Bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 24/09/2019 của TAND tỉnh Thừa Thiên Huế về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2019/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 24/09/2019 của TAND tỉnh Thừa Thiên Huế về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thừa Thiên Huế
Số hiệu: 01/2019/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2019
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần Thuận A nợ cho Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Khánh H theo hợp đồng Li xăng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Bản án số: 01/2019/KDTM-ST
Ngày: 24- 9 - 2019
V/v tranh chấp Hợp đồng Li xăng
CỘNG HÒA HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Đc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông La Minh Tường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đắc Hoan.
Ông Dương Quốc Tuấn.
- Thư phiên tòa: Lê Thị Loan, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà:
Ông Lê Phước Ngưỡng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế -
11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số:
07/2018/TLST-KDTM
ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sở
hữu trí tuệ về Hợp đồng Li-xăng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
118/2019/QĐXXST-KDTM ngày 23 tháng 7 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa
ngày 15/8/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu tư Khánh H.
Địa chỉ: phường Phường S, thành phố Nha T, tỉnh Khánh H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Duy H, chức vụ: Giám đốc Công ty.
Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Võ Công H. Địa chỉ: phường Vỹ D, thành phố H. Có mặt.
2. Ông Nguyễn ờng L, địa chỉ: khu đô thị Hồng P. thành phố Nha Trang,
tỉnh Khánh H. mặt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Thuận A.
Địa chỉ: thị trấn Thuận A, huyện Phú V, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Ngô Xuân H, chức vụ: Chủ tịch
Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Đinh Văn T Ông Đào Ngọc T, là Cán bộ pháp chế Công ty Thuận A.
2
Đều trú tại: quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng. Ông Đinh Văn T, mặt; Ông Đào
Ngọc T, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Ông Nguyễn Tiến T - Luật sư của Văn phòng Luật Thị Hồng T, thuộc
Đoàn Luật sư Đà Nẵng. Địa chỉ: phường Hoàng Cường N, quận Hải C, thành phố Đà
Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Công ty Cổ phần Đầu Thương mại Khánh H
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn trình bày: Công ty Cổ phần Đầu Thương mại Khánh H (sau
đây gọi tắt là Công ty Khánh H) và Công ty Cổ phần Thuận A (sau đây gọi tắt
Công ty Thuận A) kết với nhau Hợp đồng Li xăng phí bản quyền thương
hiệu vào ngày 01/01/2010. Nội dung hợp đồng thỏa thuận các vấn đề sau:
- Công ty Thuận A được quyền sử dụng thương hiệu ANA MANDARA Resort
trong thời hạn 20 năm.
- ng ty Thuận A trách nhiệm thanh toán cho Công ty Khánh H một khoản
phí bản quyền tương đương với 1% doanh thu bán phòng của Khách sạn trong từng
tháng.
Qua trình thực hiện hợp đồng: Công ty Khánh H đã hoàn thành việc chuyển giao
quyền sử dụng thương hiệu ANA MANDARA Resort cho Công ty Thuận A. Trong
thời gian chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu nói trên, ng ty Khánh H
Công ty Thuận A còn kết với nhau nhiều hợp đồng để phối hợp trong việc vận
hành Khu nghỉ mát ANA MANDARA Resort tại thị trấn Thuận A, huyện Phú V, tỉnh
Thừa Thiên Huế, cụ thể: Hợp đồng quản lý được ký kết vào ngày 01/9/2011, Phụ lục
Hợp đồng quản vào ngày 01/01/2013; Hợp đồng tư vấn s 017/HĐTV ngày
01/4/2010 cùng nhiều văn bản về việc gia hạn Hợp đồng quản lý.
Công ty Thuận A khai thác đưa vào sử dụng thương hiệu ANA MANDARA
nói trên, nhưng lại không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Khánh
H. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Khánh H đã nhiều lần gửi văn bản
yêu cầu hai bên gặp nhau để thống nhất lộ trình thanh toán nợ, tuy nhiên Công ty
Thuận A không phản hồi cố tình không thanh toán cho ng ty Khánh H số tiền
còn nợ. ng ty Khánh H Công ty Thuận A đã nhiều lần xác nhận công nợ thông
qua các biên bản đối chiếu công nợ như sau:
- Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Khánh H với Chi nhánh Công ty
Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort &Spa, ngày 10/01/2012
Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Khánh H với Công ty Cổ phần Thuận A
19/01/2012; Xác định nợ đến ngày 31/12/2011 là: 499.311.208 đồng (trong đó số nợ
của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort
&Spa 187.055.886 đồng, số nợ của Công ty Cổ phần Thuận A 312.255.322
đồng);
3
- Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Khánh H với Chi nhánh Công ty
Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort &Spa ngày 04/01/2013; Biên
bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Khánh H với Công ty Cổ phần Thuận A ký ngày
04/01/2013; Xác định nđến ngày 31/12/2012 là: 1.333.830.753 đồng (trong đó số
nợ Chi nhánh Công ty Cổ phần Thuận A - Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort
&Spa 1.021.575.431 đồng, số nợ của Công ty Cổ phần Thuận A 312.255.322
đồng);
- Biên bản đối chiếu công nợ giữa Công ty Khánh H với Chi nhánh Công ty
Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort &Spa, ký ngày 10/01/2014; Xác
định nợ đến ngày 31/12/2013 là:1.134.627.823 đồng;
- Thư xác nhận công nợ tháng 01/2015 của Công ty Khánh H gửi Công ty
Thuận A. Xác định nợ đến ngày 31/12/2014 là: 312.255.322 đồng (chỉ xác nhận công
nợ của Công ty Cổ phần Thuận A)
- Biên bản đối chiếu công nợ phí bản quyền thương hiệu giữa Chi nhánh Công
ty Cổ phần Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort & Spa Công ty
Khánh H, ngày 06/01/2016; Xác định nđến ngày 31/12/2015 là: 1.491.945.963
đồng;
- Thư xác nhận công nợ đến ngày 31/12/2017 của Chi nhánh Công ty Cổ phần
Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort & Spa, ký ngày 26/02/2018; Xác
định nợ đến ngày 31/12/2017 là:1.469.312.563 đồng;
- Biên bản đối chiếu ng nợ giữa Công ty Khánh H Công ty Thuận A,
ngày 08/10/2017; Xác định nợ đến ngày 08/10/2017 là: 1.781.567.885 đồng (trong đó
số nợ của Công ty Cổ phần Thuận A 312.255.322 đồng, số nợ của Chi nhánh Công
ty Cổ phần Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort & Spa
1.469.312.563 đồng);
- Biên bản đối chiếu ng nợ giữa Công ty Khánh H Công ty Thuận A,
ngày 31/5/2018. Xác định nợ đến ngày 31/5/2018 là:1.781.567.885 đồng (trong đó số
nợ của Công ty Cổ phần Thuận A là 312.255.322 đồng, số nợ của Chi nhánh Công ty
Cổ phần Thuận A- Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort & Spa 1.469.312.563
đồng);
Như vậy theo như các Biên bản đối chiếu công nợ Thư xác nhận công nợ nói
trên thì Công ty Thuận A còn nợ Công ty Khánh H số tiền 1.781.567.885 đồng
tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày vi phạm hợp đồng 30/5/2018 đến ngày 11/4/2019
100.255.000 đồng. Tại phiên tòa Công ty Khánh H bổ sung vthời gian tính lãi
kéo dài đến ngày xét xử thẩm hôm nay là 152.921.978 đồng lãi suất 6,5%/
năm.
Bị đơn - Công Thuận A trình bày: Công ty Thuận A Công ty Khánh H
Hợp đồng Li- xăng và phí bản quyền thương hiệu vào ngày 01/01/2010 về việc sử
dụng thương hiệu Ana Mandara Resort. Sau đó, hai bên còn các Hợp đồng khác
như Hợp đồng quản lý, Hợp đồng vấn để tạo tiền đề cho quá trình xây dựng Khu
nghỉ mát Ana Mandara Huế như trình bày của nguyên đơn là đúng.
4
Quá trình thực hiện hợp đồng hai bên cũng đã đối chiếu, gửi yêu cầu thanh toán
như các tài liệu Công ty Khánh H cung cấp. Tuy nhiên Công ty Thuận A nhận
thấy việc Công ty Khánh H khởi kiện yêu cầu Công ty Thuận A phải thanh toán số
tiền nợ: 1.781.567.885 đồng theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/10/2017
Hợp đồng Li- xăng phí bản quyền thương hiệu hai bên kết vào ngày
01/01/2010 chưa chính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty Thuận A. Cụ
thể: Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/10/2017 giữa Công ty Thuận A Công ty
Khánh H, đại diện Công ty Thuận A ký vào biên bản đối chiếu công nợ này là ông Lê
Anh Đ- Tổng Giám đốc Công ty Thuận A nhưng theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh thay đổi lần thứ 10, ngày 31/8/2016 thì người đại diện theo pháp luật của Công
ty Thuận A là bà Ngô Xuân H. Tại thời điểm xác nhận vào biên bản đối chiếu
công nợ, ông Đức không nhận ủy quyền của bà Hòa về việc thay mặt ký xác nhận
công nợ. Việc kết biên bản đối chiếu ng nợ đối với Công ty Khánh H vượt
quá thẩm quyền của ông Anh Đ nên Công ty Thuận A đề nghị Tòa án không chấp
nhận biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/10/2017 đồng thời không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu của Công ty Khánh H để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty
Thuận A.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu bổ sung
tiền lãi tính đến ngày xét xử thẩm hôm nay, các bên đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án
theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi thụ vụ án cho đến trước khi nghị án
Tòa án chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vấn đ
cần phải kiến nghị khắc phục.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cháp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ cùng lãi suất theo yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Khánh H đnghị Tòa án buộc Công ty
Thuận A thanh toán số tiền còn nợ là 1.781.567.885 đồng thì thấy rằng:
[1.1] Giữa Công ty Khánh H Công ty Thuận A kết với nhau 03 Hợp
đồng kinh tế gồm Hợp đồng Li xăng, Hợp đồng quản lý, Hợp đồng vấn cùng Phụ
lục Hợp đồng kèm theo Hợp đồng quản lý, cụ thể như sau:
- Hợp đồng Li xăng phí bản quyền thương hiệu ngày 01/01/2010 về việc
chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu Ana Mandara resort cho Công ty Thuận A
trong thời hạn 20 năm Công ty Thuận A sẽ thanh toán cho Công ty Khánh H vào
ngày 15 của mỗi tháng một khoản phí bản quyền tương đương với 1% của Doanh thu
bán phòng của Khách sạn của tháng ngay sau đó.
5
- Hợp đồng quản ký ngày 01/9/2011 về việc thỏa thuận Công ty Khánh H sẽ
đóng vai tCông ty quản quá trình xây dựng bộ máy nhân lực cũng như hoạt
động kinh doanh Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế, mọi chi phí quản của Công ty
Khánh H đều do Công ty Thuận A chi trả. Thời hạn hợp đồng tính từ ngày
01/10/2011 đến ngày 15/12/2011. Vào ngày 24/12/2011 ng ty Thuận A đã
Công văn số 85/CV-11 về việc đồng ý gia hạn hợp đồng quản đối với Công ty
Khánh H đến hết ngày 31/12/2012. Đồng thời vào ngày 01/01/2013 giữa hai bên
công ty đã tiến hành kết phụ lục Hợp đồng quản để điều chỉnh thời hạn hợp
đồng quản lý đến hết ngày 31/12/2013. Phí quản lý được tính 2% trên tổng doanh thu
khách sạn.
Trong thời gian thực hiện Hợp đồng quản lý, phía Công ty Khánh H đã thay
Công ty Thuận A chi trả chi phí quản lý cho nhân scủa Công ty Khánh H làm việc
theo hợp đồng quản lý đã ký kết tại Ana Mandara Huế resort.
- Hợp đồng vấn số 017/HĐTV ngày 01/4/2010 giữa Công ty Thuận A với
Công ty Khánh H, theo hợp đồng Công ty Khánh H sẽ trực tiếp vấn cho công tác
khai trương, đào tạo nghiệp vụ tại Khu nghỉ mát Ana Mandara Huế Resort trong thời
gian đầu đi vào hoạt động. Thời hạn thực hiện hợp đồng từ tháng 4/2010 đến
31/12/2010. Công ty Thuận A phải trả cho Công ty Khánh H chi phí tư vấn theo Hợp
đồng là 25.000 USD.
Xét thấy các giao dịch nêu trên giữa Công ty Khánh H Công ty Thuận A
hợp pháp, các bên tham gia đều tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mục
đích nội dung giao dịch không trái pháp luật nên đã phát sinh hiệu lực. Công ty
Khánh H đã thực hiện đúng, đầy đủ theo các nội dung thỏa thuận trong 03 hợp đồng
các bên kết. Công ty Khánh H Công ty Thuận A đã tiến hành lập các biên
bản đối chiếu xác nhận công nợ phát sinh từ việc thực hiện các hợp đồng nói trên.
Bên cạnh đó trong quá trình hoạt động kinh doanh, từ năm 2011 đến năm 2017 Công
ty Thuận A đều tiến hành kiểm toán kết quả kiểm toán hàng năm cũng đã gửi cho
Công ty Khánh H để Công ty Khánh H xác nhận về doanh thu.
[1.2] Về việc Công ty Thuận A cho rằng Biên bản đối chiếu công nợ lập ngày
08/10/2017 không có giá trị pháp lý với lý do người ký xác nhận vào Biên bản không
phải đại diện theo pháp luật của Công ty tại thời điểm ký kết. Hội đồng xét xử xét
thấy:
Theo các tài liệu trong hồ thhiện, giữa Công ty Thuận A Công ty
Khánh H đã tiến hành lập các Biên bản đối chiếu công nợ, Thư xác nhận công nợ
trong các năm từ 2011 đến 2018, trong các lần đối chiếu công nợ thì đều xác nhận
từ bộ phận kế toán của Công ty Thuận A, việc ông Anh Đ, Tổng Giám đốc Công
ty ký vào biên bản đối chiếu công nợ lp ngày 08/10/2017 cũng nhằm xác nhận số nợ
Công ty Thuận A còn nợ Công ty Khánh H số tiền 1.781.567.885 đồng theo báo
cáo tài chính Công ty Cổ phần Thuận A năm 2017 mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Kiểm toán và Kế toán AAG lập.
Hơn nữa theo báo cáo tài chính tính đến ngày 31/12/2017 thì Chủ tịch Hội đồng
quản trị là người đại diện theo pháp luật của Công ty Thuận A đã ủy quyền cho Tổng
6
Giám đốc Công ty phê duyệt Báo cáo tài chính. Như vậy, mặc dù việc ký kết của ông
Đ vượt quá thẩm quyền quy định nhưng từ khi Biên bản đối chiếu công nngày
08/10/2017 cho đến ngày ký Biên bản đối chiếu công nợ ngày 31/5/2018 cũng do ông
Đ thì người đại diện theo pháp luật của Công ty Thuận A đều không ý kiến ý
kiến phản đối gì. Điều này chứng minh trên thực tế Công ty Thuận A còn nợ Công ty
Khánh H với số tiền 1.781.567.885 đồng là có cơ sở.
Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Thuận A đã tiếp cận toàn bộ các tài liệu, hóa
đơn, chứng từ do Công ty Khánh H cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện,
nhưng Công ty Thuận A vẫn không ý kiến phản đối chỉ cho rằng do tình
hình kinh doanh khó khăn chưa xác định số tiền còn nợ, đồng thời đề nghị Tòa án
không công nhận Biên bản đối chiếu công nợ lập ngày 08/10/2017.
Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của Công ty Thuận A không căn cứ nên
không chấp nhận.
[2] Về yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán kể từ ngày 30/5/2018 đến ngày xét xử
sơ thẩm hôm nay là 152.921.978 đồng và lãi suất là 6,5%/ năm. Hội đồng xét xử thấy
rằng:
Phía Công ty Khánh H yêu cầu tính lãi từ ngày 30/5/2018 (tức ngày công ty
Khánh H yêu cầu thanh toán công ntheo ng văn số 26/CV-TMĐT) nhưng Công
ty Khánh H không chứng minh được Công ty Thuận A đã nhận được văn bản đề nghị
thanh toán này hay không và trong văn bản cũng không yêu cầu tính lãi. Hơn nữa đến
ngày 27/6/2018 Công ty Khánh H nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh
chấp về số tiền còn nợ, nhưng vẫn không yêu cầu thanh toán về tiền lãi.
Đến ngày 17/5/2019 Tòa án nhận đơn khởi kiện bổ sung của Công ty Khánh H,
yêu cầu Công ty Thuận A thanh toán tiền lãi trên số tiền chậm trả nợ. Do đó, cần xác
định thời điểm tính lãi chậm thanh toán từ ngày Tòa án nhận đơn khởi kiện bổ sung
của Công ty Khánh H là ngày 17/5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/9/2019 04
tháng 07 ngày đối với khoản nợ 1.781.567.885 đồng là phù hợp với quy định tại Điều
306 của Luật Thương mại năm 2005.
Về áp dụng mức lãi suất: Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm
2005 Án lệ số 09/2016/AL, là tiền lãi tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên
thị trường tại thời điểm thanh toán. Lãi suất nquá hạn trung bình tại thời điểm xét
xử thẩm đối với khách hành doanh nghiệp của 03 Ngân hàng Thương mại trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (15,75% + 15,6% + 15,75%): 3 X 150% = 23,55%/năm
(Lãi suất trong hạn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương
15,6%/năm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 15,75%/
năm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt
Nam là 15,75%/năm), trong khi đó phía nguyên đơn chỉ yêu cầu thanh toán theo mức
lãi suất 6,5%/năm. Như vậy lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 Ngân hàng cao
hơn mức lãi suất theo yêu cầu của phía nguyên đơn là có lợi hơn cho phía bị đơn nên
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi chậm trả
theo mức lãi suất do phía nguyên đơn yêu cầu là 6,5%/năm, tính ra 0,54%/tháng;
0,018%/ngày.
7
Cụ thể là: (1.781.567.885 x 0,54 % x 4tháng) + (1.781.567.885 x 0,018% x
7ngày) = 38.481.866 đồng + 2.244.775 đồng = 40.726.641 đồng, số tiền lãi còn lại
112.195.337 đồng (152.921.978 đồng - 40.726.641 đồng) không được chấp nhận.
Như vậy Công ty Thuận A phải thanh toán cho Công ty Khánh H khoản tiền gốc
1.781.567.885 đồng, tiền lãi 40.726.641 đồng. Tổng cộng hai khoản :
1.822.294.526 đồng.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Cổ phần Thuận A phải chịu án phí kinh doanh thương mại thẩm là:
1.822.294.526 đồng = 36.000.000 đồng + 3% phần giá trị vượt quá 800.000.000 đồng
tức 36.000.000 đồng + 30.668.835 đồng = 66. 668.835 đồng.
Công ty Cổ phần Thương mại Đầu Khánh H phải chịu án phí kinh doanh
thương mại tương ứng với số tiền lãi không được chấp nhận 112.195.337 đồng
(152.921.978 đồng - 40.726.641 đồng). Cụ thể: 112.195.337 đồng x 5% = 5.609.776
đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Áp dụng Điều 284; Điều 285; Điều 287; Điều 298; Điều 306; Điều 319 Luật
Thương mại năm 2015; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 4 Điều
26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số
09/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán a án nhân dân tối cao thông qua ngày
17/10/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Thương mại và Đầu
Khánh H.
Buộc Công ty Cổ phần Thuận A phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Thương
mại Đầu tư Khánh H số tiền gốc n1.781.567.885 đồng và tiền lãi 40.726.641
đồng. Tổng cộng: 1.822.294.526 đồng.
2. Bác một phần yêu cầu của Công ty Khánh H đối với khoản tiền lãi do chậm
thanh toán là 112.195.337 đồng (152.921.978 đồng - 40.726.641 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm cho đến khi thi hành án xong,
Công ty Cổ phần Thuận A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty Cổ phần Thuận A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là:
66. 668.835 đồng.
- ng ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Khánh H phải chịu án phí kinh doanh
thương mại thẩm 5.609.776 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án
phí đã nộp 32.723.000 đồng theo Biên lai thu số 003914 ngày 05/7/2018 tại Chi
8
cục Thi hành án Dân sự huyện Phú V số tiền 2.506.375 đồng theo Biên lai thu số
005518 ngày 20/5/2019 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế. Còn phải
trả lại cho Công ty Cổ phần Đầu Thương mại Khánh H số tiền 29.619.609
đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Các bên đương sự quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
La Minh Tường
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh TT-Huế;
- Cục THA tỉnh TT Huế;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa Dân sự.
Tải về
Bản án số 01/2019/KDTM-ST Bản án số 01/2019/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất