Bản án số 8/2026/LĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 8/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 8/2026/LĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 8/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thanh Trường yêu cầu Công ty cổ phần Công nghiệp Quảng An I đong bảo hiếm các loại.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 8/2026/LĐ-ST Bản án số 8/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 8/2026/LĐ-ST Bản án số 8/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 8/2026/LĐ-ST
Ngày: 21-8-2026
V/v “Tranh chấp
về bảo hiểm xã hội”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích
Bà Bùi Thị Lý Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Anh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà
Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét
xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 62/2026/TLST- LĐ ngày 10 tháng 6 năm
2026 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1014/2026/QĐXXST-LĐ ngày 16 tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
1004/QĐST-LĐ ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1971, CCCD số: ************
cấp ngày 09/08/2021. Địa chỉ: Tổ E, phường H, TP Đà Nẵng. SĐT: 0905 220 095. Đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc O, sinh năm 1980 và bà Huỳnh
Thị Phương G, sinh năm 1981 (theo giấy ủy quyền ngày 21/7/2026) (Bà G có mặt tại
phiên tòa)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần C1; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp T, xã H, huyện
T, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh); Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu
Văn T1, chức vụ: Tổng Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C; Đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Kim H
- Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện
theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1983; CCCD số: ************ cấp
ngày 17/4/2024 - Chức vụ: Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 (Theo giấy ủy
quyền số 545/GUQ-BHXH ngày 30/6/2026); Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố
Đà Nẵng. (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2
- Ông Lưu Thanh T2, sinh ngày: 18/9/1987 - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh I -
Công ty Cổ phần C2 tại Đà Nẵng; Địa chỉ: Đường H, phường N, thành phố Đà Nẵng.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 22/4/2026 và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình
bày:
Ông Nguyễn Thanh T vào làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà
Nẵng từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 7 năm 2020.
Trong quá trình làm việc ông Nguyễn Thanh T luôn chấp hành nội quy, quy định
của Công ty, với công việc là nhân viên lái xe buýt. Đến thời điểm 7/2020 ông T nghỉ
việc nhưng Công ty vẫn chưa đóng bảo hiểm xã hội cho ông T từ 07/2019 đến tháng
5/2020 (Theo công văn số 767/BHXH - BPQLT ngày 12/8/2026 của bảo hiểm xã hội cơ
sở H1). Công ty N là 11.205.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là
7.164.806 đồng. Tổng cộng là: 18.369.806 đồng (Mười tám triệu, ba trăm sáu mươi
chín nghìn, tám trăm lẻ sáu đồng).
Nay ông Nguyễn Thanh T yêu cầu Công ty Cổ phần C1 có trách nhiệm đóng tiền
nợ bảo hiểm xã hội cho ông theo số tiền thực tế hiện nay, do bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa
C cung cấp, để thực hiện chốt sổ bảo hiểm cho ông T.
* Bị đơn Công ty Cổ phần C1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên toà) nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ
phần C1 không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, hòa giải... và các phiên tòa theo
các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Thanh T2 - Giám đốc Chi
nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên toà) nhưng ông Lưu Thanh T2 không đến Tòa án để tham
gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,….và
các phiên tòa theo các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 có ý kiến:
Tại Công văn số 553/BHXH-BPQLT ngày 30/6/2026 người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 trình bày:
3
Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1971 số CCCD: ************ có thời gian
tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) tại Chi nhánh I - Công ty
Cổ phần C1 tại Đà Nẵng từ tháng 06/2017 đến tháng 05/2020 (36 tháng) do Bảo hiểm
xã hội cơ sở H1 trực tiếp thu.
Tính đến 30/6/2026, Đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN
cho 04 lao động và hoàn thành việc trích chuyên BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ,
BNN đến hết tháng 06/2019.
Tại Công văn số 767/BHXH-BPQLT ngày 12/8/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa C đã xác nhận cụ thể tình trạng nợ bảo hiểm của ông Nguyễn Thanh T tính đến
ngày 21/8/2026 thì tổng số tiền mà Cổ phần Công nghiệp C1 tại Đà Nẵng còn nợ liên
quan đến ông Nguyễn Thanh T. Công ty còn nợ bảo hiểm xã hội là 11.205.000 đồng và
lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 7.164.806 đồng; Tổng cộng là: 18.369.806 đồng
(Mười tám triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm lẻ sáu đồng).
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho
đến phiên toà xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng khác: Nguyên đơn và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C kể từ khi thụ lý vụ
án cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật, bị đơn Công ty Cổ phần C1 và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan giám đốc Chi nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng
không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 48, Điều 168 Bộ luật Lao động; Điều
9, Điều 13, Điều 39, Điều 41 Luật bảo hiểm xã hội; khoản 1 Điều 13, Điều 15 Luật Bảo
hiểm y tế tuyên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, buộc Công ty Cổ phần C1 phải nộp số tiền 18.369.806 đồng (trong đó nợ bảo hiểm
xã hội là 11.205.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 7.164.806 đồng)
cho Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 để thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và giải quyết
các chế độ liên quan cho ông Nguyễn Thanh T và tiếp tục chịu lãi suất chậm đóng theo
quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội và các quy định pháp luật có liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét,
4
thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần C1 thực hiện nghĩa vụ
đóng số tiền bảo hiểm xã hội còn thiếu trong thời gian ông làm việc tại Chi nhánh II -
Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng, để C3 xác nhận thời gian đóng và giải quyết các chế
độ bảo hiểm cho ông.
Đây là tranh chấp về bảo hiểm xã hội thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo
điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 hoạt
động tại Đà Nẵng nên nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án nơi chi nhánh hoạt động
để giải quyết theo điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.
[2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 là đơn vị phụ thuộc của Công ty Cổ phần C1,
không có tư cách pháp nhân độc lập. Do đó, Công ty Cổ phần C1 là bị đơn trong vụ án.
Ông Lưu Thanh T2 là Giám đốc Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa ông T2 tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và ông Lưu Thanh T2
nhưng những người này không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến, tài
liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Tại phiên tòa, bị đơn và
ông Lưu Thanh T2 tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và
không có lý do chính đáng, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T:
Ông Nguyễn Thanh T làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng
từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 7 năm 2020, công việc là nhân viên lái xe buýt. Trong
thời gian làm việc, ông T thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy
định pháp luật.
Theo Công văn số 553/BHXH-BPQLT ngày 30/6/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa Cường, ông Nguyễn Thanh T có thời gian tham gia BHXH, BHYT, BHTN,
BHTNLĐ-BNN tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 từ tháng 6/2017 đến tháng
5/2020. Đơn vị đã thực hiện đóng các khoản bảo hiểm đến hết tháng 6/2019.
Tại Công văn số 767/BHXH-BPQLT ngày 12/8/2026, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa
Cường xác nhận Công ty Cổ phần C1 còn nợ tiền bảo hiểm xã hội của ông Nguyễn
Thanh T 11.205.000 đồng, tiền lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 7.164.806 đồng,
tổng cộng 18.369.806 đồng.
5
Theo Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động và người lao
động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo
quy định pháp luật. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019, khi
chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ
tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại giấy tờ cho
người lao động.
Công ty Cổ phần C1 chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho
ông T. Số tiền còn thiếu và tiền lãi chậm đóng đã được cơ quan bảo hiểm xã hội trực
tiếp quản lý, thu bảo hiểm xác nhận bằng văn bản. Trong quá trình giải quyết vụ án,
Công ty đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không có ý kiến phản đối, không cung
cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ đóng bảo hiểm.
Do đó, có đủ cơ sở xác định Công ty Cổ phần C1 còn phải đóng cho ông Nguyễn
Thanh T số tiền 18.369.806 đồng theo xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T về việc buộc Công ty Cổ phần C1 đóng số tiền
trên cho cơ quan bảo hiểm xã hội để xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và giải quyết
các chế độ bảo hiểm có liên quan là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với ông Lưu Thanh T2:
Nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động thuộc trách nhiệm của Công ty Cổ
phần C1 với tư cách người sử dụng lao động. Ông Lưu Thanh T2 là Giám đốc Chi nhánh
I nhưng không phải là người có nghĩa vụ độc lập đối với khoản tiền ông T yêu cầu. Vì
vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm riêng của ông T2 trong vụ án này.
[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Thanh T, buộc Công ty Cổ phần C1 đóng số tiền 18.369.806 đồng cho cơ quan
bảo hiểm xã hội là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T được chấp nhận toàn bộ nên Công ty
Cổ phần C1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm có giá ngạch theo Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14.
Giá trị nghĩa vụ được chấp nhận là 18.369.806 đồng, thuộc trường hợp tranh chấp
lao động có giá ngạch từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, án phí là 3% giá
trị tranh chấp, tương ứng:
18.369.806 đồng × 3% = 551.094 đồng.
Ông Nguyễn Thanh T là người lao động khởi kiện yêu cầu người sử dụng lao động
thực hiện nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội nên được miễn án phí theo điểm a khoản 1 Điều
12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 32, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 227, Điều
228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 168, khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 13, Điều 40 và các quy định có liên quan của Luật Bảo hiểm xã hội
số 41/2024/QH15; các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T đối với Công ty Cổ phần
C1 về “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.
2. Buộc Công ty Cổ phần C1 phải đóng các khoản bảo hiểm còn thiếu cho ông
Nguyễn Thanh T, theo mã số bảo hiểm xã hội 4816102442, tại cơ quan bảo hiểm xã hội
có thẩm quyền, với tổng số tiền theo xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 là
18.369.806 đồng (Mười tám triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm lẻ sáu đồng),
gồm:
- Tiền bảo hiểm xã hội còn thiếu là: 11.205.000 đồng;
- Tiền lãi chậm đóng tính đến ngày 21/8/2026 là: 7.164.806 đồng.
Công ty Cổ phần C1 có trách nhiệm thực hiện việc đóng số tiền nêu trên cho Bảo
hiểm xã hội cơ sở H1 để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và
giải quyết các chế độ bảo hiểm có liên quan cho ông Nguyễn Thanh T theo quy định
pháp luật.
Kể từ thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội xác định số tiền nêu trên đến khi Công
ty Cổ phần C1 thực tế hoàn thành nghĩa vụ đóng, Công ty còn phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ đóng và nộp tiền chậm đóng phát sinh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm
xã hội và các quy định pháp luật có liên quan.
3. Về án phí lao động sơ thẩm:
Công ty Cổ phần C1 phải chịu 551.094 đồng (Năm trăm năm mươi mốt nghìn
không trăm chín mươi bốn đồng) án phí lao động sơ thẩm.
Ông Nguyễn Thanh T được miễn án phí lao động sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
7
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Thị Hai
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 8/2026/LĐ-ST Bản án số 8/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 8/2026/LĐ-ST Bản án số 8/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất