Quyết định số 05/2021/QĐST- ngày 19/01/2021 của TAND tỉnh Nghệ An

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Quyết định 05/2021/QĐST-

Tên Quyết định: Quyết định số 05/2021/QĐST- ngày 19/01/2021 của TAND tỉnh Nghệ An
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Nghệ An
Số hiệu: 05/2021/QĐST-
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 19/01/2021
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quê Thị Th và Ủy ban nhân dân V, tỉnh Nghệ An
Tóm tắt Quyết định

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOµ ¸N NH¢N D¢N
TØNH NGHÖ AN
: 05/2021/ST- HC
céNG HOµ X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT N
§éc lËp- Tù do - H¹nh Phóc
Nghệ An, ngµy 19 th¸ng 01 n¨m 2021
quyÕt ®Þnh
®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n Hµnh chÝnh
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Th , ông Nguyễn Văn L
Xét thấy: Ông Đinh Cao H Phan Thị Thanh V anh trai chdâu
của ông Đinh Trung T . Ngày 08/01/1994, bà Quế Thị Th ông Đinh Trung T kết
hôn. Năm 1995, ông Đinh Trung T Quế Thị Th được UBND huyện C cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1420.7, tờ bản đồ số 9, tại
xóm 7, Nghĩa Thuận, huyện Nghĩa Đàn (nay thị Thái Hòa), tỉnh Nghệ An,
diện tích 500m
2
, trong đó đất 300m
2
, đất vườn 200m
2
. Ngày 26/12/2003, ông T
viết đơn xin chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đinh Cao H Phan Thị Thanh
V một phần diện tích thửa đất số 1420.7. Ông T đã được UBND Nghĩa Thuận
hướng dẫn làm thủ tục chuyển nhượng đất. Ngày 08/6/2004, hai bên lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND Nghĩa Thuận xác nhận được
cán bộ địa chính xã, đại diện xóm cùng hai bên tiến hành đo vẽ, giao đất ngoài thực
địa, tả ranh giới. Ngày 23/7/2004, hai gia đình cùng được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất sát số nhau. Vợ chồng ông H, V được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số Y 711834, diện tích 243m
2
(BL239), vợ chồng ông T bà
Th được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y711835, diện tích 255m
2
(BL403).
Cùng năm 2004, vợ chồng ông H, bà V làm nhà năm 2008 đến ổn định
cho đến nay. Gia đình bà Th vẫn trên phần diện tích đất còn lại, liền kề với gia
đình ông H, V. Sau khi chuyển nhượng cho ông H, V, gia đình ông T, Th
nộp thuế sử dụng đất đối với diện tích 255m
2
còn lại (BL 392).
Năm 2007, đoàn đo đạc đã đo cả phần hành lang đường điện và hành lang
ATGT đường Quốc lộ 48 nên phần đất của ông T Th thửa 136, tờ bản đồ số
28, diện tích 1.004m
2
, còn phần đất của vợ chồng ông H, V thửa 127, tbản
đồ số 28, diện tích 712m
2
.
Đối với phần đất của ông T, Th thửa 136, tờ bản đồ s28, diện tích
1.004m
2
, sau khi trừ hành lang đường điện và hành lang ATGT đường QL48
637m
2
thì thửa đất của ông T, Th 367m
2
, so với diện tích được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 tăng 112m
2
.
2
Năm 2011, 2012, ông T, Th làm hồ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã được UBND thC cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BK 367440 ngày 08/10/2012 đối với thửa đất 136, tờ bản đồ số 28, diện tích 367m
2
(BL404). Hồ do Th làm nộp (BL 383). Trong hồ cấp đổi do Th nộp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y711835 của Th, ông T được UBND
huyện C cấp ngày 23/7/2004, diện tích 255m
2
(BL 403), trích sao trang sổ địa
chính tờ bản đồ số 28, xã Nghĩa Thuận (BL 399, 400) thể hiện thửa đất số 136 là
của ông T, thửa đất số 127 của ông H, hai thửa đất tiếp giáp nhau trong Giấy
giải trình phần diện tích chênh lệch giữa kết quả đo đạc hiện trạng với diện tích ghi
trong giấy tờ của gia đình lâu nay đang sử dụng và Đơn đề nghị đăng biến động
về quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở, Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ngày 20/11/2011 của ông Đinh Trung
T Quế Thị Th (BL 376, 388, 389), Quế Thị Th người viết đơn khai:
trước khi biến động thì thửa đất số 1420.7, tờ bản đồ số 9, diện tích 255m
2
; sau khi
biến động thì thửa đất số 136, tờ bản đồ 28, diện tích 367m
2
; do biến động: Đo
tăng diện tích 112m
2
so với Giấy chứng nhận quyền sdụng đất; tại Đơn đề nghị
cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất ngày 20/11/2011 Th đề nghị cấp Giấy
đối với thửa đất số 1420.7, tờ bản đồ số 09 (cũ), mới thửa số 136, tờ bản đồ số
28, diện tích 367m
2
(BL 387); tại bản trích sao trang sổ địa chính (BL 377) thể hiện
thửa đất số 1420.7, diện tích 500m
2
đã được chuyển nhượng 243m
2
. Do ông T
Đinh Trung T mà sổ mục kê lại ghi Đinh Văn T nên bà Th đã làm đơn giải trình về
việc sai tên lót của ông T (BL 380). Điều này chứng tỏ bà Th thừa nhận diện tích
đất của vợ chồng bà trước năm 2011 chỉ có 255m
2
, sau biến động 367m
2
.
Mặt khác, tại Biên bản ghi lời khai ngày 06/3/2019 của quan Cảnh sát
Điều tra Công an thị C (BL192), bà Th thừa nhận bà biết việc ông T làm thủ tục
chuyển nhượng cho ông H, V phần diện tích ông H bà V đang vào năm 2004
nH không trình báo cơ quan nào vì sợ ông T đe dọa, đánh đập.
Như vậy, mặc theo Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công
an tỉnh Nghệ An thì chữ trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 08/6/2004 không phải chữ của Quế Thị Th (BL 214) nH Th đã biết
việc chuyển nhượng đất cho ông H, V năm 2004. Sau khi chuyển nhượng cho
ông H, V, thửa đất ông T Th được UBND huyện Nghĩa Đàn cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 1995 được tách thành hai thửa, Th ông T đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đối với phần đất còn lại, gia đình
Th chỉ nộp thuế đối với phần diện tích đất này. Phần đất chuyển nhượng cho ông
H, V, ông H V đã làm nhà , liền kề với nhà Th. Do đó, Th buộc phải
biết ông H V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất
gia đình ông H bà V đang sử dụng.
Ngoài ra, sau khi được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày
14/4/2015, ông Đinh Trung T Quế Thị Th còn chuyển nhượng cho ông
3
Hoàng Quốc V bà Nguyễn Thị Minh Th diện tích 113,2m
2
trong số diện tích của
thửa đất 136, tbản đồ 28 (BL 278, 279). Cùng ngày 25/5/2015, ông T, Th
ông V, Th được UBND thị C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sát số
nhau. Ông T, Th được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 268766
đối với diện tích 253,8m
2
tại thửa đất số 136, tờ bản đồ số 28; ông V, bà Th được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 268767 đối với thửa đất số 187, tờ
bản đồ số 28, diện tích 113,2m
2
(BL 282, 348). Sau khi chuyển nhượng cho ông V
Th thì ông T bà Th đã dùng quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BV268766 ngày 25/5/2015 nêu trên thế chấp để vay vốn tại
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Nghệ An – Phòng giao dịch thị
xã Thái Hòa hai lần vào ngày 22/4/2016 và ngày 21/4/2017 (BL 171-182, 348). Tại
các Hợp đồng tín dụng thể hiện Th người trực tiếp vay vốn, hợp đồng thế
chấp đơn yêu cầu đăng ký thế chấp (BL 479-495) chứng tỏ bà Th thừa nhận diện
tích đất của vợ chồng trước tháng 4/2015 367m
2
, sau khi chuyển nhượng cho
ông V, bà Th là 253,8m
2
.
Tháng 8/2018, vợ chồng ông T Th ly hôn. Tháng 9/2018, Th ông T tự
phân chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn (BL55) cũng thể hiện trong thời kỳ
hôn nhân, ông T, bà Th chỉ khối tài sản chung thửa đất và tài sản gắn liền với
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV268766 ngày 25/5/2015 đối với
thửa 136, tờ bản đồ số 28, diện tích 253,8m
2
. Tháng 10/2018, Th biên tả
ranh giới, mốc giới thửa đất của Th ông T, trong đó một mặt tiếp giáp đất ông H
Phan Thị Thanh V người giáp ranh (BL261). Cùng ngày Th Biên
bản kiểm tra hiện trạng thửa đất (BL260).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/11/2020 (BL 498-499) tại phiên tòa,
Quế Thị Th đều thừa nhận chữ trong hồ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất năm 2012, trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V,
Th năm 2015 và chữ trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn
ngân hàng là chữ ký của Th.
Tcác phân tích trên sở xác định, bà Th biết buộc phải biết UBND
huyện C (nay thị Thái Hòa) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Đinh Cao H và Phan Thị Thanh V đối với thửa đất 1420.7, tờ bản đồ số 9, diện
tích 243m
2
tại xóm 7A, xã Nghĩa Thuận, huyện Nghĩa Đàn trước năm 2012.
Đến ngày 30/7/2019, bà Quế Thị Th nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính (lần
đầu) yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của UBND huyện C (nay UBND thị Thái Hòa) cấp cho ông Đinh Cao H
Phan Thị Thanh V đã hết thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2
Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Căn c điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 Điều 165 của Luật tố tụng
hành chính;
4
QUYẾT ĐỊNH
1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ số 15/2020/TLST-HC ngày
14/01/2020 về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa:
- Người khởi kiện: Quế Thị Th, sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm 7A,
Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An;
Người đại diện theo ủy quyền của Th: Ông Hồ Văn N, sinh năm 1987;
địa chỉ: Khối Tân Liên, phường Hòa Hiếu, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Quế Thị Th: Ông Nguyễn
Trọng Đ và Phan Thị Ng Luật văn phòng luật V cộng sự - Đoàn
Luật sư tỉnh Nghệ An;
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân V, tỉnh Nghệ An
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Thanh Ph Chức vụ: Phó Chủ tịch
UBND V, tỉnh Nghệ An
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Nghệ An
- Ông Đinh Trung T, sinh năm 1970;
- Ông Đinh Cao H, sinh năm 1963 và
- Bà Phan Thị Thanh V, sinh năm 1967;
Cùng địa chỉ: Xóm 7A, xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đinh Cao H bà Phan Thị
Thanh V: Thị Thu H Luật Văn phòng Luật V - Đoàn Luật sư tỉnh
Nghệ An;
- Ông Nguyễn Hữu Q , sinh năm 1963
- Bà Nguyễn Thị Th , sinh năm 1965;
Cùng địa chỉ: Xóm Đông Hồng, xã Đông Hiếu, thị xã Thái Hòa, Nghệ An;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu Quang, Nguyễn Thị
Th : Trịnh Thị Hoài Th , sinh năm 1994; địa chỉ: Số 9A, đường Nguyễn Trãi,
thành phố Vinh, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hữu Q
Nguyễn Thị Th : Ông Nguyễn Vinh D Luật sư Văn phòng Luật Vinh Diện và
cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An;
2. Hậu quả của việc đình chgiải quyết vụ án: Đương sự không quyền
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó nếu việc khởi kiện không
khác với vụ án đã bị đình chỉ vngười khởi kiện, người bị kiện quan hpháp
luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c, và
e khoản 1 điều 123 điểm b, đ khoản 1 điều 143 Luật tố tụng hành chính
trường hợp khác theo quy định pháp luật.
5
Trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu yêu cầu.
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án,
hoàn trả cho bà Quế Thị Th 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hành chính thẩm
đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003166 ngày 07/01/2020
của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.
4. Các đương sự quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy
định của Luật tố tụng Hành chính./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
N¬i nhËn:
- C¸c ®-¬ng s
- VKSND tØnh NghÖ An.
- Cục thi hành án dân sự tỉnh N.A
- L-u hồ sơ vụ án. Nguyễn Thị Thu T
Tải về
Quyết định số 05/2021/QĐST- Quyết định số 05/2021/QĐST-

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Quyết định cùng lĩnh vực

Quyết định mới nhất