xác định: việc
cấp đất cho anh Trần Đức Thiện anh Tạ Văn Uẩn khu VS, vị trí phía Đông
khu vực nhà ông X. Diện tích đất đó đất trống bỏ hoang, không ai sử dụng, do
UBND thị trấn quản lý. Năm 1994, giao đất cho anh Thiện; tại thời điểm cấp đất,
12
không ý kiến vviệc tranh chấp đất đã cấp cho anh Uẩn anh Thiện…
Không việc chồng chéo trong việc cấp đất cho anh Uẩn anh Thiện vào diện
tích đất của gia đình ông Nh đổi cho gia đình ông X.
- Biên bản làm việc ngày 22/9/2008 Biên bản làm việc ngày 30/3/2009
của Thanh tra, phòng Tài nguyên Môi trường huyện ĐT UBND thị trấn MK
cùng xác định:
+ Tổng diện tích đo thực tế của gia đình ông X 773 m
2
tăng 260 m
2
. Diện
tích còn lại 204m
2
, trong đó diện tích ao 160m
2
(xác định đây diện tích
đất mà gia đình ông Nh đổi cho gia đình ông X).
+ Khẳng định diện tích đất gia đình ông Nh đổi cho gia đình ông X đất
nông nghiệp lúc đó ông Nh sử dụng đổi cho ông X tbtre phía Đông sau nhà
ông X, hiện trạng ông X đã đào ao khoảng 160m
2
.
+ Diện tích đất cấp cho anh Thiện anh Uẩn ti khu VS thtrấn MK từ năm
1993, 1994 đt i bồi ất công) do UBND thị trấn MK quản.
+ Vị trí đất trước khi cấp cho anh Thiện anh Uẩn và hiện trạng sử dụng
đất của hai hộ không nằm trong diện tích ông Nh đổi cho ông X từ năm 1980.
- Biên bản làm việc của Tòa án nhân dân thị ĐT với ông Thân Văn Tỵ
vào ngày 14/02/2020, nội dung: diện tích đất gia đình ông Nh phía Đông giáp
với con suối nhỏ (nhánh suối nhỏ), cạnh phía Đông con suối giáp với hộ anh Dũng
anh Uẩn.
- Biên bản làm việc của Tòa án nhân dân thị ĐT với ông Bùi Văn Vịnh
vào ngày 14/02/2020, có nội dung: 300 m
2
đất ông Nh đổi cho ông X vị trí: phía
Tây giáp ông -i, phía Đông giáp hộ anh Dũng, phía Bắc giáp hộ ông
Nh - Th và phía Nam giáp đường xóm.
- Đơn đề nghị ngày 01/10/1995 của ông Trương Đình X: tng diện ch thổ
gia đình tôi là 753m
2
khi cnh sách thuế nông nghiệp, UBND thị trấn đã trcho
90m
2
n đưng không phải đóng thuế (753m
2
90m
2
= 663m
2
). m 1989, i ch
cho con trai tôi là 150m
2
. Vy, diện ch đất n lại : 663m
2
150m
2
= 513m
2
.
- Đơn báo o đề nghđ ngày 07/01/1990 của ông Tơng Đình X có nội
dung: …vào năm 1980 tôi có đổi 24m
2
đất thcư cho ông Nh để lấy một mảnh đất
vỡ hoang cạnh bờ suối…(t lục 233-235).
Năm 1989, ông X được UBND thị trấn MK cấp giấy chứng nhận tạm thời số:
71A ny 22/3/1989, quyền s dụng đất thổ cư với tổng diện tích: 513m
2
, trong đó có
213m
2
đất chịu thuế; theo sổ thuế đất nông nghiệp s: 79 của UBND pờng MK cấp
cho ông Tơng Đình X ngày 10/3/1992, ttổng diện tích đất chịu thuế đất ng
nghiệp là 490m
2
(trong đó đất ờn 253m
2
, đt ngoài điền bạ 237m
2
).
N vậy, đối với vị trí diện tích đất ghi trong Hp đồng đổi đất, Hội đồng t
xử có n cứ c định: din ch đất gia đình đang sử dụng là 773m
2
, trong đó
cả phần diện ch 21m
2
đã đổi cả phần diệnch ao bà T (vợ ông Nh) u cầu tr
lại.
V diện tích đất ông Nh đổi cho ông X: căn cứ vào lời khai của người làm
chứng ông Thân Văn Tỵ: đã chứng thực vào văn bản đổi đất ngày 12/8/1987 giữa
ông Nh và ông X; biên bản họp giải quyết của Hội đồng tư vấn đất giải quyết tranh
chấp giữa anh V (con ông bà Nh - Th) và ông X đề ngày 28/9/2006 và biên bản hội
nghị giải quyết tranh chấp đất đai ngày 28/9/2006 (có sự tham gia của ông X), đã
13
xác định: diện tích ao ông X đang sử dụng ở phía Đông nhà ở của ông X khoảng
160m
2
, nguồn gốc đất trước ngày 18/12/1980, là đất vỡ hoang làm vườn của gia
đình ông Nh (bút lục 37 đến 40); biên bản làm việc v/v xác minh vị trí đất của hộ
ông Nguyễn Thế V đổi đất cho ông Trương Đình X tổ 2 khu VS thị trấn MK ngày
30/3/2009 đồ kèm theo, c đnh: din tích ao ông X đang s dng ở pa Đông
nhà ông X (từ bờ tre phía Đông sau nhà ông X) là khoảng 160m
2
có ngun gc trưc
ngày 18/12/1980 là đất v hoang làm vưn ca gia đình ông Nguyn Văn Nh- bđẻ anh
V (bút lục 42, 44); thông báo số: 98/TB-UB ngày 06/10/2006 của UBND thị trấn
MK về việc giải quyết đơn đề nghị của anh Nguyễn Thế V nội dung: không
chấp nhận việc đổi đất giữa ông Nh ông X, yêu cầu hai hộ gia đình phải khôi
phục lại hiện trạng sử dụng đất ban đầu trao trả cho nhau để sdụng đất đúng
mục đích theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 xác định: diện tích ông Nh
đổi cho ông X, gia đình ông X đã đào ao sử dụng từ năm 1987 đến nay, diện tích
hiện trạng khoảng 160m
2
; Quyết định số:05/QĐ-UB ngày 09/4/2007 của UBND
thị trấn MK giải quyết đơn đề nghị của ông Trương Đình X nội dung: không
công nhận nội dung đề nghị của ông X về việc diện tích đất của gia đình ông Nh
đổi cho gia đình ông X, địa phương đã cấp cho người khác; Quyết định giải quyết
khiếu nại số: 2388/QĐ-UBND ngày 12/11/2009 của y ban nhân dân huyện ĐT
giải quyết khiếu nại của anh Nguyễn Thế V đã quyết định: đồng ý với thông báo
số: 98/TB-UB ngày 06/10/2006 Quyết định số: 05/QĐ-UB ngày 09/4/2007 của
UBND thị trấn MK. Hội đồng xét xử xét thấy: tại thời điểm ông Nh ông X thỏa
thuận đổi đất cho nhau, xác định diện tích đất ông Nh đổi cho ông X khoảng
300m
2
nhưng gia đình T không tài liệu chứng cứ chứng minh về nguồn gốc
ranh giới của 300m
2
đất ngoài bsuối theo văn bản thỏa thuận do tnăm 1980
đến nay có nhiều biến động về đất đai. Mặt khác, khi nhận được kết quả giải quyết
của UBND thị trấn MK, của Ủy ban nhân dân huyện ĐT tnăm 2006 đến năm
2009 về việc giải quyết đơn đnghị của anh Nguyễn Thế V (con ông Nh) như nêu
trên, anh V đều không ý kiến căn cứ vào diện tích đất của hai gia đình từ
khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời năm 1989 diện tích
đất hiện nay. Cụ thể: năm 1989, nhà ông Nh được cấp 627m
2
; nhà ông X được cấp
513m
2
, diện ch đất hiện nay: nhà ông Nh 749,3m
2
(theo bản đồ địa chính năm
2011); nhà ông X 773m
2
(kết quxem xét thẩm định của Tòa án cấp thẩm),
có căn cứ đã xác định diện tích đất ông Nh đổi cho ông X từ năm 1980, hiện nay là
160m
2
, về vị tdiện tích đất thể hiện tại đồ kèm theo biên bản xác định lại tài
sản tranh chấp ngày 30/11/2021 do Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành.
[2.3.3] Xét tính hợp pp của hợp đồng chuyển đổi quyền sdụng đất ngày
12/8/1987 giữa ông Nguyễn Văn Nh và ông Trương Đình X; việc giải quyết hậu
quả pháp lý:
Xét thấy tại thời điểm đổi đất, việc đổi đất giữa ông Nh và ông X trái với
quy định của pháp luật tại điểm d mục 2 phần III của Quyết định số: 201-CP
ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản ruộng đất
tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước (có hiệu lực từ ngày
01/7/1980 đến ngày 04/7/1991) quy định người sử dụng đất có trách nhiệm:
“Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ
14
hình thức nào; không được dùng đất để thu những khoản lợi không do lao động mà
có, trừ trường hợp đặc biệt do chính sách Nhà nước quy định”.
Hơn nữa căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thấy, kể từ
khi ông Nh và ông X đổi đất cho nhau đến nay, giao dịch này không được cơ quan
nhà nước thẩm quyền công nhận. Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử
dụng đất giữa các bên diễn ra nhiều năm, diện tích đất được đổi chưa được Uỷ ban
nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật đất đai cũng chưa hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền.
Hợp đồng đổi đất ngày 12/8/1987 giữa ông Nh ông X đã vi phạm điều
cấm của pháp luật như đã phân tích trên, nên hợp đồng hiệu. Về yêu cầu giải
quyết hậu quả của hợp đồng hiệu: căn cứ Điều 16 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự
năm 1991 điểm a tiểu mục 2.2 tiểu mục 2.3 của mục 2 phần II của Nghị
quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân
sự, hôn nhân và gia đình thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng
đất bị hiệu: do các bên không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết.
Từ những phân tích trên, nhận thấy Tòa án cấp thẩm chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T không căn cứ. Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: tuyên bố hợp đồng đổi đất ngày
12/8/1987 giữa ông Nguyễn Văn Nh ông Trương Đình X là hiệu, buộc bị
đơn bà Phạm Thị X những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trương
Đình X, chị Đoàn Thị L chị Bùi Thị L phải tháo dỡ, di chuyển toàn bộ ng
trình, cây trồng trên phần diện tích đất 160m
2
, để trả lại diện ch đất này cho
nguyên đơn Nguyễn Thị Kim T những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phía nguyên đơn. Bị đơn bà Phạm Thị X những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của ông Trương Đình X được tiếp tục sử dụng diện tích đất 21m
2
, về vị trí
các diện tích đất nêu trên thể hiện tại đồ kèm theo biên bản kiểm tra lại tài sản
tranh chấp ngày 30/11/2021 do Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành ngày 30/11/2021.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
X, chị Đoàn Thị L yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ đxác định diện
tích đất hiện trạng của gia đình nguyên đơn T. Như đã phân tích trên căn cứ
tài liệu người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đã cung cấp tại phiên
tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ căn cứ để giải quyết vụ án, nên
không chấp nhận.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát:
[3.1] Đối với kháng ngh ca Viện Trưởng, Vin kim sát nhân dân th
ĐT, tnh Qung Ninh v phần xác định diện tích đất tranh chp. Như đã phân
tích v diện tích đất tranh chp gia Nguyn Th Kim T Phm Th X nêu
trên, ni dung kháng ngh này là có căn cứ.
[3.2] Đi vi kháng ngh ca Viện trưởng, Vin kim sát nhân dân tnh
Qung Ninh:
15
[3.2.1] Đối vi nội dung a án cp thẩm đưa thiếu ni tham gia ttụng,
xét thấy: ti bn bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/01/2021, thhiện: trên diện
tích đất tranh chấp 03 mái tạm với diện tích ln ợt 8,5m
2
; 18m
2
32,1m
2
nng
không rõ ai đang quản , sử dụng mà a án cấp thẩm không xác minh m rõ ch
s hữuc tài sản đ xemt đưa vào tham gia tố tụng vi tư cách người có quyn lợi
nghĩa vụ ln quan là vi phạm quy định tại khon 4 Điu 68 của Bluật Tố tụng dân s.
Tòa án cp pc thm đã tiến hành xác minh, lấy lời khai ca chĐoàn ThL
(n gọi khác Ng) o ngày 21/10/2021; bản t khai ny 04/11/2021 của ch i Th
L; tiến nh lập biên bản c định li tài sản tranh chấp ny 30/11/2021 và c định
người đang quản lý i sn (03 mái tạm nêu trên) v chồng anh Tơng Văn Đ1 ch
Đn Thị L anh Tơngn L chị Bùi Thị L, đã bổ sung đưa ch Đoàn Thị L
chị Bùi Th L o tham gia ttụng với cách người quyn lợi nghĩa vln
quan. Chị Loan và chị L đồng ý và không ý kiến gì.
[3.2.2] Đối vi nội dung kng nghị:
- Bản án thẩm xác đnh din tích đất 21m
2
thuc quyn s dng ca X
ông X nhưng do ông X đã chết nên phn din tích này thuc quyn s dng ca
X các đng tha kế nhưng bn án ch tuyên X đưc tiếp tc s dng din
tích đt 21m
2
thiếu sót. Do Tòa án cấp thẩm đã đưa những người thuc hàng
tha kế th nht ca ông X vào tham gia t tng nhận định diện tích đất 21m
2
thuc quyn s dng ca X và các đồng tha kế nên Tòa án cấp sơ thẩm cn rút
kinh nghim, cn tuyên: bà X và những người thuc hàng tha kế th nht ca ông
X đưc quyn s dng đất din 21m
2
.
- Bn án sơ thẩm xác định anh Đ là người đang quản s dng 03 mái tm
tuyên buc anh Đ phi tháo d mâu thun, xét thy: tại biên bản lấy lời khai
của chị Loan (n gọi khác Ng) vào ny 21/10/2021; bn tự khai ny 04/11/2021 của
chị Bùi Thị L, cũng n tại bn bn xác định li i sản tranh chấp ngày 30/11/2021, đủ
cơ sở xác định nời đang quản lý các mái tạm nêu trên là v chng anh Đ1 chị Loan
anh L chị L, phần mái tạm của anh Tơng Văn Đ đang quản lý, sdụng kng
liên quan đến diện tích đất đang tranh chp.
- Bản án thm tuyên tr lại cho nguyên đơn người có quyn lợi, nghĩa
v liên quan v phía nguyên đơn din tích đất 263,9m
2
không chính xác, phi
tuyên tr lại cho nguyên đơn và…. quyn s dụng đất din tích 263,9m
2
. Xét thy
đây là cách tuyên quyn s dng đất không chính xác ca Tòa án cấp sơ thẩm.
- Ngoài ra, phần đầu bn án ghi mt anh Trương Văn Đ nhưng sau đó li
th hin anh Đ vng mt giy y quyn cho ch Đoàn Th L tham gia t tng
mâu thun. Xét thy, ti biên bn phiên tòa thẩm th hin anh Trương Văn Đ
mt ti phiên tòa nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác đnh anh Đ vng mt không
đúng.
Từ những nhận định trên, nhận thấy căn cứ chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn Phạm Thị X những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về
phía bị đơn (các con đẻ của X) và chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm
sát.
[4] Về chi phí tố tụng:
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại Tòa án cấp thẩm, nguyên
đơnNguyễn Thị Kim T tự nguyện chịu.
16
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Tòa án tiến hành xem xét thẩm
định, tại chỗ xác đnh li hin trng tài sn tranh chp, đã chi phí hp lý cho việc xem xét,
thm đnh ti ch hết s tin 7.200.000 đồng. Ni đi din theoy quyn ca bđơn bà
Phạm Thị X những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ,
anh Trương Văn Đ1, anh Trương Văn L chị Trương Thị H1 chị Đoàn Thị L
đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng số tiền 10.000.000 đồng. Tòa án đã trả lại cho chị
Đoàn Thị L số tiền còn lại 2.800.000 đồng, chị Loan yêu cầu Tòa án giải quyết
việc chịu chi phí ttụng theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 157
của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc nguyên đơn bà T bị đơnX, mỗi người phi
chịu ½ số tiền chi phí tố tụng; bà T phải hoàn trả cho bà X 3.600.000 đồng.
[5] Về án phí:
[5.1] Về án phí thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm, chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim T. Căn c
khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Ttụng dân sự; khoản 4 Điều 26; điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Kim T phải chịu án phí dân sự thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được
Tòa án chấp nhận; bị đơn Phạm Thị X phải chịu án phí dân sự thẩm tương
ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.
Nhưng Nguyễn Thị Kim T Phạm Thị X, đều người cao tuổi đề
nghị miễn án phí nên miễn án phí dân sự thẩm cho Nguyễn Thị Kim T
Phạm Thị X.
[5.2] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị đơn Phạm Thị X; những
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1,
anh Trương Văn L chị Trương Thị H1 được chấp nhận một phần. Căn cứ quy
định tại khoản 2 Điều 148; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị đơn Phạm Thị X
những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ, anh Trương
Văn Đ1, anh Trương Văn L, chTrương Thị H1, không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Phạm Thị X; những người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh Trương
Văn L chị Trương Thị H1; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Ninh, sửa Bản án dân sự thẩm số: 05/2021/DS-ST ngày 04/5/2021
ca Tòa án nhân th xã ĐT, tnh Qung Ninh như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 148; Điều 157; khoản 3 Điều 296; Điều 184 của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 127; Điều 128; Điều 136; Điều 37 Điều 637 của
Bộ luật Dân snăm 2005. Điều 132 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
17
Điều 15 Điều 16 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991; Điểm đ khoản 1
Điều 12; khoản 4 Điều 26; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số:
326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định
về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim T.
[2] Tuyên bố hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất ngày 12/8/1987 giữa
ông Nguyễn Văn Nh và ông Trương Đình X vô hiệu.
BuộcPhạm Thị X, anh Trươngn Đ, anh Tơng Văn Đ1, chị Tơng Th
H1 (tên gi khác Mai), anh Tơng Văn L, chị Đoàn Thị L (tên gọi khác Ng) chị
Bùi Thị L phải trả lại Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Thế V, chị Nguyễn Thị
Mai H, anh Nguyễn Hữu Q anh Nguyễn Hữu T, quyền sử dụng đất diện tích
160m
2
th hiện trên sơ đồ, được gii hn bởi các điểm (1,2,3,3a,10,11,1); nằm
trong thửa đất 18, tờ bản đồ 147; địa chỉ tại: tổ 1, khu VS, phường MK, thị ĐT,
tỉnh Quảng Ninh; vị trí thửa đất: phía Đông giáp hộ ông Dưỡng, phía Tây phía
Nam giáp hộ bà X và các con bà X; phía Bắc giáp hộ bà Nghĩa và hộ bà T.
BuộcPhạm Thị X, anh Trương Văn Đ, anh Tơngn Đ1, ch Tơng Thị
H1 (tên gi khác Mai), anh Trương Văn L, chị Đoàn Thị L (tên gọi khác Ng) chị
Bùi ThL, phải tháo dỡ, di chuyển toàn bộ công trình xây dựng, cây trồng trên
quyền sử dụng đất diện tích đất 160m
2
nêu trên.
Phạm Thị X, anh Tơng n Đ, anh Tơng Văn Đ1, chTrương Th H1
(n gọi khác Mai), anh Tơng Văn L, anh Trương Việt Anh, anh Trương Tuấn
Anh, chị Trương Thị Thanh H, được tiếp tục sử dụng quyền sử đất diện tích 21m
2
th hiện trên đồ, được gii hn bởi các điểm (12,13,14,15 về 12); nằm trong
thửa đất 18, tbản đồ 147; địa chỉ tại: tổ 1, khu VS, phường MK, thị ĐT, tỉnh
Quảng Ninh (phần diện tích đất này bà Nguyễn Thị Kim T đã trả bà Phạm Thị X).
(toàn bộ kích thước quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thể hiện tại
sơ đồ kèm theo biên bản xác đnh li hin trng tài sn tranh chấp ngày 30/11/2021. Sơ
đồ nàyphần không tách rời của bản án)
[3] V chi phí t tng:
Bà Nguyn Th Kim T t nguyn chu chi phí xem xét, thẩm đnh tại ch ti Tòa án
cp sơ thm là 6.200.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm nghìn đồng), bà T đã np đ s
tin này.
Bà Nguyn Th Kim T phi hoàn tr cho Phạm Thị X 3.600.000 đồng (Ba
triệu, sáu trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ để xác đnh li
hin trng i sn tranh chp.
Kể từ ngày người được thi nh án có đơn u cầu thi hành án, người phải
thi hành án không trả đủ số tiền phải thi hành án u trên cho đến khi thi nh án
xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015, trừ trường hợp pháp lut có quy định khác.
[4] Ván phí:
Bà Nguyn ThKim T và bà Phạm Thị X, đu đưc miễn án phí dân s sơ thm.
18
Phạm Thị X, anh Trương Văn Đ, anh Trương Văn Đ1, anh Trương Văn
L chị Trương Thị H1, đều không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trả lại cho Nguyễn Thị Kim T số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) tạm ng án phí thẩm, đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0006565 ngày 06/9/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị ĐT, tỉnh Quảng
Ninh.
Trả lại cho Phạm Thị X số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí phúc thẩm, đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000601
ngày 18/5/2021 của Chi cục Thi hành án thị ĐT, tỉnh Quảng Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án n
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tnh Qung Ninh;
- TAND thị xã ĐT;
- Chi cục THADS thị xã ĐT;
- Lưu VP; HSVA.
19
20
21
Tải về
Bản án số 01/2022/DS-PT Bản án số 01/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất