Bản án số 85/DSPT ngày 15/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 85/DSPT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • Bản án số 85/DSPT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 85/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 85/DSPT ngày 15/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 85/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 85/2026/DS-PT
Ngày 15/01/2026
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Nguyễn Khắc Vương
Các Thẩm phán: Ông Trần Đức Nam.
Ông Đào Hồng Cảnh.
Thư Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Cán bộ
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch
Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 tng 12 năm 2025 ny 15 tng 01 năm 2026 tại png
x án của Tòa án nhânn Tnh phố H C Minh xét xử pc thm công khai v
án th s: 1175/2025/DSPT ngày 13 tháng 11 năm 2025 v việc: Tranh chấp hợp
đồng đặt cọc”.
Do bản án n sự thẩm số 168/2025/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7247/2025/-PT ngày 03 tháng
12 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 23237/2025/QĐ-PT ngày 24
tháng 12 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Dương Thị O. Sinh năm 1955 Vắng mặt.
Ông Đào Duy V. Sinh năm 1955 – Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: 47A Đội Cung, Phường 11, Quận M, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Đào Thị Quỳnh H, sinh năm: 1986. (theo văn bản ủy quyền ngày
28/3/2024) - Có mặt.
- Ông Bùi Đăng K, sinh năm: 1984 (theo văn bản ủy quyền ngày
15/11/2024) - Có mặt.
Cùng địa chỉ: A1-11-03 C/c City Gate Towers 15 Văn Kiệt, Phường
16, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Triều T, sinh năm: 1978 Vắng mặt.
2
Địa chỉ: s1 đường số 1 KDC Vĩnh Lộc, phường B Hưng Hoà B, quận B
T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B T, Thành phố Hồ Chí Minh);
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Phạm Ứng Thanh B, sinh năm:
1985- Có mặt.
Địa chỉ: A1a.4.22 khu phố 4, phường An Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
(theo văn bản ủy quyền 29/12/2025).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm:1996. Địa chỉ: số 16D hẻm C12,
Phường 13, quận Tân B, Thành ph Hồ Chí Minh (nay phường Tân B,
Thành phố Hồ Chí Minh) - Vắng mặt.
- Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981. Địa chỉ: số 205 đường số 8, phường
B Hưng Hòa B, quận B T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B T, Thành
phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
- Huỳnh Kim P, sinh năm 1988. Địa chỉ: số 129/11 Đình Cẩn,
phường Tân Tạo, quận B T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường Tân Tạo,
Thành phố Hồ Chí Minh) Vắng mặt
4. Người kháng cáo:Nguyễn Thị Triều T.
NHẬN THẤY:
- Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa hôm nay người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/09/2023, ông Đào Duy V, bà Dương Thị O Nguyễn Thị
Triều T thỏa thuận hợp đồng đặt cọc để mua bán tài sản tại địa chỉ số 221
Lê Tấn Bê, phường A, quận B T với giá 52 tỷ đồng.
Theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, hai bên thỏa thuận đặt
cọc với số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn tiến hành ng chứng 90 ngày
kể từ ngày ký hợp đồng (tức là ngày 25/09/2023 đến ngày 25/12/2023). Bà T đã
chuyển số tiền 400.000.000 đồng tiền đặt cọc như đã thỏa thuận. (Hợp đồng đặt
cọc ký ngày 25/09/2023 nhưng do ghi nhầm ngày nên ghi thành 25/09/2024).
Sau khi các bên tiến nh đặt cọc, T cho rằng 2 Giấy chứng nhận
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sY 361816, vào scấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 1045 QSDĐ do UBND quận B T cấp ngày 17/12/2003 và
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số: CI 215786, svào sổ cấp GCN: CH 11974 do UBND quận B T cấp
ngày 03/08/2017 không tiến hành công chứng được nên sau khi cọc đã yêu cầu
ông V O ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T2, Huỳnh Nguyễn Hoàng T1,
Huỳnh Kim P (là người quen của bà T) để làm thủ tục, ông V O không h
biết nộp sổ để làm thtục do không hiểu biết pháp luật. Lúc đó, T nói
đưa sổ cho bên th3 làm ủy quyền đbên thứ 3 làm giấy tờ Ủy ban quận
nên đã làm theo hướng dẫn của T chứ không biết mục đích để làm (có
nội dung file ghi âm đính kèm).
Sau khi T đặt cọc thêm 1.600.000.000 đồng (ngày 24/12/2023 chuyển
600.000.000 đồng; ngày 25/12/2023 chuyển 600.000.000 đồng; ngày
04/01/2024 chuyển 400.000.000 đồng) thì vào ngày 10/01/2024, T xin gia
hạn thời gian đặt cọc thêm 3 tháng nữa nhưng các bên đã không đạt được tho
3
thuận bà T xin thời gian quá lâu (có tin nhắn camera thể hiện việc ông
Đinh Văn Hài, tên thường gọi Hùng xác nhận hỗ trợ pháp lý, làm sổ cho
T).
Tính đến ngày 04/01/2024, T đã đặt cọc tổng cộng số tiền
2.000.000.000(hai tỷ) đồng. Sau thời gian trên, bà T không tiến hành thủ tục
công chứng mua bán tài sản và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Ngày 15/1/2024,
nguyên đơn đã gửi thông báo qua đường bưu điện cho T để yêu cầu tiến
hành th tục công chứng mua bán tài sản trên thanh toán s tiền còn lại
nhưng bà T vẫn không thực hiện. Nay nguyên đơn yêu cầu tòa án tuyên hủy hợp
đồng đặt cọc ngày 25/9/2023 (ghi nhầm ngày thành 25/9/2024) giữa
Dương Thị O, ông Đào Duy V bà Nguyễn Thị Triều T; Buộc bà Nguyễn Thị
Triều T phải chịu mất tiền cọc là 2.000.000.000 đồng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ngày 25/9/2023, T cùng ông Đào Duy V, Dương Thị O hợp
đồng đặt cọc mua bán nhà quyền sdụng đất địa chỉ s221 đường
Tấn Bê, phường An Lạc, quận B T, TP. Hồ Chí Minh theo hai Giấy chứng
nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: Y 361816, số vào sổ cấp GCN
QSDĐ: 1045QSDĐ/phường An Lạc do UBND quận B T cấp ngày 17/12/2003
diện tích 1508m
2
đất trồng cây hàng năm và Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 215786, số
vào sổ cấp GCN: CH 11974 do UBND quận B T cấp ngày 03/08/2017 diện
tích đất 553m
2
- trong đó căn nhà cấp 4, diện tích xây dựng là 85m
2
. Giá
mua bán, chuyển nhượng hai sổ đất trên là 52.000.000.000 đồng.
Sau khi hợp đồng trên, T đã đặt cọc tổng stiền 2.000.000.000
đồng. Thời hạn công chứng sang tên là 90 ngày kể từ ngày đặt cọc.
Sau ngày ký hợp đồng đặt cọc, bà O và ông V cung cấp cho T:
+ Bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 361816 đã được
cập nhật lại diện tích là 1437,4 m
2
ngày 26/9/2023. Do phần cập nhật tại trang 4
của Giấy chứng nhận này không còn đủ khoảng trống để cập nhật tên T sau
khi chuyển nhượng nên sổ này cần phải đổi lại sổ mới.
+ Bản photo Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 215786 được cập
nhật thay đổi diện tích ngày 27/9/2023. Tuy nhiên, Phần diện tích cập nhật của
Giấy chứng nhận không chính xác (553m
2
- 85,4m
2
= 467,6m
2
) nhưng phần cập
nhật lại ghi nhận là: 550,3m
2
. Do diện tích cập nhật không đúng cần phải cập
nhật lại diện tích.
Lý do không thtiến hành công chứng theo thoả thuận trong hợp đồng đặt
cọc do O ông V chưa hoàn thiện hđể công chứng, cụ thể Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số: Y 361816, số vào sổ cấp GCN QSDĐ:
1045QSDĐ/phường An Lạc do UBND quận B T cấp ngày 17/12/2003 là sổ cũ,
không toạ độ, trên sổ hết trang cập nhật, không phù hợp công chứng mua
bán đăng bộ sang tên, cần đo vẽ lại và đổi sổ mới Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 215786, số
vào số cấp GCN: CH 11974 do UBND quận B T cấp ngày 03/08/2017 chưa
hoàn thiện việc điều chỉnh diện tích còn lại sau khi nhà nước thu hồi đất.
4
Nhận thấy, việc hai bên không thực hiện được thủ tục công chứng sang tên
nhà đất theo thỏa thuận tại Hợp đồng đặt cọc trên là do lỗi của ông V, bà O, bởi
đến ngày ng chứng là ngày 25/12/2023, ông V, O chưa thực hiện xong
việc cập nhật, đổi sổ nên không th hợp đồng chuyển nhượng tại phòng
Công chứng như thỏa thuận được. Ông V, O đã vi phạm thời hạn được thỏa
thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 25/9/2023 nên ông V, O phải chịu trách
nhiệm trả lại tiền cọc bồi thường stiền tương đương stiền nhận cọc của
T.
Ngày 14/01/2025, bà T nộp đơn yêu cầu phản tố: yêu cầu ông V, bà O phải
trả lại tiền cọc là 2.000.000.000 đồng tiền phạt cọc 2.000.000.000 đồng.
Tổng cộng là 4.000.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Ngày 06/10/2023, Dương Thị O và ông Đào Duy V ủy quyền cho bà
Thủy, bà Huỳnh Nguyễn Hoàng Trang, Huỳnh Kim Phụng đtiến hành nộp
hồ cấp đổi sổ chuyển mục đích, bà O ông V đưa cho Thủy,
Trang, bà Phụng 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y361816 sCI
215786. Tuy nhiên, sau đó T2, T1, P\đã trả lại Giấy chứng nhận sCI
215786 cấp ngày 03/8/2017, sổ cấp GCN CH 11974 cho bà O và ông V.
Đối với Giấy chứng nhận n lại, T2, bà T1, P đã làm đơn xin rút
cho bà O và ông V tự đi lấy.
Nay tranh chấp giữa O, ông V Nguyễn Thị Triều T, T2
không liên quan không ý kiến vì chỉ được bà T giới thiệu để đi làm
thủ tục cho O, ông V. Bà Thủy, bà Trang, Phụng không lấy bất cứ thù lao
nào không biết tranh chấp giữa bà O ông V T chnhận lời T đi
nộp thủ tục giấy tờ, vì vậy yêu cầu Tòa án không đưa bà vào tham gia tố tụng.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Nguyễn Hoàng T1
trình bày:
Ngày 06/10/2023, Dương Thị O và ông Đào Duy V ủy quyền cho bà
T2, Huỳnh Nguyễn Hoàng T1, Huỳnh Kim P để tiến hành nộp hồ
chuyển mục đích và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sdụng đất. O và ông
V đưa cho Thủy, bà Trang, bà Phụng 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số Y361816 số CI 215786. Tuy nhiên, sau đó Thủy, Trang, bà
Phụng đã trả lại đối với Giấy chứng nhận số CI 215786 cấp ngày 03/8/2017, sổ
cấp GCN CH 11974 cho bà O và ông V vào ngày 16/5/2024.
Đối với Giấy chứng nhận n lại, T2, T1, bà P đã làm đơn xin rút
cho bà O và ông V chủ động lấy.
Nay tranh chấp giữa O, ông V Nguyễn Thị Triều T, bà Thủy
không liên quan không ý kiến vì chỉ được bà T giới thiệu để đi làm
thủ tục cho bà O, ông V. Bà T2, bà T1, bà Phụng không lấy thù lao.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Kim Phụng vắng
mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại bản án dân sự thẩm s168/2025/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
5
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273,
Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 328, Điều 423, Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án pvà lệ
phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 25/09/2023 (ghi nhầm ngày 25/9/2024) giữa
ông Đào Duy V, Dương Thị O với Nguyễn Thị Triều T đối với thửa đất
số 687, tờ bản đồ số 112-TL2005), phường A, quận B T được UBND quận B
T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu ntài sản khác
gắn liền với đất số CI 215786, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH11974 ngày
03/08/2017 cho ông (bà) Đào Duy V- Dương Thị O Thửa đất số 964, tờ bản
đồ số 08-TL02/CT-UB), phường An Lạc, quận B T được UBND quận B T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y-361816, số vào scấp giấy chứng
nhận số 1045/QSDĐ ngày 17/12/2003 cho ông (bà) Dương Thị O.
Ông Đào Duy V và bà Dương Thị O được sở hữu số tiền 2.000.000.000
(hai tỷ) đồng do Nguyễn Thị Triều T đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc ngày
25/9/2023.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tcủa bà Nguyễn Thị Triều T về việc
buộc ông Đào Duy V, Dương Thị O phải trả lại tiền cọc 2.000.000.000
(hai tỷ) đồng và tiền phạt cọc là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
Ngoài ra án thẩm còn quyết định về án pquyền kháng cáo theo
luật định.
- Ngày 19/8/2025 Nguyễn Thụy Triều T nộp đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa án thẩm buộc nguyên đơn trả cho T lại tiền cọc
là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng và tiền phạt cọc là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện cho bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện cho nguyên đơn yêu cầu xử y án thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
+ Về ttụng: Quá trình thụ xét xử vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ được pháp luật quy định.
+ Về nội dung: Đề nghkhông chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thụy
Triều T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Sau khi nghiên cứu các tài liu trong h sơ v án đưc thm tra ti
phiên toà và n c vào kết qu tranh lun ti phiên toà, Hi đng t x
nhn đnh:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của Nguyễn Thụy Triều T nộp trong hạn luật
địnhđã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273
Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
[1.2]. Về quan hpháp luật tranh chấp, quyền khởi kiện, thời hiệu khởi
kiệnngười tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng.
[2]. Xét kháng cáo của Nguyễn Thụy Triều T yêu cầu nguyên đơn trả
cho T trả lại tiền cọc 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng tiền phạt cọc
2.000.000.000 (hai tỷ) đồng. Hội đồng xét xử xét:
Ngày 25/09/2023, ông Đào Duy V, Dương Thị O Nguyễn Thị
Triều T thỏa thuận hợp đồng đặt cọc để mua bán tài sản tại địa chỉ số 221
Tấn Bê, phường An Lạc, quận B T với giá 52 tỷ đồng. Hai bên tiến hành
làm thủ tục công chứng mua bán là 90 ngày kể từ ngày ký hợp đồng (tức là ngày
25/09/2023 đến ngày 25/12/2023). T đã chuyển số tiền 400.000.000 đồng
tiền đặt cọc như đã thỏa thuận.
Ngày 06/10/2023 O ông V đã ký biên bản bàn giao 2 Giấy chứng
nhận Quyền sử dụng đất trên cho bà Nguyễn Thị Thuỷ (là người được T giới
thiệu để thay bà T làm thủ tục pháp lý).
Ngày 24/12/2023, T xin nguyên đơn cọc thêm 1.600.000.000 đồng
viết giấy cam kết hẹn lại thời gian bàn bạc ngày công chứng vào ngày
02/01/2024. Tuy nhiên T không thực hiện T cũng hẹn nhiều lần để tiến
hành thủ tục công chứng nhưng T vẫn không thực hiện.
T cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: Y 361816, số vào
sổ cấp GCN QSDĐ: 1045QSDĐ/phường An Lạc do UBND quận B T cấp ngày
17/12/2003 là sổ cũ, không có toạ độ, trên sổ hết trang cập nhật, không phù hợp
công chứng mua bán đăng bộ sang tên, cần đo vẽ lại đổi smới Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số: CI 215786, số vào số cấp GCN: CH 11974 do UBND quận B T cấp
ngày 03/08/2017 chưa hoàn thiện việc điều chỉnh diện tích còn lại sau khi n
nước thu hồi đất nên không tiến hành công chứng việc mua bán. Hội đồng xét
xử xét, lời trình bày của bị đơn không có schấp nhận, bởi lẽ theo Công
văn số 5831/CNBT ngày 30/12/2024 Công văn số 4646/CNBT ngày
18/10/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận B T đều khẳng định
cả hai Giấy chứng nhận nêu trên đều đủ điều kiện để thực hiện công chứng việc
mua bán. Điều này cho thấy lời trình bày của bị đơn về việc không thể tiến hành
công chứng do bà O và ông V chưa hoàn thiện hồ sơ để công chứng là không có
căn cứ.
Ngoài ra, tại phiên tòa ngày 09/7/2025, đại diện theo ủy quyền của bị đơn
xin Hội đồng xét xử cho T thêm thời gian để chuẩn bnguồn tài chính, nên
Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 29/7/2025, đại diện
7
theo ủy quyền của bị đơn cho biết phía T vẫn chưa đủ nguồn tài chính để
tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét, tại thời điểm trước khi đặt
cọc công chứng, O ông V đã đầy đGiấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất để tiến hành thủ tục ng chứng. Việc không tiến hành ng chứng do bà
T không đủ khả năng tài chính để tiếp tục hợp đồng, bà T đã vi phạm thỏa thuận
của hợp đồng đặt cọc ngày 25/9/2023, lỗi không kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự.
Do đó yêu cầu kháng cáo của T là không có cơ sở chấp nhận.
[3]. Nhng phn khác của bản án thm các đương s không kháng
cáo,Viện kiểm sát không có kháng ngh nên có hiu lc pháp lut thi hành. [4].
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp
quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thụy Triều T phải chịu s
tiền án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thụy Triều T
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s168/2025/DS-ST ngày 05 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 25/09/2023 (ghi nhầm ngày 25/9/2024) giữa
ông Đào Duy V, bà Dương Thị O với bà Nguyễn Thị Triều T đối với thửa đất số
687, tờ bản đồ số 112-TL2005, phường An Lạc, quận B T được UBND quận B
T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CI 215786, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH11974 ngày
03/08/2017 cho ông (bà) Đào Duy V- Dương Thị O Thửa đất số 964, tbản
đồ số 08-TL02/CT-UB), phường An Lạc, quận B T được UBND quận B T cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y-361816, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận số 1045/QSDĐ ngày 17/12/2003 cho ông (bà) Dương Thị O.
Ông Đào Duy V và Dương Thị O được sở hữu số tiền 2.000.000.000
(hai tỷ) đồng do Nguyễn Thị Triều T đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc ngày
25/9/2023.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Nguyễn Thị Triều T về việc
buộc ông Đào Duy V, Dương Thị O phải trả lại tiền cọc 2.000.000.000
(hai tỷ) đồng và tiền phạt cọc là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.
3. Về án phí: Nguyễn Thị Triều T phải chịu án phí dân sthẩm
300.000 (ba trăm nghìn) đồng 112.000.000 (một trăm ời hai triệu) đồng,
8
được trừ vào số tiền 56.000.000
(năm mươi sáu triệu) đồng tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0077017 ngày 10/4/2025 của Chi cục Thi hành án
dân sự quận B T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay Phòng thi hành án dân sự
khu vực 9 -Thành phố Hồ Chí Minh). Nguyễn Thị Triều T còn phải nộp
thêm số tiền án phí là 56.300.000
(năm mươi sáu triệu ba trăm nghìn) đồng.
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Nguyễn Thụy Triều T phải chịu số tiền án phí dân sự phúc thẩm
300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai ngày 21/8/2025 của Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Triều T đã nộp đủ án phí dân
sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- TAND Khu vực 9, TP.HCM;
- Phòng THA DS Khu vực 9, TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu VP, HS.
Tải về
Bản án số 85/DSPT Bản án số 85/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 85/DSPT Bản án số 85/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất