Bản án số 01/2021/KDTM-ST ngày 02/02/2021 của TAND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng vay tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2021/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2021/KDTM-ST ngày 02/02/2021 của TAND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng vay tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đồng Xuân (TAND tỉnh Phú Yên)
Số hiệu: 01/2021/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/02/2021
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tín dụng giữa ngàn hàng Agribank huyện Đ và H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG XUÂN
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 01/2021/KDTM-ST
Ngày: 02/02/2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tiến
2. Ông Lê Kim Tám
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư Tòa án nhân dân
huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà:
Ông Bùi Văn Lâm Kiểm sát viên.
Vào ngày 02 tháng 02 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Yên
xét xử thẩm công khai
vụ án thụ số: 01/2020/TLST-KDTM ngày 13 tháng 7
năm 2020 về Tranh chấp hợp đồng vay tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 01/2020/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 12 năm 2020 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam
Chi nhánh huyện Đ.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Đức H Trưởng phòng Kế hoạch kinh doanh
của Agribank CN Đ.
Địa chỉ: 109 T, Kp. L, thị trấn I, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
B đơn: Anh Nguyễn Văn A Sinh năm: 1978, bà Đng Th B SN: 1948.
Địa chỉ: Thôn 3, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Cả hai vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai lời trình bày của đại diện nguyên đơn
anh Lê Đức H tại phiên tòa như sau:
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện
Đ và anh Nguyễn Văn A, Đặng Thị B kết ba hợp đồng tín dụng: Hợp
2
đồng tín dụng số 4604-LAV-201303138 ngày 12/11/2013, số tiền vay 20.000.000
đồng, lãi suất 12%/năm, ngày đến hạn 11/11/2016, lãi suất quá hạn bằng 150% so
với lãi suất trong hạn, mục đích vay đđầu trồng mía, mua bò; Hợp đồng tín
dụng số 4604-LAV-201303522 ngày 05/12/2013, số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi
suất 12%/năm, ngày đến hạn 05/01/2016, lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi
suất trong hạn, mục đích vay mua bò; Hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201502238
ngày 11/08/2015, số tiền vay 46.000.000 đồng, lãi suất 7%/năm, ngày đến hạn
10/8/2016, lãi suất quá hạn bằng 150% so với lãi suất trong hạn, mục đích vay chăn
nuôi bò; Các hợp đồng trên đều không đảm bảo bằng tài sản. Tuy nhiên, bên bị đơn
đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay đối với ba hợp đồng trên. Tính đến ngày
02/02/2021, phía bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền 173.462.850đ (Trong đó
số nợ gốc: 95.412.000đ, số nợ lãi: 78.050.850đ).
Do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn đã qhạn hơn 48
tháng. Ngân hàng đã tạo điều kiện, tìm nguồn cho hộ trả nợ hoặc tự bán tài sản để
trả nợ vay cho Ngân hàng nhưng anh Nguyễn Văn A, Đặng Thị B vẫn không
thực hiện. Ngày 15/6/2016 anh A, B đã viết giấy giao tài sản để ngân hàng phát
mãi thu hồi nợ vay. Ngân hàng đã tiến hành niêm phong thông báo bán tài sản.
Nhưng khi người đăng mua thì anh A gây khó khăn, không hợp tác, cản trở
Ngân hàng bán tài sản thu hồi nợ. Đến nay anh A, B vẫn không trả thêm bất kỳ
số tiền nào nên nguyên đơn yêu cầu Tòa buộc phía bị đơn anh A, B phải trả số
tiền nợ gốc, nợ lãi cùng các khoản lãi phát sinh theo ba hợp đồng tín dụng cho đến
khi trả hết nợ. Trường hợp phía bị đơn không thực hiện nghĩa vtrả nợ thì nguyên
đơn được quyền phát mãi hoặc quyền yêu cầu quan thẩm quyền phát mãi
tài sản bị đơn đã giao cho Ngân hàng gồm: Quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất tại thửa đất số 197, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh Phú
Yên, diện tích 400m
2
đất ở, 5436m
2
đất trồng cây hàng năm, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AG 672954, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sdụng đất tài
sản gắn liền với đất tại thửa đất số 131, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh
Phú Yên, diện tích 173m
2
đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG
672952, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền vi đất tại thửa
đất số 161, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 338m
2
đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672953, cấp ngày
04/8/2006; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 465, tờ bản
đồ 37 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 3491m
2
đất trồng cây hàng
năm khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672955, cấp ngày 04/8/2006
của bà Đặng Thị B để thu hồi nợ. Phía bị đơn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ
nếu sau khi phát mãi giá trị tài sản bảm đảm vẫn không đủ để thu hồi nợ.
* Tại các lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B
trình bày như sau: Mẹ anh Đặng Thị B ủy quyền cho anh kết ba hợp
đồng tín dụng với Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam Chi
nhánh huyện Đ, không nhớ số hợp đồng với số tiền gốc của ba hợp đồng vay
96.000.000đ, mục đích vay trồng mía, chăn nuôi bò. Tuy nhiên, anh và bà B làm ăn
thua lỗ nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Sau đó anh A và bà B đã giao tài sản là
nhà đất như đại diện nguyên đơn đã trình bày cho Ngân hàng Ngân hàng đã
niêm phong tài sản từ tháng 8/2016 đến nay, tuy nhiên vì Ngân hàng rao giá tài sản
thấp hơn giá trị trên thtrường nên anh và bà B không đồng ý. Nay Ngân hàng yêu
3
cầu trả số tiền 173.462.850đ anh B ý kiến như sau: Từ m 2021, mỗi
năm sẽ trả nợ từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ và đề nghị Ngân hàng không tính lãi
suất từ thời điểm Ngân hàng đã niêm phong tài sản. Đến cuối năm 2023 sau khi thu
hoạch keo xong sẽ trả hết nợ cho Ngân hàng.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên có ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị
án, Thẩm phán Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1
Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS; Điều 319, 342, 343, 344, 355, 721
BLDS năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Chi nhánh huyện Đ.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, anh
Nguyễn Văn A bà Đặng Thị B phải chịu tiền án phí KDTM-ST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông
thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Đ (Agribank CN Đ) đơn khởi kiện bị đơn
anh Nguyễn Văn A, Đặng Thị B trú tại thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS tvụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân nhân huyện Đ, tỉnh Phú Yên.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng kết giữa Agribank CN Đ
anh Nguyễn Văn A, Đặng Thị B được thực hiện hoàn toàn tự nguyện, mục đích
và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình
thức giao dịch đều tuân thủ đúng pháp luật nên hiệu lực thi hành. Hợp đồng
kết giữa hai bên với mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng
theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS; Điều 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn Agribank CN Đ yêu cầu anh Nguyễn Văn
A, Đặng Thị B hoàn trả cho Agribank CN Đ số tiền 173.462.850đ (Trong đó số
nợ gốc: 95.412.000đ, số nợ lãi: 78.050.850đ) theo ba Hợp đồng tín dụng số 4604-
LAV-201303138 ngày 12/11/2013, hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201303522
ngày 05/12/2013, hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201502238 ngày 11/08/2015
anh A, bà B đã kết với Agribank CN Đ lãi phát sinh tính từ ngày
03/02/2021 cho đến khi anh A, B trả nợ xong cho Agribank CN Đ theo lãi suất
thỏa thuận trong ba Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Hội đồng xét xử nhận thấy như
sau:
Giữa Agribank CN Đ anh Nguyễn Văn A, bà Đặng Thị B có ký kết 03 hợp
đồng tín dụng, lần lượt là Hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201303138 ngày
12/11/2013, hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201303522 ngày 05/12/2013, hợp
4
đồng tín dụng số 4604-LAV-201502238 ngày 11/08/2015 với số tiền vay
96.000.000đ. Qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp lời trình bày
của bị đơn thể hiện phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ba hợp
đồng tín dụng trên, Agribank CN Đ đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở để anh A, bà B
thanh toán nhưng anh A, B vẫn không thực hiện. Ngày 15/6/2016 anh A, B
đã đồng ý giao tài sản gồm: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 197, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 400m
2
đất ở, 5436m
2
đất trồng cây hàng năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG
672954, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 131, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 173m
2
đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672952, cấp ngày
04/8/2006; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 161, tờ bản
đồ 46 tại thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 338m
2
đất trồng lúa, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672953, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 465, tờ bản đồ 37 tại thôn 2, C,
huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 3491m
2
đất trồng cây hàng năm khác, giấy chứng
nhận quyền sdụng đất số AG 672955, cấp ngày 04/8/2006 của Đặng Thị B
cho Agribank CN Đ bán tài sản để thu hồi nợ nhưng trong quá trình rao bán thì bị
đơn anh A, bà B không đồng ý với giá mà Agribank CN Đ đưa ra nên đã gây khó
khăn, dẫn đến việc chưa bán được tài sản đã niêm phong. Từ thời điểm niêm phong
đến nay anh A, B không trả cho Ngân hàng bất kỳ khoản tiền nào. Tính đến
ngày 02/02/2021 anh A, B còn nAgribank CN Đ các khoản sau: Hợp đồng
tín dụng số 4604-LAV-201303138 ngày 12/11/2013 nợ gốc 20.000.000đ, nợ lãi
17.663.333đ; Hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201303522 ngày 05/12/2013 nợ
gốc 30.000.000đ, nợ lãi 35.460.000đ; Hợp đồng tín dụng số 4604-LAV-201502238
ngày 11/08/2015 nợ gốc 45.412.000đ, nợ lãi 24.927.517đ. Tổng cộng số tiền nợ
tính đến ngày 02/02/2021 của ba khoản vay 173.462.850đ (Trong đó tổng số n
gốc: 95.412.000đ, tổng số nợ lãi: 78.050.850đ). vây, nên chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Agribank CN Đ. Buộc bị đơn anh A, bà B phải trả cho
nguyên đơn số tiền 173.462.850đ (Trong đó tổng số nợ gốc: 95.412.000đ, tổng số
nợ lãi: 78.050.850đ) theo thỏa thuận tại ba hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Kể từ ngày 03/02/2021 cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn còn pA trả tiền lãi,
lãi phạt quá hạn trên số nợ gốc đã thỏa thuận tại ba hợp đồng tín dụng nêu trên.
Anh Nguyễn Văn A, Đặng Thị B có trách nhiệm giao các tài sản Quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 197, tờ bản đồ 46 tại
thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện ch 400m
2
đất ở, 5436m
2
đất trồng cây
hàng năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672954, cấp ngày 04/8/2006;
Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 131, tờ bản đồ 46 tại
thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 173m
2
đất trồng lúa, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AG 672952, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 161, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, C, huyện Đ,
tỉnh Phú Yên, diện tích 338m
2
đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AG 672953, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 465, tbản đồ 37 tại thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích
3491m
2
đất trồng cây hàng năm khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG
5
672955, cấp ngày 04/8/2006 của bà Đặng Thị B theo biên bản giao tài sản lập ngày
15/6/2016 giữa anh A, B Agribank CN Đ cho Agribank CN Đ phát mãi
tài sản để thu hồi nợ. Bị đơn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu sau khi
Agribank CN Đ bán tài sản mà giá trị tài sản vẫn không đủ để thu hồi nợ.
[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn A, Đặng thị B trách nhiệm trả nợ cho
nguyên đơn nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại thẩm tương ứng
(173.462.850đ x 5%) = 8.674.000 (Đã làm tròn số).
Hoàn lại cho nguyên đơn Agribank CN Đ số tiền 4.075.000đ đã nộp tạm
ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại 2005; Điều 2, Điều 91, Điều 95
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 319, 342,
343, 344, 355, 721 Bluật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc anh Nguyễn Văn A, bà Đặng Thị B trách nhiệm trả cho Agribank
CN Đ stiền 173.462.850 đồng (Một trăm bảy mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi
hai ngàn tám trăm năm mươi đồng, trong đó tổng số nợ gốc 95.412.000 đồng
(Chín mươi lăm triệu bốn trăm mười hai ngàn đồng), tổng số nợ lãi tính đến ngày
02/02/2021 78.050.850 đồng (Bảy mươi tám triệu không trăm năm mươi ngàn
tám trăm năm mươi đồng)).
Kể từ ngày 03/02/2021 cho đến khi trả xong nợ gốc, anh A, B còn phải
chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc, nợ lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất
tại ba hợp đồng tín dụng 4604-LAV-201303138 ngày 12/11/2013, hợp đồng tín
dụng số 4604-LAV-201303522 ngày 05/12/2013, hợp đồng tín dụng số 4604-
LAV-201502238 ngày 11/08/2015 hai bên đã kết cho đến khi thanh toán xong
tất cả các khoản nợ.
Trường hợp bị đơn anh A, B không thực hiện đầy đủ nghĩa vtrả nợ thì
nguyên đơn Agribank CN Đ được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự
huyện Đ phát mãi tài sản của bị đơn để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất tại thửa đất số 197, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, C, huyện Đ, tỉnh
Phú Yên, diện tích 400m
2
đất ở, 5436m
2
đất trồng cây hàng năm, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AG 672954, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất tại thửa đất số 131, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh
Phú Yên, diện tích 173m
2
đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG
672952, cấp ngày 04/8/2006; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 161, tờ bản đồ 46 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 338m
2
đất trồng lúa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672953, cấp ngày
04/8/2006; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 465, tờ bản
đồ 37 tại thôn 2, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 3491m
2
đất trồng cây hàng
6
năm khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 672955, cấp ngày 04/8/2006
của Đặng Thị B. Bị đơn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu sau khi phát
mãi giá trị tài sản vẫn không đủ để thu hồi nợ.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn A, Đặng Thị B phải chịu 8.674.000 (Tám
triệu sáu trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam chi
nhánh huyện Đ số tiền 4.075.000 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi lăm ngàn
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án
số AA/2015/0011400 ngày 14/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án
được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh PY;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
- VKSND huyện ĐX;
- Chi cục THADS huyện ĐX;
- Lưu HS vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trần Vĩnh Long
Tải về
Bản án số 01/2021/KDTM-ST Bản án số 01/2021/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất