Bản án số 01/2021/HNGĐ-ST ngày 01/03/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2021/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 01/2021/HNGĐ-ST ngày 01/03/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai) |
Số hiệu: | 01/2021/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 01/03/2021 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST
Ngày 01/03/2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
V/v: “Kiện ly hôn,
tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Trọng Bằng;
2. Ông Vũ Minh Huấn
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toản - Thư ký
Toà án nhân dân thị xã Sa Pa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thanh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 01/3/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sa Pa, Toà án nhân dân
thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ
lý số: 51/2020/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2020 về việc kiện “Ly hôn,
tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
01/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021 và quyết đinh hoãn
phiên tòa số 01/QĐST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Má Thị X - Sinh năm 1984
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã L, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Địa chỉ nơi ở: Thôn M, xã M, thị xã S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt
2. Bị đơn: Anh Hà Văn Đ - Sinh năm 1978
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn B, xã L, thị xã S, tỉnh Lào Cai
- Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Má Thị
X trình bày: Chị Má Thị X và anh Hà Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 03/3/2005 có
đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Lào Cai (nay là xã M, thị xã S, tỉnh
Lào Cai). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng đến năm 2018
thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng chị Má Thị X không chung
quan điểm sống, anh Đ không quan tâm tới gia đình, hay uống rượu rồi đuổi vợ
con ra khỏi nhà, chị Má Thị X và gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng không
2
được cải thiện. Khoảng đầu năm 2019, anh Đ đuổi chị X ra khỏi nhà, chị X phải
về nhà bố, mẹ ở M sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Đến nay
chị Má Thị X thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh Hà Văn Đ để chị yên tâm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ, chồng có 01 con chung là cháu
Hà Bích N sinh ngày 12/4/2006. Từ khi anh Đ đuổi chị X ra khỏi nhà cháu N vẫn
sống cùng bố và bà nội, chị Má Thị X vẫn gửi tiền cho cháu N ăn học. Khi ly
hôn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Má Thị X được nuôi cháu N đến khi
trưởng thành, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị
Má Thị X có nhà riêng tự dựng ở M, đi làm ruộng làm nương và đi làm thuê có
thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Chị Má Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Hà Văn Đ: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã tiến
hành tống đạt đầy đủ các giấy tờ tố tụng của Toà án cho anh Đ nhưng anh Đ
không có văn bản trả lời, cũng không đến toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai
chứng cứ và hòa giải. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tại phiên tòa: Quá
trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp
hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng
xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật
hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238
Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử cho chị Má Thị X được ly hôn anh
Hà Văn Đ; Về con chung giao cháu Hà Bích N cho chị Má Thị X trực tiếp trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Anh Hà
Văn Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị X. Tuyên án phí và
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Má Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết giải quyết “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với anh Hà
Văn Đ vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa
theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82,
Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Tại phiên tòa
chị Má Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hà Văn Đ vắng mặt lần thứ hai
không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện: Chị Má Thị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn Đ và giao cho chị được trực tiếp nuôi
dưỡng cháu Hà Bích N, anh Hà Văn Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con
chung.
3
[2.1] Về hôn nhân: Chị Má Thị X và anh Hà Văn Đ tự nguyện tìm hiểu yêu
thương và kết hôn với nhau ngày 03/3/2005 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T,
huyện S, tỉnh Lào Cai (nay là xã M, thị xã S, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn vợ
chồng chung sống hạnh phúc khoảng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân là do vợ chồng không chung quan điểm sống, anh Đ không quan tâm
tới gia đình, hay uống rượu rồi đuổi vợ con ra khỏi nhà. Khoảng đầu năm 2019,
anh Đ đuổi chị X ra khỏi nhà, chị X phải về nhà bố, mẹ ở M sinh sống, vợ chồng
đã sống ly thân từ đó đến nay. Tại đơn xin xác nhận ngày 17/11/2020 Ủy ban
nhân dân xã L đã xác nhận vợ chồng chị X, anh Đ có nhiều mâu thuẫn, sống ly
thân nhau từ đầu năm 2019, chị X không còn chung sống cùng anh Đ tại địa
phương nữa. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị X và anh Đ đã mâu thuẫn trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn
cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Má
Thị X đối với anh Hà Văn Đ.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con
chung là cháu Hà Bích N sinh ngày 12/4/2006. Khi ly hôn chị Má Thị X đề nghị
Tòa án giải quyết cho chị Má Thị X được trực tiếp nuôi cháu N đến tuổi trưởng
thành, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc giao nuôi
con thì chị X có nguyện vọng được nuôi cháu N, anh Đ không đến Tòa án cũng
không có văn ghi ý kiến của mình về việc ly hôn và nuôi con. Chị X có chỗ ở,
có thu nhập từ việc làm ruộng, nương và làm thuê khoảng 4-5 triệu đồng/tháng,
cháu Hà Bích N có nguyện vọng được ở cùng chị X. Vì vậy căn cứ điều 81 Luật
hôn nhân và gia đình giao cháu N cho chị X trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Hà Văn Đ không
phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị X.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Má Thị X không yêu cầu giải quyết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Má Thị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia
đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản
4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Má Thị X và anh Hà Văn Đ
2. Về con chung: Giao cháu Hà Bích N, sinh ngày 12/4/2006 cho chị Má
Thị X trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu N
đủ 18 tuổi. Anh Hà Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị X.
Anh Hà Văn Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung chị X không
được ngăn cản.
4
3. Về án phí: Chị Má Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác
nhận chị X đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số AC/2012/0000917 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân
sự thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, được trừ vào tiền án phí phải nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh; TX
- Các đương sự;
- THADS;
-UBND xã L, thị xã S, tỉnh
Lào Cai
- Lưu.
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm