Bản án số 8/2018/LĐ-PT ngày 04/01/2018 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 8/2018/LĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 8/2018/LĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 8/2018/LĐ-PT ngày 04/01/2018 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 8/2018/LĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/01/2018 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Theo sự thừa nhận của đôi bên thì vào ngày 17/11/2014 nguyên đơn được mời đến công ty bị đơn để thử việc theo thư mời thử việc cùng ngày, vị trí công tác là Phó Tổng giám đốc điều hành, địa điểm làm việc là 120-122 Đường D, Phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thử việc là 02 tháng, mức lương chính là 50.000.000 đồng/tháng. Hết thời gian thử việc, ngày 17/01/2017 theo nguyên đơn thì ông vẫn làm việc bình thường và không nhận bất cứ thông báo nào về việc chấm dứt thời gian thử việc, phía bị đơn thì cho rằng ngày 10/01/2015 phía bị đơn có tổ chức cuộc họp đánh giá kết quả công tác của nguyên đơn và ngày 11/01/2015 bị đơn đã có thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thử việc với nguyên đơn và có giao thông báo này cho nguyên đơn, nhưng không có văn bản ký nhận của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————
Bản án số: 08/2018/LĐ-PT
Ngày 04-01-2018
V/v Tranh chấp về xử lý kỷ luật
lao động theo hình thức sa thải.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Liên Minh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Bà Nguyễn Thị Thoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Hoa Thiên
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh
tham gia
phiên tòa: Bà Thân Trọng Minh Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 tháng 12 năm 2017, ngày 03 và ngày 4 tháng 01 năm
2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công
khai vụ án thụ lý số 48/2017/LĐPT ngày 22 tháng 8 năm 2017 về tranh chấp về xử
lý về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải.
Do bản án lao động sơ thẩm số 07/2017/LĐ-ST ngày 17 tháng 5 năm 2017
của Tòa án nhân dân Quận 9 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2410/2017/QĐ-PT ngày
25 tháng 10 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 6380/2017/QĐ-PT ngày 23
tháng 11 năm 2017 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 7541/2017/QĐPT ngày
13 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đăng K, sinh năm 1972
Nơi cư trú: 508 đường P, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1977
Luật sư Công ty Luật TNHH T - Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T
Trụ sở: số M09 đường C, Tổ 1, khu dân cư Gia Hòa, khu phố 6, phường P,
Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Thanh Q, sinh năm 1972
Địa chỉ: H5 khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày
01/12/2016).
2
3. Người kháng cáo:
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đăng K đã rút đơn kháng cáo ngày 31 tháng
7 năm 2017.
Bị đơn: Công ty cổ phần T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Minh
Đăng K trình bày: Ngày 17 tháng 11 năm 2014 ông đến làm việc tại Công ty cổ
phần T theo thư tuyển dụng, thư mời thử việc ngày 17/11/2014 và làm theo Quyết
định phân công công tác số 32/2014/QĐ-NS ngày 15/11/2014 của Tổng Giám đốc
Công ty cổ phần T với nhiệm vụ tổng giám đốc điều hành, thời gian thử việc là 02
tháng, bắt đầu từ ngày 17/11/2014 đến 17/01/2015, mức lương thỏa thuận là
50.000.000 đồng/tháng. Sau khi hết thời gian thử việc ông K được Tổng giám đốc
đề nghị tiếp tục làm việc cho Công ty Cổ phần T mà không có văn bản đánh giá kết
quả thử việc cũng không ký hợp đồng lao động chính thức. Tuy nhiên, đến ngày
24/6/2015 ông K nhận được Quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS ký ngày 23/6/2015
(bản photocopy) về việc “miễn nhiệm chức vụ công tác”. Theo đó thì nhiệm vụ
mới của ông K là nhân viên văn phòng tổng giám đốc thay cho nhiệm vụ Phó tổng
giám đốc điều hành trước đó. Tiếp đến, ngày 06/7/2015 ông K nhận Quyết định số
09/2015/Q2/QĐ-NS ngày 01/7/2015 (bản photocopy) về việc “điều chuyển công
tác nhân viên” điều ông K đến làm việc tại văn phòng H đặt tại tỉnh B và Quyết
định số 11-Quý II/2015/QĐ-NS ngày 01/7/2015 (bản photocopy) về việc “mức
lương cho ông Nguyễn Minh Đăng K”. Không đồng ý với việc điều chuyển công
tác của Công ty T nên ông K không đến nơi làm việc mới. Mặc dù không được bố
trí công việc, không có chỗ ngồi tại nơi làm việc cũ nhưng ông K vẫn đến văn
phòng Công ty Cổ phần T đặt tại Tòa nhà V thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh mỗi ngày. Đến ngày 17/7/2015 thì ông K nhận được Quyết định xử lý kỷ luật
lao động số 05/Quý III-2015/QĐNS ngày 17/7/2015 của Công ty Cổ phần T về
việc sa thải ông K. Không đồng ý với Quyết định sa thải nên ông đã khiếu nại lên
Hội đồng hòa giải của UBND Quận C nhờ can thiệp nhưng không có kết quả. Do
đó, ông đã khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 9 tuyên bố việc sa thải
của Công ty Cổ phần T đối với ông là trái pháp luật đồng thời ông yêu cầu Công ty
Cổ phần T phải bồi thường thiệt hại và trả các khoản tiền mà trong thời gian làm
việc Công ty Cổ phần T chưa thanh toán cho ông cũng như các khoản tiền trong
thời gian ông không được làm việc, cụ thể như sau:
- Yêu cầu trả lương tháng 6/2015 và 17 ngày của tháng 7/2015 với mức
lương 50.000.000 đồng/tháng;
- Yêu cầu trả lương cho những ngày không được làm việc tính từ ngày
18/7/2015 với mức lương 50.000.000 đồng/tháng;
- Yêu cầu thanh toán những ngày được nghỉ phép mà chưa nghỉ tổng cộng
có 07 ngày (tính trên mức lương 50.000.000 đồng/tháng);
- Yêu cầu thanh toán các khoản bảo hiểm theo quy định từ tháng 01/2015
(tính trên mức lương 50.000.000 đồng/tháng);
3
- Yêu cầu bồi thường 02 tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng trái luật
(tính trên mức lương 50.000.000 đồng/tháng).
Bị đơn Công ty Cổ phần T có ông Bùi Thanh Q làm đại diện theo ủy quyền
trình bày: Ông đại diện cho Công ty Cổ phần T xác nhận ông Nguyễn Minh Đăng K
có thực tế làm việc tại Công ty Cổ phần T theo thư tuyển dụng, thư mời thử việc
ngày 17/11/2014 và làm việc theo Quyết định phân công công tác số 32/2014/QĐ-
NS ngày 15/11/2014 của Tống giám đốc Công ty Cổ phần T với nhiệm vụ Phó tổng
giám đốc điều hành, thời gian thử việc là 02 tháng, bắt đầu từ ngày 17/11/2014 đến
hết ngày 17/01/2015 như ông K đã trình bày. Tuy nhiên, sau thời gian thử việc, Ban
giám đốc Công ty Cổ phần T có đánh giá kết quả làm việc của ông K nhưng không
thông báo bằng văn bản cho ông K về kết quả thử việc. Trong thời gian này ông K
vẫn đến văn phòng làm việc. Đồng thời giữa ông K và Tổng giám đốc Công ty Cổ
phần T có thỏa thuận miệng với nhau về việc để ông K tiếp tục làm việc thêm một
thời gian vẫn với mức lương 50.000.000 đồng/tháng, đến tháng 5 năm 2015 hai bên
thỏa thuận với mức lương công ty trả cho ông K là 35.000.000 đồng/tháng. Việc
thỏa thuận này cũng không làm văn bản. Trong thời gian tiếp tục làm việc tại Công
ty, do kết quả làm việc của ông K không đạt được theo chỉ tiêu và kế hoạch 6 tháng
đầu năm 2015 của Công ty Cổ phần T nên lãnh đạo Công ty đã quyết định điều
chuyển ông K làm nhiệm vụ khác theo Quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS ngày
23/6/2015 về việc “miễn nhiệm chức vụ công tác”. Sau đó thì ban hành Quyết định
điều chỉnh mức lương đối với ông K cho phù hợp với vị trí làm việc mới. Do nhu
cầu công việc và kế hoạch kinh doanh của Công ty nên lãnh đạo công ty quyết định
chuyển ông K đến làm việc tại văn phòng H đóng tại tỉnh B theo Quyết định số
09/2015/Q2/QĐ-NS ngày 01/7/2015 về việc “điều chuyển công tác nhân viên”
nhưng ông K không chấp hành. Do ông K tự ý không làm việc trong 05 ngày liên
tục mà không có lý do nên công ty họp xử lý kỷ luật và buộc phải sa thải ông Ktheo
quy định. Việc sa thải ông K là có căn cứ và phù hợp nên Công ty Cổ phần T không
đồng ý với các yêu cầu của ông K.
Tại bản án lao động sơ thẩm số 07/2017/LĐ-ST ngày 17/5/2017 Tòa án nhân
dân Quận 9 đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn:
- Hủy Quyết định số 05/Quý III-2015/QĐNS ngày 17/7/2015 của Công ty
Cổ phần T về việc sa thải ông Nguyễn Minh Đăng K;
- Buộc Công ty Cổ phần T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Minh Đăng K số
tiền là 672.807.000 đồng (sáu trăm bảy mươi hai triệu, tám trăm lẻ bảy ngàn đồng);
- Buộc Công ty Cổ phần T có nghĩa vụ nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội Quận 9
đối với việc sử dụng người lao động là ông Nguyễn Minh Đăng K có thời gian làm
việc từ tháng 01/2015 đến tháng 01/2017 với số tiền là 292.500.000 đồng (hai trăm
chín mươi hai triệu, năm trăm ngàn đồng);
- Buộc Công ty Cổ phần T phải thực hiện quy định về việc lập sổ bảo hiểm
xã hội và phối hợp với các cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận thời gian đóng bảo
hiểm, trả sổ bảo hiểm cho ông Nguyễn Minh Đăng K.
4
Việc thi hành được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9, thành
phố Hồ Chí Minh ngày khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các bên
đương sự.
Án sơ thẩm đã được tuyên vào ngày 17/5/2017, ngày 26/5/2017 bị đơn nộp
đơn kháng cáo, với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc
thẩm bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Ngày 21/11/2017 bị đơn có đơn kháng
cáo về việc bổ sung nội dung kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm sửa
một phần bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền lương và các khoảng khác theo quy chế
trước ngày 30/6/2015 do Quyết định phân công công tác cán bộ số
04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015, là một hợp đồng lao động mới, thời hạn kết
thúc hợp đồng là vào ngày 30/6/2015, các quyết định sau ngày 30/6/2015 của Công
ty đều vô giá trị, phía Công ty cũng đã ban hành quyết định số 09/QĐ/TĐTV-
QĐNS ngày 22/11/2017 về việc hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật lao động số
05/Quý III-2015-QĐNS ngày 17/7/2015 của Tổng giám đốc Công ty CP T nên đối
tượng khởi kiện của nguyên đơn cũng không còn giá trị. Cùng với đơn bổ sung nội
dung kháng cáo bị đơn có cung cấp chứng cứ cho Tòa án Quyết định phân công
công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015, và quyết định số
09/QĐ/TĐTV-QĐNS ngày 22/11/2017 về việc hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật lao
động số 05/Quý III-2015-QĐNS ngày 17/7/2015 của Tổng giám đốc Công ty CP T
Ngày 02/6/2016 nguyên đơn nộp đơn kháng cáo, với nội dung kháng cáo đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS ngày
01/7/2015 về việc “Điều chuyển công tác nhân viên” là trái pháp luật, đối với nội
dung còn lại của án sơ thẩn nguyên đơn không có ý kiến. Ngày 31/7/2017 nguyên
đơn có làm đơn xin rút đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn trình bày: Trên cơ sở thỏa thuận, bị đơn có ban hành Quyết định
phân công công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015, phân công
nguyên đơn làm phó giám đốc kinh doanh khối hội sở, mức lương
35.000.000đ/tháng, quyết định có thời hạn từ 12/5/2015 đến 30/6/2015. Đây là hợp
đồng lao động có thời hạn 2 tháng 18 ngày, phía công ty đã ra các quyết định số
09/2015/Q2/QĐ-NS ngày 23/6/2015 về việc miễn nhiệm công tác của nguyên đơn
từ Phó Tổng giám đốc xuống làm nhân viên văn phòng tổng giám đốc, quyết định
số 09/2015/Q2/QĐ-NS ngày 01/7/2015 về việc điều chuyển công tác nhân viên,
quyết định số 11/Quý II/2015/QĐ-NS về mức lương của nguyên đơn, quyết định
số Quyết định xử lý kỷ luật lao động số 05/Quý III-2015/QĐNS ngày 17/7/2015
của Công ty Cổ phần T về việc sa thải ông K là sai trái và không có giá trị pháp lý,
vì đến ngày 30/6/2015 đã hết hạn hợp đồng lao động và nguyên đơn đã không còn
là nhân viên của công ty nữa, có thể chứng minh bằng cách công ty đã thu hồi toàn
bộ bản chính các quyết định nêu trên đã được cấp cho nguyên đơn nên nguyên đơn
chỉ có bản sao cung cấp cho tòa án các quyết định này. Do phát hiện các quyết định
không đúng nêu trên nên phía công ty cũng đã ra quyết định số 09/QĐ/TĐTV-
5
QĐNS ngày 22/11/2017 về việc hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật lao động số
05/Quý III-2015-QĐNS ngày 17/7/2015 của Tổng giám đốc Công ty CP T. Chính
vì quyết định xử lý kỷ luật lao động đã bị hủy bỏ do đó bị đơn đề nghị cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại số tiền lương còn thiếu và các khoảng khác
theo quy chế trước ngày 30/6/2015, còn các yêu cầu khác của nguyên đơn đề nghị
Tòa án không chấp nhận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ngày
12/5/2015 giữa đôi bên có thỏa thuận về việc điều chuyển công tác, nhưng đây là
việc phân công công tác do nhu cầu kinh doanh của công ty, điều chuyển nguyên
đơn từ công việc phụ trách chung bán nền đất sang quản lý thêm mảng công tác bán
căn hộ do nhân viên chưa quen việc, thời gian phụ trách là đến ngày 30/6/2015,
đồng thời có thỏa thuận về mức lương của nguyên đơn xuống 35.000.000đ/tháng do
tình hình khó khăn của công ty. Trong quá trình thỏa thuận giữa đôi bên không có
bàn bạc gì về thời hạn hợp đồng lao động như bị đơn đã trình bày và sau ngày
12/5/2015 nguyên đơn cũng không nhận được văn bản nào về việc sửa đổi, bổ sung
hợp đồng lao động. Chính vì vậy việc bị đơn cho rằng quyết định phân công công
tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015 là một hợp đồng lao động mới là
không phù hợp với Điều 35 Bộ luật lao động, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện và đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn trình bày: Thống nhất với lời trình bày của Người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp
lệ. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy
định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn không giao nộp
chứng cứ là Quyết định phân công công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày
12/5/2015, mặc dù theo bị đơn đây là chứng cứ có giá trị chứng minh yêu cầu của
nguyên đơn là không có căn cứ và hợp pháp, đến giai đoạn xét xử phúc thẩm bị
đơn mới cung cấp. Chứng cứ này do bị đơn lưu giữ nên phải có trách nhiệm cung
cấp cho Tòa án trong giai đoạn giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo điểm b
khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh. Do đó, Viện kiểm
sát không xem đây là chứng cứ làm căn cứ xem xét giải quyết vụ kiện, theo khoản
4 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích những tình tiết có liên quan đến vụ án, trên
cơ sở Bộ luật Lao động Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Riêng về mức đóng
bảo hiểm cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ mức lương của nguyên đơn làm cơ sở
tính số tiền bảo hiểm cần phải đóng là không đúng do mức lương của nguyên đơn
đã vượt 20 lần mức lương cơ sở, đề nghị hội đồng xét xử sửa lại phần này theo
đúng quy định tại tại khoản 3 Điều 89 Luật bảo hiểm xã hội.
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị đơn nằm trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS) nên được chấp
nhận.
Kháng cáo của nguyên đơn đã quá hạn, tuy nhiên đến ngày 31/7/2017
nguyên đơn có làm đơn xin rút đơn kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên
đơn thừa nhận việc rút đơn kháng cáo là tự nguyện nên được ghi nhận.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần của hội đồng xét xử có
thẩm phán Hồ Minh Cường, đến ngày xét xử thẩm phán Hồ Minh Cường bận công
tác đột xuất nên được thay thế bằng thẩm phán Nguyễn Thị Thoa. Tại phiên tòa
các đương sự đồng ý với việc thay đổi thành phần hội đồng xét xử nên Hội đồng
xét xử xét xử lại vụ án từ đầu theo khoản 2 Điều 226 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về chứng cứ là Quyết định phân công công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-
NS ngày 12/5/2015, mà bị đơn đã cung cấp cho Tòa án trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm, Tòa phúc thẩm xét thấy: Trong giai đoạn giải quyết vụ án theo thủ tục sơ
thẩm, mặc dù bị đơn đã cung cấp chứng cứ là quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS
ngày 23/6/2015 về việc miễn nhiệm chức vụ công tác của nguyên đơn từ Phó Tổng
giám đốc xuống làm nhân viên văn phòng tổng giám đốc, trong quyết định này có
ghi rõ căn cứ để ra quyết định như sau: “Căn cứ vào quyết định nhân sự số
04/2015/Q2/QĐ-NS ký ngày 12/5/2015”. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không yêu
cầu bị đơn phải cung cấp chứng này do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không thống
nhất với ý kiến của Viện kiển sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc không
xem xét chứng cứ đã được bị đơn bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
thẩm, theo điểm b khoản 1 Điều 287 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về Quyết định phân công công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày
12/5/2015: Theo đoạn [3] của bản án này thì sau khi kết thúc thời gian thử việc
nguyên đơn vẫn làm việc tại Công ty. Do đó, hợp đồng lao động của nguyên đơn
được xác định là hợp đồng lao động có thời hạn là 02 năm. Mọi sự thay đổi, bổ
sung hợp đồng lao động đều phải phải tuân thủ Điều 35 Bộ luật lao động. Theo
khoản 1 Điều 35 về việc sửa đổi bổ sung hợp đồng lao động của Bộ luật lao động
thì: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa
đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít
nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung”. Tại phiên tòa phúc
thẩm, nguyên đơn thừa nhận có nhận được quyết định phân công công tác số
04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015. Nhưng đây chỉ là quyết định phân công công
tác trong nội bộ công ty không nhận được thông báo hay thỏa thuận nào về việc
sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Phía bị đơn không cung cấp được thông báo
và biên bản thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động, như vậy bị đơn
không chứng minh được việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động là đã được báo
trước và có sự thỏa thuận của đôi bên. Theo khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động thì:
“Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao
động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp
7
đồng lao động mới” tuy nhiên trong tiêu đề của quyết định được ghi rõ là “Quyết
định về việc phân công công tác cán bộ” mà không phải là một trong hai lọai văn
bản theo quy định. Như vậy quyết định số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015
của bị đơn không được coi là một phụ lục hợp đồng hay hợp đồng lao động mới.
Theo khoản 3 Điều 35 Bộ luật lao động thì: “Trong trường hợp hai bên không thoả
thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện
hợp đồng lao động đã giao kết” trong thời gian quyết định 04/2015/Q2/QĐ-NS
ngày 12/5/2015 có hiệu lực bị đơn đã ban hành quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS
ngày 23/6/2015 về việc “miễn nhiệm chức vụ công tác” của nguyên đơn từ Phó
Tổng giám đốc điều hành xuống làm nhân viên văn phòng Tổng giám đốc kể từ
ngày 23/6/2015. Như vậy về chức danh của nguyên đơn vẫn không có gì thay đổi
so với quyết định số 04/2015/Q2/QĐ-NS của bị đơn. Chứng tỏ: Sau khi có quyết
định 04/2015/Q2/QĐ-NS nguyên đơn vẫn còn giữ chức danh cũ và hợp đồng lao
động giữa đôi bên là không có gì thay đổi.
Phía bị đơn cho rằng nguyên đơn không cung cấp được các chứng cứ là bản
chính các quyết định phân công công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày
12/5/2015, quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS ngày 23/6/2015, quyết định số
09/2015/Q2/QĐ-NS ngày 01/7/2015, Quyết định số 11-Quý II/2015/QĐ-NS ngày
01/7/2015 chứng tỏ nguyên đơn đã đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động giao lại
bản chính các quyết định này cho bị đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn thừa
nhận các quyết định mà nguyên đơn nhận được từ công ty là bản photocopy,
nguyên đơn không để ý về việc nhận bản chính hay bản sao vì đây là các quyết
định của chính bị đơn ban hành và trong suốt thời gian qua chưa bao giờ bị đơn
yêu cầu nguyên đơn phải hoàn trả các quyết định nêu trên để ban hành các quyết
định mới. Tòa án xét thấy: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã thừa
nhận việc ban hành các quyết định nêu trên do đó, theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố
tụng dân sự thì “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình
tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự
kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh” chính vì lẽ trên mà Tòa
án công nhận các tình tiết, sự kiện do nguyên đơn cung cấp là phù hợp với diễn
tiến của vụ án. Đối với tình tiết bị đơn đã thu hồi các bản chính để chứng tỏ
nguyên đơn đã đồng ý về việc hủy bỏ tất cả các quyết định đối với nguyên đơn.
Tòa án xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn
không cung cấp được thông báo về việc hủy bỏ các quyết định nêu trên, cũng
không cung cấp được biên bản giao nhận các quyết định giữa đôi bên và ngày giao
nhận phía bị đơn cũng không nhớ. Chính vì vậy Tòa án không có cơ sở để khẳng
định nguyên đơn đã chấp nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày
01/7/2015 theo quyết định phân công công tác cán bộ số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày
12/5/2015 như ý kiến của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm.
Từ những nhận định trên Tòa án có cơ sở khẳng định: Quyết định phân công
công tác số 04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015 mà bị đơn cho rằng đây là hợp
đồng lao động mới có thời hạn từ ngày 12/5/2015 đến ngày 30/6/2015 là không có
giá trị pháp lý, không làm phát sinh hay thay đổi quyền, nghĩa vụ của mỗi bên
trong quan hệ lao động. Việc bị đơn ban hành quyết định số 09/QĐ/TĐTV-QĐNS
8
ngày 22/11/2017 về việc hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật lao động số 05/Quý III-
2015-QĐNS ngày 17/7/2015 của Tổng giám đốc Công ty Cổ phần T, (sau khi Tòa
án cấp sơ thẩm xét xử vụ án) không phải là cơ sở pháp lý làm chấm dứt toàn bộ
nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật theo Điều 42 Bộ luật Lao động.
[3] Về quá trình làm việc của nguyên đơn trong công ty Cổ phần T
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn cho rằng quyết định phân công công tác số
04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015 là hợp đồng lao động mới và đây chính là hợp
đồng lao động đang phát sinh tranh chấp, tòa án cấp sơ thẩm cho rằng hợp đồng
đang tranh chấp là hợp đồng lao động có thời hạn là 24 tháng (theo điểm c khoản 1
Điều 22 Bộ luật lao động) là không đúng.
Tòa án xét thấy: Theo sự thừa nhận của đôi bên thì vào ngày 17/11/2014
nguyên đơn được mời đến công ty bị đơn để thử việc theo thư mời thử việc cùng
ngày, vị trí công tác là Phó Tổng giám đốc điều hành, địa điểm làm việc là 120-122
Đường D, Phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thử việc là 02
tháng, mức lương chính là 50.000.000 đồng/tháng. Hết thời gian thử việc, ngày
17/01/2017 theo nguyên đơn thì ông vẫn làm việc bình thường và không nhận bất cứ
thông báo nào về việc chấm dứt thời gian thử việc, phía bị đơn thì cho rằng ngày
10/01/2015 phía bị đơn có tổ chức cuộc họp đánh giá kết quả công tác của nguyên
đơn và ngày 11/01/2015 bị đơn đã có thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thử việc
với nguyên đơn và có giao thông báo này cho nguyên đơn, nhưng không có văn bản
ký nhận của nguyên đơn. Như vậy tòa án không có cơ sở khẳng định khi hết thời
gian thử việc người sử dụng lao động có thông báo kết quả thử việc cho người lao
động.Theo bản kê chi tiết giao dịch khách hàng của ngân hàng TMCP P Thành phố
Hồ Chí Minh và bản lương tháng 6 năm 2015 của bị đơn thì nguyên đơn vẫn tiếp tục
làm việc cho bị đơn và có hưởng lương từ bị đơn, chứng tỏ sau khi hết thời gian thử
việc người lao động vẫn tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động nhưng đôi
bên không thỏa thuận về việc giao kết hợp đồng lao động mới. Căn cứ theo quy định
tại các Điều 22, 26 và 29 Bộ luật lao động đối chiếu với các Điều 4, 5 Thỏa ước lao
động tập thể của bị đơn và đối chiếu quyết định phân công công tác số 32/2014/QĐ-
NS ngày 15/11/2014 thì thời hạn hợp đồng lao động của nguyên đơn là 02 năm
17/01/2015 đến 17/01/2017, chức danh là Phó Tổng giám đốc công ty mức lương
50.000.000 đồng/tháng. Đến ngày 12/5/2015 bị đơn ban hành quyết định phân công
công tác số 04/2015/Q2/QĐ-NS theo đoạn [2] phần nhận định này thì quyết định
này không phải là một hợp đồng lao động mới nên không có ý nghĩa về việc điều
chỉnh thời gian làm việc của nguyên đơn trong công ty. Cấp sơ thẩm đã nhận định
thời hạn của hợp đồng là 24 tháng kể từ ngày 17/01/2015 đến 17/01/2017 là đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn thừa nhận kể từ ngày có quyết định số
04/2015/Q2/QĐ-NS ngày 12/5/2015 thì mức lương được điều chỉnh xuống
35.000.000đ/tháng, mặc dù việc điều chỉnh lương không có văn bản nhưng nguyên
đơn thừa nhận mức lương này đã có thỏa thuận với lãnh đạo công ty và tiếp tục làm
việc cho đến tháng 7 năm 2015, chính vì vậy Tòa án ghi nhận mức lương này của
nguyên đơn, làm cơ sở cho việc thanh toán tiền lương còn thiếu và các khoảng tiền
9
bồi thường cho nguyên đơn, mà không chấp nhận mức lương hàng tháng của nguyên
đơn là 50 triệu đồng theo yêu cầu ban đầu.
Ngày 23/6/2015 bị đơn ban hành quyết định 09/2015/Q2/QĐ-NS về việc
“Miễn nhiệm chức vụ công tác” mặc dù nguyên đơn không đồng ý nhưng không kiếu
nại và cũng không yêu cầu xem xét quyết định này, do đó Tòa án không xem xét.
Ngày 01/7/2015 bị đơn ban hành quyết định số 09/2015/Q2/QĐ-NS về việc
“Điều chuyển công tác nhân viên” và quyết định số 11/QuýII/2015/QĐ-NS về
“Mức lương cho ông Nguyễn Minh Đăng K”. Khi ban hành quyết định điều
chuyển công tác đối với nguyên đơn, phía bị đơn không thông báo thời gian điều
chuyển công tác, không thông báo trước với nguyên đơn trong hạn 03 ngày làm
việc, không xem xét điều kiện sức khỏe của người lao động khi di chuyển khoảng
cách từ Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh B, do đó, quyết định này vi phạm vào
khoản 1 và 2 Điều 31 Bộ luật lao động. Mặt khác, bị đơn cho rằng việc điều
chuyển công tác của bị đơn là do nhu cầu sản xuất kinh doanh, tuy nhiên trong nội
quy lao động của bị đơn không quy định về việc điều chuyển công tác của nhân
viên theo nhu cầu sản xuất kinh doanh do đó việc điều chuyển công tác này cũng
không phù hợp với điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-
CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
nội dung của Bộ luật lao động. Do quyết định điều chuyển công tác nhân viên nêu
trên là trái pháp luật, người lao động bị ánh hưởng bởi quyết định này phải ngừng
việc không được xem là tự ý bỏ việc mà thời gian này được xem là thời gian làm
việc thực tế của người lao động theo điểm a khoản 3 Điều 14 Nghị định
05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 và khoản 9 Điều 6 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 10/5/2013. Chính vì lý do này, việc bị đơn cho rằng nguyên
đơn đã tự ý bỏ việc và ra quyết định xử lý kỷ luật lao động đối với nguyên đơn là
trái pháp luật. Về thủ tục phiên họp, theo thư mời dự phiên họp thì bị đơn mời
nguyên đơn đến dự phiên họp vào lúc 14 giờ 30 ngày 16/7/2015, nhưng, biên bản
phiên họp ghi nhận thời gian họp là vào lúc 8 giờ 30 cùng ngày, theo giải thích của
bị đơn thì việc thay đổi thời gian tiến hành phiên họp đã được thông báo với
nguyên đơn và nguyên đơn đồng ý tham gia phiên họp, phía nguyên đơn cũng
không thừa nhận việc có tham gia phiên họp và trong biên bản phiên họp không có
chữ ký của nguyên đơn, do đó, phía bị đơn đã không chứng minh được phiên họp
xử lý kỷ luật lao động có sự tham gia của người lao động. Ngoài ra phiên họp còn
vi phạm về thành phần tham gia hội đồng xử lý kỷ luật lao động như Viện kiểm sát
Thành phố Hồ Chí Minh đã trình bày. Vì vậy, phiên họp xử lý kỷ luật lao động đã
vi phạm Điều 123 Bộ luật lao động về nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động.
Do nội dung và trình tự xử lý kỷ luật người lao động không đúng pháp luật,
nên Quyết định xử lý kỷ luật lao động số 05/Quý III-2015/QĐNS ngày 17/7/2015
về việc sa thải nguyên đơn là trái pháp luật. Cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết
định hủy quyết định xử lý kỷ luật lao động của cấp sơ thẩm.
[4] Về yêu cầu thanh toán các khoảng thu nhập chưa được nhận trong thời
gian làm việc, và bồi thường:
10
- Trong thời gian làm việc, nguyên đơn vẫn chưa nhận được lương tháng 6
và 17 ngày tiền lương tháng 7, phía bị đơn thừa nhận và đồng ý thanh toán các
khoản lương mà công ty chưa thanh toán cho nguyên đơn với mức lương
35.000.000đ, Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận khoản tiền này là đúng, Tòa án cấp
phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định này của bản án sơ thầm; tiền lương chưa
được nhận của nguyên đơn là 35.000.000 đồng + 35.000.000 đồng : 26ngày x
27ngày = 57.884.000 đồng.
- Trong thời gian nguyên đơn làm việc trong công ty từ tháng 1 đến tháng 7
năm 2015, nguyên đơn chưa được nghỉ phép. Theo khoản 1 và 2 Điều 114 Bộ luật
lao động thì thời gian người lao động chưa nghỉ phép hàng năm thì được thanh
toán bằng tiền và tính theo tỷ lệ tương ứng thời gian làm việc. Như vậy, số tiền
phép của nguyên đơn được hưởng sẽ là 07 ngày số tiền nghỉ phép là 9.423.000
đồng (35.000.000 đồng : 24ngày x 7ngày), cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết
định này của cấp sơ thẩm.
- Theo đoạn [3] phần nhận định của bản án này thì quyết định chấm dứt hợp
đồng lao động số Quyết định xử lý kỷ luật lao động số 05/Quý III-2015/QĐNS
ngày 17/7/2015 của Công ty Cổ phần T về việc sa thải ông K là đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, Bị đơn phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của
người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
theo Điều 42 Bộ luật lao động bao gồm:
- Về việc nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết: Tại
phiên tòa sơ thẩm bị đơn không đồng ý trở lại công ty làm việc và mặt khác theo
nhận định tại đoạn [3] phần nhận định của bản án này thì hợp đồng lao động của
nguyên đơn sau khi kết thúc thời gian thử việc là 02 năm từ 17/01/2015 đến ngày
17/01/2017 là kết thúc hợp đồng lao động. Nay đã quá thời hạn hợp đồng đôi bên
không có thỏa thuận về việc tiếp tục ký kết hợp đồng lao động mới nên Tòa án ghi
nhận việc đôi bên đã kết thúc hợp đồng lao động vào ngày 17/01/2017.
- Về yêu cầu trả tiền lương trong những ngày người lao động không được làm
việc: Sau khi nhận Quyết định xử lý kỷ luật lao động số 05/Quý III-2015/QĐNS
ngày 17/7/2015 của bị đơn, nguyên đơn không được làm việc đến ngày chấm dứt
hợp đồng lao động ngày 17/01/2017 tổng cộng là 18 tháng. Số tiền mà bị đơn phải
thanh toán cho nguyên đơn là 35.000.000 đồng x 18 tháng = 630.000.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tính đúng, nên cấp phúc thẩm giữ nguyên phần này của bản
án sơ thẩm.
- Về yêu cầu trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Theo thừa nhận của đôi
bên thì trong quá trình làm việc tại công ty, nguyên đơn chưa được tham gia bảo
hiểm nhưng cũng không có thắc mắc khiếu nại với công ty. Như vậy, cả nguyên
đơn và bị đơn đã vi phạm khoản 1 Điều 186 Bộ luật lao động về việc tham gia bảo
hiểm bắt buộc, do đó đôi bên đều có trách nhiệm đóng bảo hiểm theo quy định.
Theo thư mời làm việc và quyết định phân công công tác số 32/2014/QĐNS ngày
15/11/2014 thì mức lương của nguyên đơn là 50.000.000 đồng/tháng, đến tháng 5
năm 2015 đôi bên thỏa thuận mức lương 35.000.000 đồng/tháng. Mức lương này
cao hơn 20 tháng tiền lương tối thiểu chung (1.150.000 đồng/tháng x 20 tháng =
11
23.000.000 đồng) theo nghị định số 66/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính
phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng
vũ trang. Theo quy định tại khoản 3 Điều 94 luật Bảo hiểm xã hội năm 2006,
khoản 5 Điều 14 Luật bảo hiểm y tế, Điều 13 quyết định 1111/QĐ-BHXH ngày
25/10/2011 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý thu
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế, thì
Mức tiền lương, tiền công đóng BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc mà cao hơn 20
tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt
buộc bằng 20 tháng lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng. Như vậy mức đóng
bảo hiểm của nguyên đơn là 23.000.000 đồng, cấp sơ thẩm tính mức đóng bảo
hiểm của nguyên đơn theo lương thực nhận là chưa đúng, cấp phúc thẩm sửa lại
mức đóng cho đúng quy định. về tỷ lệ đóng theo quy định tại Điều 92, 100 Luật
bảo hiểm xã hội năm 2006, điểm a khoản 1 Điều 13 luật Bảo hiểm y tế, điểm a, b
khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm năm 2006 thì người sử dụng lao động đóng 22%
và người lao động đóng 10,5% theo mức đóng nêu trên. Về phương thức đóng
theo các quy định trên thì phương thức đóng là hàng tháng. Về thời gian đóng bảo
hiểm theo khoản 1 Điều 26 và điểm i khoán Điều 23 Bộ luật Lao động thì thời
gian thử việc đôi bên không phải tham gia bảo hiểm, cấp sơ thẩm tính đóng bảo
hiểm trong thời gian thử việc là chưa đúng. Cấp phúc thẩm sửa lại phần đóng bảo
hiểm như sau: bị đơn phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho
người lao động từ khi chính thức làm việc cho người sử dụng lao động tháng 1
năm 2015 đến tháng 01 năm 2017 tổng cộng là 24 tháng với số tiền 23.000.000
đồng x 22%/tháng x 24 tháng = 121.440.000 đồng. Nguyên đơn phải trích nộp bảo
hiểm với số tiền 23.000.000 đồng x 10,5%/tháng x 24 tháng) = 57.960.000 đồng.
- Về yêu cầu bồi thường ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động: đây
là yêu cầu chính đáng của nguyên đơn, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của
nguyên đơn là đúng do đó cấp phúc thẩm giữ nguyên phần này, số tiền mà bị đơn phải
bồi thường cho nguyên đơn sẽ là 35.000.000 đồng x 2 tháng = 70.000.000 đồng.
[5] Về án phí:
Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn
và số tiền phải đóng bảo hiểm theo quy định tại Pháp lệnh số 10/2009/PL-
UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án
phí, lệ phí Tòa án cụ thể: tiền lương tháng 6 và 17 ngày của tháng 7 năm 2015 là
57.884.000 đồng; tiền nghỉ phép 9.423.000 đồng;tiền bồi thường trong những ngày
không được làm việc 630.000.000 đồng; tiền bảo hiểm 121.440.000 đồng; bồi
thường 2 tháng tiền lương 70.000.000 đồng. Tổng cộng 884.384.000 đồng. Số tiền
bị đơn sẽ phải đóng án phí sẽ là 12.000.000 đồng + (888.747.000 đồng –
400.000.000 đồng) x 2% = 21.775.000 đồng (tính tròn).
Do bản án sơ thẩm bị sửa một phần nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
12
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 287; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015;
Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 22; các Điều 23, 26, 29, 38, 41, 42, 90,
96, 114, 123, 186 Bộ luật lao động năm 2012;
Áp dụng Điều 91; Điều 92; khoản 2 Điều 94, Điều 100 Luật bảo hiểm xã
hội năm 2006;
Khoản 2 Điều 14, Điều 13 Luật bảo hiểm y tế năm 2008.
Khoản 2 Điều 41, Điều 57 Luật Việc làm năm 2013.
Áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014.
TUYÊN XỬ
Sửa một phần bản án sơ thẩm:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đăng K:
a) Hủy Quyết định số 05/Quý III-2015/QĐNS ngày 17/7/2015 của Tổng
công ty cổ phần T về việc sa thải ông Nguyễn Minh Đăng K.
b) Tổng công ty cổ phần T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Minh Đăng
K số tiền như sau:
b.1) Tiền lương tháng 6 và 17 ngày của tháng 7 năm 2015 là: 57.884.000
đồng (năm mươi bảy triệu tám trăm tám mươi bốn ngàn đồng);
b.2) Tiền nghỉ phép năm 2015 là: 9.423.000 đồng (chín triệu bốn trăm hai
mươi ba ngàn đồng).
b.3) Bồi thường tiền lương trong những ngày không được làm việc là:
630.000.000 đồng (sáu trăm ba mươi triệu đồng).
b.4) Bồi thường 2 tháng tiền lương là: 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng).
Tổng cộng: 672.807.000 đồng (sáu trăm bảy mươi hai triệu tám trăm lẻ bảy đồng).
c) Tổng công ty cổ phần T có trách nhiệm nộp 121.440.000 đồng (một trăm
hai mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng) tiền bảo hiểm xã hội cho ông
Nguyễn Minh Đăng K từ tháng 1 đến năm 2015 đến tháng 1 năm 2017; ông
Nguyễn Minh Đăng K có trách nhiệm trích đóng 57.960.000 đồng (năm mươi bảy
triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng) tiền bảo hiểm xã hội từ tháng 1 năm 2015 đến
tháng 1 năm 2017 cho Tổng công ty cổ phần T để Tổng công ty đóng cùng một
lúc cho Bảo hiểm xã hội nơi Tổng công ty đăng ký và có trách nhiệm giao trả sổ
Bảo hiểm xã hội cho ông Nguyễn Minh Đăng K.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên
thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1
13
Điều 468 Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đăng K về việc đề nghị
Tổng công ty cổ phần T phải trả các khoảng tiền lương, tiền phép năm, tiền bồi
thường theo mức lương 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) một tháng.
3. Về án phí:
Ông Nguyễn Minh Đăng K không phải chịu án phí.
Công ty Cổ phần T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.775.000 đồng (hai
mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
Công ty Cổ phần T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho
Công ty Cổ phần T 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2016/0002848 ngày
02/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-TAND TC; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-TAND Cấp cao tại Tp. HCM;
-VKSND Tp.HCM;
-TAND Quận 9;
-THADS Quận 9;
- Các đương sự;
- Lưu.
Bùi Liên Minh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 16/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 12/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 11/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 09/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 08/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 03/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm