Quyết định số 32/2025/DS-TT ngày 13/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 32/2025/DS-TT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Quyết định số 32/2025/DS-TT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 32/2025/DS-TT
| Tên Quyết định: | Quyết định số 32/2025/DS-TT ngày 13/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Giám đốc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 32/2025/DS-TT |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 13/06/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp chia thừa kế tài sản và chia tài sản chung |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quyết định tái thẩm
Số: 32/2025/DS-TT
Ngày: 13/6/2025
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản,
chia tài sản chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Với Hội đồng xét xử tái thẩm gồm:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Long.
Các Thẩm phán: ông Lê Văn Thường và ông Đặng Kim Nhân.
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Nhị Tứ - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên
tòa tái thẩm xét xử vụ án dân sự:“Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản
chung”, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Phạm Ngọc Q, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: thôn C,
xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bị đơn: ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: thôn C, xã T,
thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Phạm Thị T1; địa chỉ cư trú:
Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949;
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1985;
- Ông Trần Văn Thanh C, sinh năm 1985;
- Cháu Trần Quốc K, sinh năm 2008;
- Cháu Trần Ngọc Như Ý, sinh năm 2015;
Người đại diện hợp pháp cho cháu K, cháu Ý: bà Phạm Thị N, ông Trần Văn
Thanh C.
2
Cùng địa chỉ cư trú: thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bà Đinh Thị B1, sinh năm 1988;
- Cháu Đinh Ngọc Tấn Đ, sinh năm 2018;
Người đại diện hợp pháp cho cháu Đ: ông Phạm Ngọc T, bà Đinh Thị B1.
- Cháu Đinh Ngọc Tấn P, sinh năm 2020;
Người đại diện hợp pháp cho cháu P: bà Đinh Thị B1;
Cùng địa chỉ cư trú: Thôn C, Xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Phạm Ngọc Q trình bày:
Cha mẹ ông là ông Phạm Ngọc B2 (sinh năm 1950, chết ngày 18/01/2016)
và bà Nguyễn Thị B có 03 người con chung gồm Phạm Ngọc Q, Phạm Ngọc T,
Phạm Thị N; cha mẹ ông không có con nuôi hay con riêng nào khác; ông bà nội
của ông đã chết. Quá trình chung sống cha mẹ ông tạo lập được thửa đất số 99, tờ
bản đồ số số 20, xã T, thành phố Q có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y
642239 đứng tên hộ ông Phạm Ngọc B2. Năm 2012, Nhà nước thu hồi diện tích
523m
2
đất thuộc thửa đất số 99 để làm đường, còn lại 767m
2
(đo thực tế là
734,6m
2
), trên mảnh vườn có căn nhà cấp 4 xây dựng từ năm 2008.
Năm 2016 cha ông chết và không để lại di chúc. Năm 2018, mẹ và các anh
em ông đã tiến hành phân chia đất nhưng khi các thành viên tiến hành làm thủ tục
tách thửa thì ông Phạm Ngọc T không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Vì vậy,
ông khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc B2 là ½ thửa đất số
99, tờ bản đồ số 20 có diện tích là 367,3m
2
và ½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ nhà tắm,
½ giếng đóng gắn liền với đất theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của ông
B2. Phần tài sản trên đất chia cho ai thì người đó được hưởng.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Ngọc T về việc chia ½ thửa
đất số 921 cùng tài sản gắn liền trên đất, tờ bản đồ số số 20, xã T, thành phố Q thì
ông yêu cầu chia thành 05 kỷ phần cho 04 người thừa kế, mỗi người 1/5 diện tích
đất và 1/5 giá trị tài sản trên đất. Toàn bộ kỷ phần ông được hưởng giao lại cho bà
B sử dụng, sỡ hữu.
Tại phiên tòa, ông Q rút một phần yêu cầu khởi kiện chia ½ giá trị căn nhà
cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng đóng gắn liền với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 20. Đồng
thời, đồng ý với việc ông T rút yêu cầu phản tố và đồng ý với nguyện vọng nhập
½ tài sản nhà đất tại thửa đất số 99 của bà B vào di sản thừa kế để chia thừa kế.
- Bị đơn ông Phạm Ngọc T trình bày: Thống nhất như lời trình bày của nguyên
đơn về hàng thừa kế. Quá trình chung sống cha mẹ ông chỉ tạo lập được nhà và
đất tại thửa đất số số 921 cùng tài sản gắn liền trên đất, tờ bản đồ số số 20, xã T,
thành phố Q có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 13222 đứng tên bà
Nguyễn Thị B. Vì vậy, ông có yêu cầu phản tố chia ½ thửa đất số 921, tờ bản đồ
số 20 là 174,65m
2
và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
3
và yêu cầu hưởng bằng giá trị; còn phần tài sản trên đất chia cho ai thì người đó
được hưởng.
Đối với nhà đất tại thửa đất số 99, tờ bản đồ số số 20, xã T, thành phố Q có
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 642239 đứng tên hộ ông Phạm Ngọc B2
là của ông bà nội ông chết để lại nên là tài sản riêng của ông B2. Đối với đất ông
có nguyên vọng chia làm 06 kỷ phần, ông hưởng 03 kỷ phần (kỷ phần theo pháp
luật, kỷ phần công sức nuôi dưỡng ông B2, kỷ phần tông tạo bảo quản di sản) và
yêu cầu được chia bằng hiện vật; cây cối trên đất chia cho ai thì người đó được
hưởng. Đối với nhà cấp 4 trên đất ông yêu cầu chi làm 05 ky phần, ông hưởng 02
kỷ phần (kỷ phần theo pháp luật và kỷ phần tu sửa nhà) và yêu cầu nhận nhà thối
trả giá trị cho các thừa kế khác.
Tại phiên tòa ông T rút toàn bộ yêu cầu phản tố chia ½ thửa đất số 921, tờ bản
đồ số 20 là 174,65m
2
và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất; ông đồng ý với nguyện
vọng nhập ½ tài sản nhà đất tại thửa đất số 99 của bà B vào di sản để chia thừa kế
và đồng ý với việc ông Q rút một phần yêu cầu khởi kiện chia ½ di sản thừa kế của
ông B2 là ½ nhà cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng trên thửa đất số 99.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà xác định nhà, đất tại thửa đất 99 là tài sản chung của bà với ông B2 và
yêu cầu được nhận ½ tài sản nhà đất của mình; còn ½ nhà đất của ông B2 bà xin
được chia bằng hiện vật cho 04 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Bà yêu cầu
được hưởng phần đất có căn nhà và thối trả giá trị cho các thừa kế. Phần tài sản
trên đất chia cho ai thì người đó được hưởng.
Bà có yêu cầu độc lập chia tài sản chung là ½ thửa đất số 99, tờ bản đồ số 2
là 367,3m
2
và ½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng đóng gắn liền với đất
cho bà. Tại phiên tòa bà tự nguyện nhập ½ tài sản chung là 367,3m
2
tại thửa đất số
99, tờ bản đồ số 20 vào di sản của ông B2 để chia thừa kế theo pháp luật cho các
đồng thừa kế và rút một phần yêu cầu độc lập chia ½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ nhà
tắm, ½ giếng đóng gắn liền với đất.
Đối với nhà, đất tại thửa đất 921 bà yêu cầu chia ½ nhà đất là di sản của ông
B2 thành 05 kỷ phần cho 04 người, trong đó bà hưởng 02 kỷ phần (kỷ phần theo
pháp luật và kỷ phần công sức tôn tạo, quản lý). Bà xin nhận nhà đất và thối trả giá
trị cho các thừa kế. Phần tài sản trên đất chia cho ai thì người đó được hưởng. Tại
phiên tòa ông T rút yêu cầu phản tố và ông Q rút một phần yêu cầu khởi kiện chia
½ di sản thừa kế của ông B2 là ½ nhà cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng trên thửa đất số
99 thì bà đồng ý.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N, cháu Trần Quốc K,
cháu Trần Ngọc Như Ý, do người đại diện hợp pháp bà Phạm Thị N trình bày:
Bà thống nhất, đồng ý với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn và yêu cầu độc lập
của bà Nguyễn Thị B. Đối với toàn bộ kỷ phần của bà được hưởng di sản thừa kế
của ông B2 tại thửa đất số 921 và tài sản trên đất bà N đồng ý cho lại cho bà B
được sử dụng và sở hữu. Còn kỷ phần diện tích đất bà được hưởng di sản thừa kế
của ông B2 tại thửa đất số 99, bà yêu cầu hưởng ký phần bằng hiện vật, còn kỷ
4
phần bà được hưởng di sản thừa kế của ông B2 gồm nhà và tài sản khác gắn liền
với thửa đất 99 thì bà yêu cầu hưởng bằng giá trị. Phần tài sản trên đất chia cho ai
thì người đó được hưởng.
Tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Ngọc T rút toàn bộ khởi kiện yêu cầu phản
tố, nguyên đơn ông Phạm Ngọc Q rút một phần khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế của ông B2; bà Nguyễn Thị B tự nguyện nhập ½ tài sản chung vào khối di sản
của ông B2 và rút một phần yêu cầu chia tài sản chung thì bà đồng ý.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thanh C vắng mặt
và không có văn bản ý kiến phản hồi.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị B1, cháu Đinh Ngọc Tấn
Đ, cháu Đinh Ngọc Tần P1, do người đại diện hợp pháp là bà Đinh Thị B1 trình
bày: Thống nhất như lới trình bày và yêu cầu của bị đơn ông Phạm Ngọc T.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 20/4/2021, Tòa án nhân
dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản Điều 39,
92, 147, 157, 158, 164, 163, 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228,
khoản 2 Điều 229, 244, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213, 219, 609,
610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều
167 Luật đất đai năm 2013; Điều 15, 16, 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959;
Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1/ Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Phạm Ngọc Q, ông Phạm Ngọc T, bà
Phạm Thị N, bà Nguyễn Thị B về chia di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc B2 là
diện tích thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 20, xã T, thành phố Q là 734,6m
2
cho
04 người thừa kế cụ thể như sau:
Ông Phạm Ngọc Q được hưởng diện tích 167m
2
trong đó có 100m
2
đất ở,
4,8m
2
đất quy hoạch đường, có giới cận: cạnh phía Đông dài 7,21m giáp đường
đi, cạnh phía Tây dài 7,14m giáp thửa đất số 98, cạnh phía Nam giáp với phần
diện tích đất của ông Phạm Ngọc T dài 23,21m, cạnh phía Bắc giáp với đường đất
dài 23,41m. Phần diện tích đất ông Phạm Ngọc Q được hưởng ký hiệu là A trong
sơ đồ phân chia thửa đất lập ngày 04/6/2019;
Ông Phạm Ngọc T được hưởng 300m
2
trong đó có 150m đất ở, 11m
2
đất quy
hoạch đường, có giới cận: cạnh phía Đông dài 13,23m giáp đường đi, cạnh phía
Tây dài 13,23m giáp thửa đất số 98, cạnh phía Nam giáp với phần diện tích đất
của bà Nguyễn Thị B dài 22,25m, cạnh phía Bắc giáp với phần diện tích đất của
ông Phạm Ngọc Q dài 23,21m. Phần diện tích đất ông Phạm Ngọc T được hưởng
ký hiệu là B trong sơ đồ phân chia thửa đất lập ngày 04/6/2019;
Bà Nguyễn Thị B được hưởng 110,4m
2
trong đó có 50m
2
đất ở, 4,9m
2
đất quy
hoạch đường, có giới cận: cạnh phía Đông dài 05m giáp đường đi, cạnh phía Tây
5
dài 05m giáp thửa đất số 98, cạnh phía Nam giáp với phần diện tích đất của bà
Phạm Thị N dài 21,96m, cạnh phía Bắc giáp với phần diện tích đất của ông Phạm
Ngọc Q dài 22,25m. Phần diện tích đất bà Nguyễn Thị B được hưởng ký hiệu là C
trong sơ đồ phân chia thửa đất lập ngày 04/6/2019.
Bà Phạm Thị N được hưởng 157,2m
2
trong đó có 100m
2
đất ở, 8,5m
2
đất
quy hoạch đường, có giới cận: cạnh phía Đông dài 7,85m giáp đường đi, cạnh
phía Tây dài 9,49m giáp thửa đất số 98 và thửa đất số 103, cạnh phía Nam giáp
với thửa đất số 103 dài 17,33m, cạnh phía Bắc giáp với phần diện tích đất của bà
Nguyễn Thị B dài 21,96m. Phần diện tích đất bà Phạm Thị N được hưởng ký hiệu
là D trong sơ đồ phân chia thửa đất lập ngày 04/6/2019.
Trên phần đất được chia cho người nào có cây cối, tài sản trên đất thì người
được nhận phần đất đó được hưởng tài sản đó.
(Phần đất của ông Phạm Ngọc Q, ông Phạm Ngọc T, bà Nguyễn Thị B, bà
Phạm Thị N được hưởng thừa kế thì được quyền quản lý, sử dụng có sơ đồ phân
chia thửa đất kèm theo và là bộ phận không thể tách rời của Bản án). Đương sự
có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh,
kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố Q thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số Y642239, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04283
QSDĐ/1095/QĐ-UB ngày 29/12/2003 đứng tên hộ ông Phạm Ngọc B2 do Ủy ban
nhân dân thành phố Q cấp để cấp lại cho những người hưởng di sản thừa kế quyền
sử dụng đất nêu trên khi bản án có hiệu lực pháp luật, hiện ông Phạm Ngọc T đang
giữ.
Đình chỉ xét xử đối với phần ông Phạm Ngọc Q rút khởi kiện yêu cầu chia
di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc B2, gồm tài sản gắn liền với thửa đất số 99, tờ
bản đồ số 20, xã T, thành phố Q là ½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ giá trị nhà tắm, ½
giá trị giếng đóng, tổng cộng là 25.121.580 đồng.
2/Đình chỉ xét xử đối với phần ông Phạm Ngọc T rút toàn bộ khởi kiện
174,63m
2
phản tố chia thừa kế di sản của ông Phạm Ngọc B2 gồm: diện tích đất
là 174,65m
2
và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 921, tờ bản đồ
số 20 (nay là thửa đất số 136, tờ bản đồ số 17), địa chỉ: xã T, thành phố Q, tỉnh
Quảng Ngãi.
3/Ghi nhận tự nguyện của bà Nguyễn Thị B đồng ý nhập ½ diện tích tài sản
chung thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 20 là diện tích 367,3m
2
của mình vào
khối di sản của ông Phạm Ngọc B2 để thỏa thuận chia di sản thừa kế tại thửa đất
số 99, tờ bản đồ số 20, diện tích 734,6m
2
, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Đình chỉ xét xử đối với phần bà Nguyễn Thị B rút một phần khởi kiện yêu
cầu độc lập chia tài sản chung tài sản gắn liền với thửa đất số 99, tờ bản đồ 20 là
½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ giá trị nhà tắm, ½ giá trị giếng đóng, tổng cộng là
25.121.580 đồng.
6
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác,
nghĩa vụ thi hành án và tuyên quyền kháng cáo.
- Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm số 48/QĐ-VKS-DS ngày 30/5/2025,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị Bản án dân
sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố
Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
tại Đà Nẵng xét xử tái thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự nêu trên, giao hồ sơ cho
Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi giải quyết lại.
- Tại phiên tòa tái thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận
Quyết định kháng nghị tái thẩm số 48/QĐ-VKS-DS ngày 30/5/2025 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn ông Phạm Ngọc Q khởi kiện yêu cầu chia theo pháp luật ½
di sản của ông Phạm Ngọc B2 là ½ thửa đất số 99, tờ bản đồ số 20, xã T, thành
phố Q, tỉnh Quảng Ngãi là 367,3m
2
và ½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng
đóng gắn liền với đất. Bị đơn ông Phạm Ngọc T có yêu cầu phản tố chia ½ thửa
đất số 921, tờ bản đồ số 20, tờ bản đồ số 20, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi
là 174,65m
2
và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị B có yêu cầu độc lập chia tài sản chung là ½ thửa đất số 99,
tờ bản đồ số 2, tờ bản đồ số 20, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi là 367,3m
2
và
½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng đóng gắn liền với đất.
[2] Nguyên đơn ông Q rút một phần yêu cầu khởi kiện chia ½ giá trị căn nhà
cấp 4, ½ nhà tắm, ½ giếng đóng gắn liền với thửa đất số 99, tờ bản đồ số 20; bị
đơn ông T rút toàn bộ yêu cầu phản tố chia ½ thửa đất số 921, tờ bản đồ số 20 là
174,65m
2
và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất; người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà rút một phần yêu cầu độc lập chia ½ giá trị căn nhà cấp 4, ½ nhà tắm, ½
giếng đóng gắn liền với đất và tự nguyện nhập ½ tài sản chung là 367,3m
2
tại thửa
đất số 99, tờ bản đồ số 20 vào di sản của ông Phạm Ngọc B2 để chia thừa kế cho
các đồng thừa kế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết các yêu cầu
nêu trên của ông Q, ông T, bà B là đúng quy định pháp luật tại Điều 244 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Q, ông T, bà B và bà N đã tự nguyện thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế là 734,6m
2
và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất
số 99, tờ bản đồ số 20 cho 04 người thừa kế cụ thể như sau: Ông Q được hưởng
diện tích 167m
2
trong đó có 100m
2
đất ở, 4,8m
2
đất quy hoạch đường; ông Phạm
Ngọc T được hưởng 300m
2
trong đó có 150m đất ở, 11m
2
đất quy hoạch đường;
bà Nguyễn Thị B được hưởng 110,4m
2
trong đó có 50m
2
đất ở, 4,9m
2
đất quy hoạch
đường; bà Phạm Thị N được hưởng 157,2m
2
trong đó, có 100m
2
đất ở, 8,5m
2
đất
quy hoạch đường. Phần diện tích đất ông Q, ông T, bà B và bà N được hưởng lần
lượt được hưởng ký hiệu là A, B, C, D trong sơ đồ phân chia thửa đất lập ngày
04/6/2019. Trên phần đất được chia cho người nào có cây cối, tài sản trên đất thì
7
người được nhận phần đất nào được hưởng tài sản đó. Thỏa thuận của các đương
sự là tự nguyện và không trái đạo đức xã hội nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận
sự thỏa thuận về việc phân chia di sản thừa kế nêu trên.
[4] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ ông Phạm Ngọc B2,
được cấp diện tích 1.290m
2
bao gồm (400m
2
đất ở và 890m
2
đất vườn) thuộc thửa
đất 99, tờ bản đồ số 20 tại thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Theo Báo
cáo số 09/BC-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Q thì
thửa đất số 99 là thửa đất số 55, diện tích 1.198,2m
2
, tờ bản đồ trích đo số 2 xã T,
bị thu hồi diện tích 466,2m
2
, diện tích còn lại ngoài quy hoạch là 732m
2
. Do thu
hồi đất vườn nên không được bố trí tái định cư. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác
định thửa đất số 99, diện tích đo đạt thực tế là 734,6m
2
có 400m
2
đất ở và 334,6m
2
đất vườn để ghi nhận sự tự nguyện phân chia di sản cho các đương sự.
[5] Tuy nhiên, theo Quyết định thu hồi số 4745/QĐ-UB ngày 14/12/2012
của Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (kèm danh sách các hộ gia đình có
đất bị thu hồi) và Biên bản kiểm kê đo đạc diện tích đất của hộ ông Phạm Ngọc B2
thì diện tích đất bị thu hồi là 466,2m
2
đất ở, như vậy diện tích đất ở theo Giấy
chứng nhận không còn, trong khi chưa thể hiện có làm thủ tục thay đổi loại đất,
nên Văn phòng Đ1 - Chi nhánh thành phố Q không thể cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các đương sự theo bản án sơ thẩm.
[6] Quyết định thu hồi số 4745/QĐ-UB ngày 14/12/2012 của Ủy ban nhân
dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi - kèm danh sách các hộ gia đình có đất bị thu hồi và
Biên bản kiểm kê đo đạc diện tích đất của hộ ông Phạm Ngọc B2 bị thu hồi, diện
tích 466,2m
2
đất ở là tình tiết mới được phát hiện sau khi đã có bản án sơ thẩm có
thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án sơ thẩm.
[7]. Do đó, Hội đồng xét xử tái thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị tái
thẩm số 48/QĐ-VKS-DS ngày 30/5/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày
20/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi; giao hồ sơ vụ án cho Tòa
án nhân dân thành phố Quảng Ngãi để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 48/QĐ-VKS-DS ngày 30-
5-2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ
Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2021/DS-ST ngày 20-4-2021 của Tòa án nhân dân
thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, về việc“Tranh chấp về thừa kế tài sản,
chia tài sản chung”, giữa nguyên đơn là ông Phạm Ngọc Q với bị đơn là ông Phạm
Ngọc T.
2. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
3. Quyết định tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

8
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT II-Tòa án nhân dân tối cao;
- Phó CA Phụ trách TANDCC tại Đà Nẵng;
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân TP Q;
- Chi cục THADS TP Q;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu: Phòng HCTP; Phòng GĐKT về
DS-KDTM-LĐ và HSVA.
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tấn Long
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
2
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
3
Ban hành: 22/01/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
4
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
5
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
6
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
7
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Giám đốc thẩm