Bản án số 775/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 775/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 775/2026/DS-PT ngày 10/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 775/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HT
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 775/2026/DS-PT
Ngày: 10-6-2026
“V/v tranh chấp thừa kế; hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; hợp đồng ủy quyền;
hợp đồng vay tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
Bà Đinh Thị Ngc Yến;
Bà Dương Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Minh Tâm Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 237/2026/TLPT-DS ngày 10 tháng
4 năm 2026 về việc “Tranh chấp thừa kế; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; hợp đồng ủy quyền; hợp đồng vay tài sản” Do bản án dân sự thẩm
số 422/2025/DS-ST, ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh,
bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 231/2026/QĐ-PT ngày
14 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 363/2026/-
PT ngày 12 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Thanh H, sinh năm 1986; nơi trú: ấp B, Đ,
tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An); có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông H: Ông Trần Công T, sinh
năm 1988; Địa chỉ: Office Tel X Tòa nhà S, B N, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Thanh T1, sinh năm 1982; nơi trú: ấp C, Đ, tỉnh
Tây Ninh (trước đây là ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An); vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Hùng D, sinh năm 1976; nơi trú: số E Khu V, Đ, tỉnh
Tây Ninh (trước đây là Số 538E/1 Khu vực 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An);
vắng mặt.
3.2. Thị Bạch H1, sinh năm 1979; nơi t: ấp B, Đ, tỉnh Tây
Ninh (trước đây Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An); vắng mặt.
3.3. Thị Tuyết N, sinh năm 1983; nơi trú: ấp B, M, tỉnh Tây
Ninh (trước đây Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An); vắng mặt.
3.4. Bà Nguyễn Thị Thùy T5, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp B, M, tỉnh
Tây Ninh (trước đây là Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An); vắng mặt.
3.5. Ông Trang Minh Q, sinh năm 1983; nơi trú: s A L, phường B,
Thành ph H Chí Minh (trước đây Số A L, Phường A, Quận A, Thành phố
Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo y quyền của ông Q: Đoàn Thị M L, sinh năm
2000; nơi cư trú: Thôn M, Ô, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
3.6. Ông Âu Dương T2, sinh năm 1970; nơi cư trú: s A Cô B, phường C,
Thành ph H Chí Minh (trước đây là Số 187A Cô B, phường C, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T2: Bà Nguyễn Thị Hà Đ, sinh năm
1985; nơi cư trú: 4 B, khu ph B, phường T, Thành ph H Chí Minh; có mặt.
3.7. Bà Mai Thị Ngọc P, sinh năm 1989; vắng mặt.
3.8. Cháu Võ An P1, sinh năm 2013;
3.9. Cháu Võ Thế V, sinh năm 2015;
Người đại diện hợp pháp của cháu P1, cháu V: Ông Thanh H, sinh năm
1986 và bà Mai Th Ngc P, sinh năm 1989 ;
Cùng cư trú: ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp B, xã H, huyện Đ,
tỉnh Long An). Ông Võ Thanh H; có mặt.
3.10. Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1946; xin vắng mặt.
3.11. Bà Nguyễn Cẩm H2, sinh năm 1973; xin vắng mặt.
3.12. Ông Nguyễn Tấn P2, sinh năm 1976; xin vắng mặt.
3.13. Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1983; xin vắng mặt.
3.14. Ông Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1986; xin vắng mặt.
Cùng cư trú: ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp B, xã H, huyện Đ,
tỉnh Long An).
3.15. Ông Nguyễn Tấn T3, sinh năm 1980; nơi cu t: ấp B, xã Đ, tỉnh Tây
Ninh (trước đây Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An); vắng mặt.
3.16. Văn phòng C4.
Trụ sở: Số C, khu vực 3, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (trước đây Số C, khu V, thị
trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn H3 Trưởng văn phòng
vắng mặt.
3.17. Văn phòng C4.
Trụ sở: Đưng T, ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh (trước đây là Đưng T, p B,
xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn C1 Trưởng văn phòng; vắng
mặt.
3.18. Huỳnh Thị Y, sinh năm 1973; nơi trú: số A B, phường C,
Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
3.19. Bà Trần Thị Hồng M, sinh năm 1983; nơi cư trú: C đường s I C Đài
Ra Đa P, phường P, Thành ph H Chí Minh; vắng mặt.
3.20. Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Trụ sở: 666 đường tỉnh 824, ấp C, Đ, tỉnh Tây Ninh; đơn xin xét x
vắng mặt.
4. Người kháng cáo: ông Trang Minh Q ông Âu Dương T2 người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
5. Kháng nghị số 14/-VKS-DS ngày 13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 3 - Tây Ninh.
NỘI DUNG VÁN:
Theo đơn khởi kiện đngày 06/10/2023, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung
ngày 18/7/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Thanh H
trình bày:
Ông Hùng C2 Nguyễn Thị Minh T4 chung sống được có 05
người con gồm: Hùng D, sinh năm 1976; Th Bch H1, sinh năm 1979;
Thanh T1, sinh năm 1982; Thị Tuyết N, sinh năm 1983; Võ Thanh H, sinh
năm 1986. Hai ông cùng tạo lập được tài sản bất động sản tại ấp B, xã H,
huyện Đ, tỉnh Long An. Ông C2 chết năm 2002 T4 chết năm 2023, cả hai
đều không để lại di chúc.
Về nguồn gốc tài sản được xác lập vào ngày 22/9/2001, khi ông Hùng
C2 Nguyễn Thị Minh T4 mua đất của ông Nguyễn Thị C3 ông Nguyễn
Văn Ú với diện tích ngang 9,0 m x 71m tổng diện tích khoảng 639m², thỏa thuận
mua bán viết giấy tay. Sau đó, ông Võ Hùng C2 và Nguyễn Thị Minh T4 thực
hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, đến năm 2002 gia đình ông C2 T4
có xây cất căn nhà cấp 4, ông H cùng mẹ sinh sống từ thời gian đó cho đến tháng
01/2023 thì mẹ ông chết. Hiện tại, ông vẫn người quản sinh sống trên phần
đất này. Sau khi mẹ ông chết vào tháng 01/2023, ông mới biết thửa đất căn nhà
gia đình ông đang sinh sống đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AD 240803 thuộc thửa đất số 2659, tờ bản đsố 04,
tọa lạc tại ấp B, H, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông Thanh T1 ngày
05/8/2005. Hiện nay, ông được biết vợ chồng ông Thanh T1, Nguyễn Thị
Thùy T5 đã ký hợp đồng ủy quyền toàn bộ thửa đất 2659 cho ông Trang Minh Q
được toàn quyền quyết định thửa đất mà ông đang sinh sống. Hợp đồng ủy quyền
được lập tại Văn phòng C4 số 841 ngày 09/3/2023, sau đó ông Q hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho ông Âu Dương T2.
Nay ông Võ Thanh H khởi kiện với yêu cầu:
- hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất số 542 giữa
Nguyễn Thị C3 ông Võ Thanh T1 ngày 17/6/2005, được Ủy ban nhân dân xã
H, huyện Đ, tỉnh Long An chứng nhận ngày 29/6/2005.
- hiệu hợp đồng y quyền được kết ngày 09/3/2023 giữa ông
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4,
quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
- hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất kết ngày
17/08/2023 giữa ông Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh
Q đại diện và ông Âu Dương T2, được Văn phòng C4, quyển s 08/2023TP/CC-
SCC/HĐGD.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hình thức
giấy tay giữa Nguyễn Thị C3, ông Nguyễn Văn Ú ông Hùng C2 ngày
22/9/2001. Xác định quyền sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 2659, tờ bản đồ số
4, tọa lạc tại ấp B, H, huyện Đ, tỉnh Long An di sản của ông C2, T4 đ
lại.
- Chia di sản thừa kế của ông Hùng C2 và bà Nguyễn Thị Minh T4 đ
lại quyền sử dụng phần đất, thuộc thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại
ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, thành 05 kỷ phần bằng nhau, ông H yêu cầu
được nhận đất và đồng ý giao giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế khác.
Ông H thống nhất theo ranh bản đồ địa chính của Mảnh trích đo địa chính
số 118-2024 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày
09/4/2024; thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tài sản trên đất theo Chứng thư
thẩm định giá số 148/17/04/2024/TĐG LA–BĐS ngày 17/4/2024 của Công ty cổ
phần T6.
Bị đơn ông Thanh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
không có ý kiến trình bày.
Theo đơn yêu cầu độc lập đề ngày 07/7/2025 và trong quá trình giải quyết
vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trang Minh Q trình bày:
Sau khi nhận được thông báo số 556/2023/TB-TLVA ngày 10/10/2023 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3Tây Ninh, ông Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của ông Võ Thanh H bởi các lý do như sau:
Ông Võ Thanh T1 và bà Nguyễn Thị Thùy T5 là chủ sử dụng phần đất có
diện tích 300m², thuộc thửa đất số 2659 (thửa mới 156, 157), tờ bản đồ số 4, đất
tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Hộ ông bà Võ Thanh T1 được Ủy
ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/08/2005.
Nguồn gốc đất do ông T1 nhận chuyển nhượng. Do cần số vốn để làm ăn, ông T1
T5 đến hỏi mượn ông Tranh Minh Q1 số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn
tỷ đồng). Ngày 09/3/2023 giữa ông Q1 vợ chồng ông T1, T5 lập giấy
thỏa thuận, trong giấy thỏa thuận thể hiện ông T1, bà T5 mượn ông Quân số
tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng). Đồng thời ông T1, T5 ký hợp đồng y
quyền phần đất thuộc thửa đất số 2659 (thửa mới 156, 157), tờ bản đsố 4, đất
tọa lạc tại p B, H, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông T1, T5 cam kết trong
vòng 02 tháng ông T1, T5 không đóng tiền lãi cho ông Q1 thì ông Q1 được
quyền ký chuyn nhượng thửa đất trên cho người khác.
Cùng ngày 09/3/2023 ông T1, T5 lập giấy nhận tiền thừa nhận
nhận của ông Quân S tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng). Trong ngày
09/3/2023 ông T1, T5 hợp đồng y quyền cho ông Q1 phần đất thuộc
thửa đất số 2659 (thửa mới 156, 157), tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, H,
huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng ủy quyền công chứng số 841, quyển số
03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/3/2023 tại văn phòng C4. Theo như giấy
thỏa thuận ngày 09/3/2023 ông T1, T5 có cam kết với ông Q1 nếu trong vòng
02 tháng ông T1, bà T5 không trả lãi cho ông Q1 thì ông Q1 được quyền chuyển
nhượng cho người khác. Ông Q1 liên hệ với ông T1, T5 về việc đóng lãi
của số tiền 4.000.000.000 đồng nhưng ông T1, T5 vẫn không đóng, ông Q1
yêu cầu ông T1, bà T5 chuộc lại thửa đất nêu trên và đồng thời trả lại cho ông số
tiền 4.000.000.000 đồng nhưng phía ông T1, bà T5 vẫn không đồng ý.
Ngày 17/8/2023 ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 người đại
diện Trang Minh Q chuyển nhượng phần đất thuộc thửa đất số 2659 (thửa
mới 156, 157), tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
cho ông Âu Dương T2 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất công
chứng s4482, quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/8/2023 tại văn
phòng C4. Ông Q cho rằng, phần đất thuộc thửa đất số 2659 (thửa mới 156, 157),
tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại p B, H, huyện Đ, tỉnh Long An tài sản hợp
pháp của vợ chồng ông T1, T5. Ông T1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/8/2005 là hoàn toàn hợp pháp, đúng
pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện “Hủy hợp đồng y quyền, hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và chia thừa kế” của ông Võ Thanh H là hoàn toàn không có căn cứ,
ông Q không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thanh H. Ông
Trang Minh Q khởi kiện độc lập yêu cầu:
- Công nhận hợp đồng ủy quyền được ký kết ngày 09/3/2023 giữa ông
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4,
quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
- Trong trường hợp Tòa áncăn cứ vô hiệu hợp đồng ủy quyền được ký
kết ngày 09/3/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang
Minh Q, được văn phòng C4 công chứng số 841, quyển số 03/2023TP/CC-
SCC/HĐGD thì yêu cầu Tòa án buộc ông Thanh T1 Nguyễn Thị Thùy
T5 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trang Minh Q số tiền 4.000.000.000đồng và
tiền lãi theo mức lãi suất 1.67%/tháng tính từ ngày 09/5/2023 đến 09/3/2024
668.000.000đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Ông Q thống nhất theo ranh bản đồ địa chính của Mảnh trích đo địa chính
số 118-2024 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày
09/4/2024; thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tài sản trên đất theo Chứng thư
thẩm định giá số 148/17/04/2024/TĐG LA–BĐS ngày 17/4/2024 của Công ty cổ
phần T6.
Theo đơn yêu cầu độc lập đề ngày 24/7/2025 và trong quá trình giải quyết
vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Âu Dương T2 ý kiến trình
bày:
Sau khi nhận được thông báo s556/2023/TB-TLVA ngày 10/10/2023 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 Tây Ninh, ông T2 không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của ông Võ Thanh H bởi các lý do như sau:
Theo ông được biết tphần đất diện tích 300m², thuộc thửa đất số 2659
(thửa mới 156, 157), tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, H, huyện Đ, tỉnh Long
An (nay là ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh) tài sản hợp pháp của ông Thanh T1
Nguyễn Thị Thùy T5. Hộ ông bà Thanh T1 được Ủy ban nhân dân huyện
Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/08/2005.
Ngày 17/8/2023 ông Thanh T1 Nguyễn Thị Thùy T5 người đại
diện theo y quyền là ông Trang Minh Q theo Hợp đồng ủy quyền công chứng số
841, do văn phòng C4 chứng nhận ngày 09/3/2023 ký chuyn nhượng qua cho
ông phần đất có diện tích 300m², thuộc thửa đất số 2659 (thửa mới 156, 157), tờ
bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh theo hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4482, quyển số 08/2023TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 17/8/2023 tại văn phòng C4. Ông cho rằng đây tài sản hợp
pháp của ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5, cho nênT5, ông T1
ký ủy quyn cho ông Trang Minh Q để thực hiện các nội dung trong hợp đồng ủy
quyền ngày 09/3/2023 tại văn phòng C4. Sau đó, ông đồng ý nhận chuyển nhượng
phần đất có diện tích 300m², thuộc thửa đất số 2659 (thửa mới 156, 157), tờ bản
đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, Đ, tỉnh Tây Ninh với giá chuyển nhượng
4.200.000.000 đồng (Bốn tỷ hai trăm triệu đồng) theo hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất công chứng số 4482, quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 17/8/2023 tại văn phòng C4. Ông cho rằng, phần đất thuộc thửa đất số 2659
(thửa mới 156, 157), tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, Đ, tỉnh y Ninh
tài sản hợp pháp của vợ chồng ông T1, bà T5. Ông T1, T5 được Ủy ban nhân
dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/8/2005 hoàn toàn
hợp pháp, đúng pháp luật.
Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thanh H. Ông
T2 khởi kiện độc lập với yêu cầu:
- Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
17/08/2023 giữa ông Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh
Q đại diện ông Âu Dương T2, đưc Văn phòng C4, tỉnh Long An, số công
chứng 4482, quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
- Trường hợp Tòa án có căn cứ tuyên vô hiệu hợp đồng theo yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng
vô hiệu, sau này có tranh chấp ông sẽ yêu cầu trong vụ án khác.
Ông T2 thống nhất theo ranh bản đồ địa chính của Mảnh trích đo địa chính
số 118-2024 do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày
09/4/2024; thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tài sản trên đất theo Chứng thư
thẩm định giá số 148/17/04/2024/TĐG LA–BĐS ngày 17/4/2024 của Công ty cổ
phần T6.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ú, ông Nguyn
Hoàng G, ông Nguyễn Tấn T3, ông Nguyễn Tấn P2, Nguyễn Cẩm H2, ông
Nguyễn Minh C có bản ý kiến thống nhất trình bày:
Vào năm 2001, ông Võ Hùng C2 và Nguyễn Thị Minh T4 có mua mảnh
đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn Ú và bà Nguyn Th C3 với diện tích: ngang
9m dài hết đất khoảng 72m tổng diện tích khoảng 648m
2
, thỏa thuận mua bán
bằng hình thức viết giấy tay ông Ú, C3 đã bàn giao đất với diện tích trên
cho ông C2 và bà T4 sdụng. Năm 2002, bà Nguyn Th Minh T4 cất căn n
cấp 4 đở và hiện nay mcủa ông C2T4 đang nằm trên thửa đt này.
Đối với tất cả yêu cầu khởi kiện của ông T1 yêu cầu độc lập của người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, các ông không ý kiến hay yêu
cầu trong vụ án này. Không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng
vô hiệu. Do bận việc nên các ông, bà đề nghị Tòa án cho vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án.
Theo bản tự khai đề ngày 07/10/2023, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Hùng D, Thị Bạch H1, bà Thị Tuyết N thống nhất trình
bày:
Ông, hoàn toàn đồng ý về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về nguồn
gốc tài sản đưc xác lập vào ngày 22/9/2001, cha mẹ ông bà là ông Hùng C2
Nguyễn Thị Minh T4 trực tiếp mua đất của Nguyễn Thị C3 và ông
Nguyễn Văn Ú với diện tích ngang 9m dài 71m tổng diện tích khoảng 639m², việc
mua bán đất được lập bằng giấy viết tay. Đến năm 2002 gia đình ông cất
căn nhà cấp 4 để cùng chung sống, đến lúc ông D trưởng thành lập gia đình thì
ông được cha mẹ hỗ trợ cho ra ở riêng và hiện nay đã có nơi ở ổn định. Riêng bà
H1bà N hiện đang chung sống cùng gia đình ông H tại căn nhà cấp 4 trên thửa
đất đang tranh chấp.
Về việc phân chia di sản các ông, bà không tranh chấp phần di sản thừa kế
của cha mẹ để lại đồng ý để lại cho ông Thanh H người duy nhất được
ởng vì ông H người trực tiếp quản lý thửa đất này t trước đến nay theo
di nguyện của cha mcác ông thì ông H người được hưởng, phần m
của cha mẹ các ông hiện nay ng đang nằm trên thửa đất này đều do ông H
chăm sóc, thờ phụng.
Theo bản t khai đ ngày 18/7/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Mai Thị Ngọc P có ý kiến trình bày:
ông Thanh H kết hôn t năm 2012, đến nay đã với nhau hai
người con chung. Từ khi kết hôn đến nay, vợ chồng luôn sinh sống n định
trên phần đất và căn nhà tọa lạc tại thửa đất số 2659, tờ bản đsố 04, xã H, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh). Căn nhà hiện tại do cha mẹ chồng
ông Võ Hùng C2 và bà Nguyễn Thị Minh T4 tạo lập, xây dựng từ trước khi cha
mẹ chồng qua đời, sau đó vợ chồng bà có sửa chữa lại. Sau khi ông C2T4
mất, gia đình bà vẫn tiếp tục sinh sống tại đây. Công C2T4 đều được mai
táng ngay trên phần đất này kể từ đó đến nay, chính vợ chồng người trông
nom, giữ gìn phần đất cũng như hương khói thờ cúng ông bà. Thửa đất này cũng
nơi duy nhất mà vợ chồng các con sử dụng làm nơi ở, làm ăn sinh
sống.
vậy, bà hoàn toàn đồng ý các yêu cầu khởi kiện của ông Thanh H
tin tưởng vào sự xem xét toàn diện, công bằng và khách quan của Tòa án để đảm
bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của gia đình bà những người đã gắn bó, gìn
giữ và thờ phụng trên mảnh đất này trong suốt nhiều năm qua. Ngoài ra bà không
yêu cầu khác. Do bận việc nên đề nghị Tòa án cho được vắng mặt
trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Theo bản tự khai đề ngày 26/10/2023, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị Thùy T5 có ý kiến trình bày:
Tài sản là phần đất tranh chấp được xác lập vào ngày 22/9/2001 do cha mẹ
chồng của ông Võ Hùng C2 Nguyễn Thị Minh T4 trực tiếp mua đất
của Nguyễn Thị C3 ông Nguyễn Văn Ú với diện tích ngang 9m dài 71m
tổng diện tích khoảng 639m², việc mua bán được lập bằng giấy viết tay vào ngày
22/9/2001. Hiện trạng thửa đất đang tranh chấp được mẹ chồng là bà Nguyễn Thị
Minh T4 đồng ý cho vợ chồng một phần diện tích, nên vchồng mới tiến
hành các thủ tục đỦy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số số AD 240803 thuộc thửa đất 2659, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp B, xã H,
huyện Đ, tỉnh Long An.
Tuy nhiên, thửa đất này do Nguyễn Thị Minh T4 ông Thanh H
quản lý và sử dụng từ 2001 đến nay. Do vậy đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn đnghị Tòa án chia di sản theo đúng quy định của pháp luật.
không ý kiến yêu cầu trong vụ án. Do bận việc nên đề nghị Tòa án cho
được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Nời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Hồng M vắng mặt
ý kiến trình bày tại bản tự khai đề ngày 28/7/2025 như sau:
vợ của ông Trang Minh Q, ông Q được xác định người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đồng thời ông Trang Minh Q yêu cầu độc
lập trong vụ án. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Trang Minh Q trong
vụ án này.
Nời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Y vắng mặt, có ý kiến
trình bày tại bản tự khai đề ngày 28/7/2025 như sau:
vợ của ông Âu Dương T2, ông T2 được xác định người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đồng thời ông Âu Dương T2 yêu cầu độc
lập về việc công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất
được giữa ông Thanh T1 và Nguyễn Thị Thùy T5 người đại diện theo
ủy quyền là ông Trang Minh Q (theo hợp đồng ủy quyền công chứng số 841, do
công chứng viên văn phòng C4 chứng nhận ngày 09/3/2023) chuyển nhượng
qua cho ông Âu Dương T2 phần đất diện tích 300m², thuộc thửa đất số 2659
(thửa mới 156, 157), tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh theo
hợp đồng chuyn nhượng quyền s dụng đất công chứng số 4482, quyển số
08/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/8/2023 tại văn phòng C4. thống nhất với
yêu cầu khởi kiện của ông Âu Dương T2 trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Văn phòng C4 xin vắng mặt có văn
bản ý kiến trình bày:
Văn phòng C4 thực hiện việc công chứng hợp đồng ủy quyền được ký kết
ngày 09/3/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang
Minh Q, công chứng s841, quyển s 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản
thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại p B, H, huyện Đ, tỉnh Long
An là đúng trình tthủ tục theo quy định của pháp luật. Văn phòng C4 đnghị
Tòa án cho vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Văn phòng C4 xin vắng mặt có văn
bản ý kiến trình bày:
Văn phòng C4 thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyn nhượng quyền
sử dụng đất kết ngày 17/08/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy
T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông Âu Dương T2, công chứng số 4482,
quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thửa đất số 2659, tờ bản đồ số
4, đất tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là đúng trình tự thủ tục theo
quy định của pháp luật. Văn phòng C4 đnghị Tòa án cho vắng mặt trong suốt
quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh Tây
Ninh có văn bản ý kiến trình bày:
Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh Tây Ninh nhận được văn bản của Tòa án
nhân dân khu vực 3-Tây Ninh, Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh Tây Ninh kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đ
nghị Tòa án giải quyết v án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, đã tiến hành mở phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, kết quả hòa giải không
được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa thẩm, các đương sự xác định không cung cấp chứng cứ, tài
liệu mới, không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng.
Nguyên đơn ông H bổ sung yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dng
đất số AD 240803 đối với thửa đất số 2659, tờ bản đồ s04 tọa lạc tại p B,
H, huyện Đ, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Thanh
T1 ngày 05/8/2005.
Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Trang Minh Q bổ sung yêu cầu: Trong trường hợp Tòa án có căn cứ vô hiệu
hợp đồng ủy quyền được kết ngày 09/3/2023 giữa ông Thanh T1,
Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4 công chứng số
841, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD thì yêu cầu Tòa án buộc ông Thanh
T1, Nguyễn Thị Thùy T5, ông Nguyễn Văn Ú và những người kế thừa quyền
và nghĩa vtố tụng của bà Nguyễn Thị C3 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trang
Minh Q số tiền 4.000.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1.67%/tháng tính
từ ngày 09/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/9/2025 là 1.774.653.322đồng.
Đối với hợp đồng ủy quyền giữa ông T1, T5 ông Q hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông T2: hợp đồng ủy quyền để
đảm bảo cho hợp đồng vay tài sản, trên đất tài sản của gia đình ông H, hợp
đồng chuyển nhượng hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, ông Q chưa nhận đất
cũng chưa bàn giao đất cho ông T2 quản sử dụng, Điều 327 Bộ luật Dân sự nếu
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vay thì chịu lãi chứ không được bán đất, đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ Điều 124, Điều 408, Điều 503 Bộ luật Dân sự, Điều 95 Luật
Đất đai vô hiệu các hợp đồng trên; Đối với yêu cầu chia thừa kế: Xác định quyền
sử dụng thửa đất 2659 là di sản do ông C2T4 để lại, chia thành 05 kỷ phần giá
trị mỗi kỷ phần 905.805.200đồng. Ông H đề nghị được nhận đất hoàn trả giá
trị cho các đồng thừa kế.
Nời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Âu Dương T2 tranh luận: Ông
nhận chuyển nhượng thửa đất 2659 hợp pháp từ ông Q nên đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông.
Tại bản án dân sự thẩm số 422/2025/DS-ST ngày 29/9/2025, của Tòa án
nhân dân khu vực 3 -Tây Ninh đã xử.
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều
157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 411 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 124, 129, 131, 357, 408, 468, 609, 612,
618, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 02/2004/NQ-
HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị Quyết
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
Tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thanh H đối với
bị đơn ông Ông Võ Thanh T1.
1.1 Vô hiệu hợp đồng chuyển nợng quyền sử dụng đất số 542 giữa
Nguyễn Thị C3 ông Võ Thanh T1 ngày 17/6/2005, được Ủy ban nhân dân xã
H, huyện Đ, tỉnh Long An chứng nhận ngày 29/6/2005.
1.2 hiệu hợp đồng ủy quyền được kết ngày 09/3/2023 giữa ông Võ
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4,
quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
1.3 hiệu hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất kết ngày
17/08/2023 giữa ông Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh
Q đại diện và ông Âu Dương T2, được Văn phòng C4, quyển s 08/2023TP/CC-
SCC/HĐGD.
1.4 Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hình thức
giấy tay giữa Nguyễn Thị C3, ông Nguyễn Văn Ú ông Hùng C2 ngày
22/9/2001. Xác định quyền sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 2659, tờ bản đồ số
4 (thửa mới 156, 157, tờ bản đồ số 60) tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long
An là di sản của ông C2, bà T4 để lại.
1.5 Công nhận sự tự nguyện tặng cho kphần thừa kế tài sản là gtrị quyền
sử dụng đất giữa người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hùng D,
Thị Bạch H1, bà Thị Tuyết N với nguyên đơn ông Võ Thanh H.
1.6 Ông Thanh H được nhận, quản sử dụng quyền sử dụng đất
thuộc các thửa đất 2659, tờ bản đồ số 4 (thửa mới 156, 157, tờ bản đồ số 60) tọa
lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, diện tích đo đạc thực tế là 297m², din
tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 297m², loại đất trồng lúa. Vị trí,
tứ cận theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 đo vẽ
ngày 28/3/2024 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt
ngày 09/4/2024.
1.7 Ông Võ Thanh H có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền về cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc đề nghị
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của
Tòa án đối với thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 4 (thửa mới 156, 157, tờ bản đồ số
60) tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Đ, tỉnh Tây Ninh).
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án của Tòa án
để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dng
đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
1.8 Buộc ông Âu Dương T2 nghĩa vụ hoàn trả Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số AD 240803
do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Thanh T1 ngày 05/8/2005 đông
Thanh H liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
1.9 Ông Võ Thanh H nghĩa vụ thanh toán cho ông Võ Thanh T1 giá trị
kỷ phần thừa kế ông T1 được hưởng 788.832.000 đồng. Tạm giao kphần thừa
kế mà ông T1 được hưởng cho ông H quản lý.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Trang Minh Q v
việc yêu cầu công nhận hợp đồng y quyền được ký kết ngày 09/3/2023 giữa ông
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng
C4, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Trang Minh Q đối với ông
Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5.
3.1 Buộc ông Võ Thanh T1 Nguyễn Thị Thùy T5 nghĩa vụ liên
đới hoàn trả cho ông Trang Minh Q tổng số tiền vay gốc, lãi tính đến ngày
26/9/2025 là 5.774.653.322đồng.
3.2 Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Únhững người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C3 nghĩa vụ liên đới cùng
ông Võ Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang Minh Q.
3.3 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải
thi hành án theo mức lãi suất 1,67%/tháng, trừ trường hợp c bên thỏa thuận
khác.
4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Âu Dương T2 vviệc công
nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/08/2023 giữa
ông Võ Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông
Âu Dương T2, được Văn phòng C4, tỉnh Long An công chứng số 4482, quyển s
08/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ
chậm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện ông Q trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu cấp phúc
thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trang Minh Q;
Công nhận hợp đồng ủy quyền giữa ông Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy
T5 và ông Trang Minh Q, được văn phòng C4, quyển số 03/20231P/CC-SCC/HĐ;
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng số 4482, quyển s 08/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 17/8/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 (có
người đại diện theo ủy quyền là ông Q) và ông Âu Dương T2 là có hiệu lực.
Ông Q đồng ý tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo hp đồng chuyển nhượng
số 4482, quyển số 08/ 2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/8/2023 đối với ông Âu
Dương T2.
Đại diện ông T2 trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu cấp phúc
thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1, T5,
ông Q với ông T2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Q.
Công nhận hợp đồng ủy quyền giữa ông Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy
T5 ông Trang Minh Q, được n phòng C4, quyển s 03/20231P/CC-
SCC/HĐ;
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng số 4482, quyển s08/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 17/8/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 (có
người đại diện theo ủy quyền là ông Q) và ông Âu Dương T2 là có hiệu lực pháp
luật.
Buộc ông T1, T5 (người đại diện ông Q) đồng ý tiếp tục thực hiện tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng với ông Âu Dương T2.
Ông H trình bày: Phần đất mẹ ông T4 ông C2 mua giấy tay của
C3ông Ú 9,0 m x 71m = 639 m
2
, ông T1 đứng tên 300 m
2
. Còn lại 339 m
2
,
ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do mẹ ông T4
khai cho ông đứng tên, ông xây căn nhà cấp 4 trên đất sinh sống. Năm 2022,
đổi lại giấy đất ông mới biết ông đứng tên quyền sử dụng đất. Sau khi bà T4 chết
ông mới biết ông T1 đứng tên đất, ông không đồng ý kháng cáo của ông Q và ông
T2 yên cầu cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H trình bày: Đối với hợp
đồng ủy quyền giữa ông T1, T5ông Q hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Q và ông T2: hợp đồng ủy quyền để đảm bảo cho hợp đồng
vay tài sản, trên đất tài sản của gia đình ông H, hợp đồng chuyển nhượng
hiệu lực kể từ thời điểm đăng , ông Q chưa nhận đất cũng chưa bàn giao đất
cho ông T2 quản lý sử dụng, Điều 327 Bộ luật Dân sự nếu vi phạm nghĩa vụ hp
đồng vay thì chịu lãi chứ không được bán đất, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ
Điều 124, Điều 408, Điều 503 Bộ luật Dân sự, Điều 95 Luật Đất đai vô hiệu các
hợp đồng trên. Bản án sơ thẩm phù hợp với quan điểm Viện kiểm sát của khu vc
nên đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của ông Q và ông T2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy
đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, b đơn đã thực hiện đầy đ
quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Qua xem xét hồ sơ vụ án và yêu cầu kháng cáo của ông Trang
Minh Q, ông Âu Dương T2 kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân
dân khu vực 3, nhận thấy:
Ông H khởi kiện yêu cầu: hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa Nguyễn Thị C3 và ông Võ Thanh T1 ngày 17/6/2005, được Ủy ban
nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An chứng nhận ngày 29/6/2005; vô hiệu hợp
đồng ủy quyền được kết ngày 09/3/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn
Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4; hiệu hợp đồng chuyn
nhượng quyền sử dụng đất kết ngày 17/08/2023 giữa ông Thanh T1,
Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông Âu Dương T2, được
Văn phòng C4; công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hình
thức giấy tay giữa Nguyễn Thị C3, ông Nguyễn Văn Ú ông Hùng C2
ngày 22/9/2001; xác định quyền sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 2659 di sản
của ông C2, bà T4 để lại và chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thành 05 kỷ
phần bằng nhau, ông yêu cầu được nhận đất đồng ý giao giá trị kphần cho
các đồng thừa kế khác. Tại phiên tòa thẩm, ông H bổ sung yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2659 cấp cho ông Võ Thanh
T1 ngày 05/8/2005.
Ông Q yêu cầu độc lập: công nhận hợp đồng ủy quyền được kết ngày
09/3/2023 giữa ông Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh
Q, được văn phòng C4; Trường hợp Tòa án có căn cứ vô hiệu hợp đồng ủy quyền
thì yêu cầu Tòa án buộc ông Thanh T1 Nguyễn ThThùy T5 liên đới trả
cho ông Quân S tiền 4.000.000.000đồng tiền lãi theo mức lãi suất 1.67%/tháng
tính từ ngày 09/5/2023 đến 09/3/2024 668.000.000đồng, yêu cầu tiếp tục tính
lãi cho đến khi xét x thẩm. Tại phiên tòa thẩm, ông Q bổ sung yêu cầu
trong trường hợp Tòa án căn cvô hiệu hợp đồng y quyền tyêu cầu Tòa án
buộc ông T1, bà T5, ông Nguyễn Văn Ú và những người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C3 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Trang Minh Q
4.000.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1.67%/tháng tính từ ngày
09/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/9/2025 là 1.774.653.322 đồng.
Ông T2 yêu cầu độc lập: công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 17/08/2023 giữa ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy
T5 do ông Trang Minh Q đại diện ông Âu ơng T2, được Văn phòng C4;
không yêu cầu giải quyết hậu quả trong trường hợp hợp đồng vô hiệu.
Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định thửa
2659 là di sản thừa kế của bà T4, ông C2; vô hiệu các HĐUQ giữa ông T1, T5
với ông Q HĐCN QSD đất giữa ông T1 T5 do ông Q đại diện với ông T2;
buộc ông T1 T5 liên đới trả tiền vay tiền lãi cho ông Q. Ông Q ông T2
có đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận yêu cầu độc lập của hai ông.
Xét thấy, về việc thu thập chứng cứ của Tòa sơ thẩm:
Tại các Bản ý kiến trình bày của các ông bà Nguyễn Văn Ú, Nguyn Minh
C, Nguyễn Cẩm H2, Nguyễn Tấn P2, bản tự khai của các ông bà Hùng D,
Thị Bạch H1, Thị Tuyết N, Võ Thị Hồng M1, Huỳnh Thị Y, Mai Thị Ngọc P,
Nguyễn Thị Thùy T5... chữ (lăn tay ca ông Ú) nhưng không xác nhận
của cơ quan có thẩm quyn đây là chữ ký của chính các đương sự này nên không
thể xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 93, 94 và 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo T5 trình bày thì phần đất tranh cấp ca cha mchồng chuyển
nhượng của C3, ông Ú tổng diện ch khoảng 639m
2
, mẹ chồng T4
đồng ý cho vợ chồng một phần diện tích nên vợ chồng mới tiến nh
khai đăng ký được cấp GCNQSD đất. Tuy nhiên Tòa thẩm chưa m rõ
do năm 2001 ông Ú bà C3 chuyển nhượng đất cho ông C2 T4 nhưng tại sao
năm 2005 C3 lại lập HĐCN QSD đất cho ông T1 diện tích 300m
2
? Đây phải
là ý kiến của T4 không? Ông T1 có hùn tiền mua đất không?
Những nội dung trên cần được Tòa án thu thập, làm mi đ căn c
xem xét giải quyết vụ án.
Về kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây
Ninh:
Theo đơn yêu cầu độc lập ghi ngày 07/7/2025, thông báo về việc thụ lý yêu
cầu độc lập số 03/2025/TB-TLTA ngày 10/7/2025 biên bản về kiểm tra việc
giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 08/8/2025: Ông Trang Minh Q yêu
cầu trường hợp Tòa án căn cứ hiệu hợp đồng ủy quyền được kết ngày
09/3/2023 giữa ông Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh
Q, được văn phòng C4 công chứng số 841, quyển s 03/2023TP/CC- SCC/HĐGD
thì yêu cầu Tòa án buộc ông Võ Thanh T1 Nguyễn Thị Thùy T5Trang
nghĩa vụ liên đới trcho ông Trang Minh Q stiền 4.000.000.000 đồng tiền
lãi theo mức lãi suất 1.67%/tháng tạm tính từ ngày 09/5/2023 đến 09/3/2024
668.000.000đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông Trang Minh Q là ông
Đỗ Anh H4 có yêu cầu bổ sung: Trường hợp có căn cứ chia thừa kế đề nghị ông
T1, bà T5, ông Ú những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà C3
trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Quân số tiền gốc 4.000.000.000 đồng và tiền
lãi theo mức lãi suất 1.67% t ngày 09/7/2023 đến ngày xét xử thẩm. Xét thấy,
yêu cầu này phát sinh sau khi Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ như Tòa án đã nhận định tại mục [2.5.2]
trang 18 Bản án: “...Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Únhững người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C3 nghĩa vụ liên đới cùng
ông Võ Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang Minh Q, yêu
cầu này tại phiên tòa vượt quá phạm vi khởi kiện nên Hội đồng xét xử không
xem xét. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án, Tòa án đã tuyên: Không chấp
nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Ú và những người thừa kế quyền nghĩa
vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C3 có nghĩa vụ liên đới cùng ông Võ Thanh T1,
Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang Minh Q và buộc ông Trang Minh Q
trả 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu buộc liên đới không được chấp nhận
mâu thuẫn. Yêu cầu buộc liên đới của ông Trang Minh Q không được Tòa án xem
xét, thụ bổ sung yêu cầu khởi kiện nên không phải yêu cầu độc lập. Tòa án
tuyên không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Ú và những người thừa kế
quyền nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị C3 nghĩa vụ liên đới cùng ông
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang Minh Q buộc
ông Q chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận vượt quá phạm vi yêu
cầu độc lập ban đầu của đương sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự.
Ngoài ra, Bản án tuyên buộc ông Võ Thanh T1 bà Nguyễn Thị Thùy T5
có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trang Minh Q tổng số tiền vay gốc, lãi tính
đến ngày 26/9/2025 5.774.653.322 đồng, theo quy định tại khoản 6 Điều 26
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì ông T1T5 phải chịu
án phí có giá ngạch là 113.774.653 đồng nhưng Tòa án không tuyên buộc án phí
đối với ông T1, bà T5 là thiếu sót, không đúng quy định của pháp luật.
Theo các phân tích trên tphần quyết định của bản án tuyên ợt quá phạm
vi yêu cầu độc lập ban đầu của đương sự sai án phí nên kháng nghị của Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.
Do Tòa sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để sở xem xét giải
quyết vụ án, Tòa phúc thẩm không khắc phục được nên đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận kháng nghị của Viện KSND khu vực C5-Tây Ninh, chấp nhận kháng
cáo của ông Trang Minh Q, ông Âu Dương T2, căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa khu vực giải quyết lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên tòa căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 29/9/2025, cấp sơ thẩm tuyên án. Ngày 07/10/2025 ông Trang Minh
Q kháng cáo. Ngày 13/10/2025, ông Âu Dương T2 kháng cáo. Ngày 13/10/2015
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 kháng nghị. Kháng cáo của ông Q ông T2
và kháng nghị của Viện kiểm sát trong thời hạn theo quy định tại Điều 271 Điều
273 Điều 278 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Trang Minh Q và ông Âu Dương T2 thấy rằng:
[2.1] Ông H cho rằng cha ông ông Võ Hùng C2 sinh năm 1943 (chết năm
2002), mẹ bà Nguyễn Thị Minh T4, sinh năm 1951 (chết năm 2023). Ông C2, bà
T4 có 05 người con gồm: Ông Võ Hùng D, sinh năm 1976; bà Th Bch H1,
sinh năm 1979; ông Thanh T1, sinh năm 1982; bà Th Tuyết N sinh năm
1983; Võ Thanh H, sinh năm 1986. Cha mẹ ông C2, bà T4 và ông C2 chết trước,
T4 và ông C2. Bà thúy và ông C2 không có cha mẹ nuôi và con nuôi.
Ngày 22/9/2001, bà Nguyễn Thị Minh T4 và ông Võ Hùng C2 có mua của
ông Nguyễn Văn Ú và bà Nguyn Th C3 phần đất có diện tích 9,0 m x 71 m với
giá 01 mét ngang là 12,5 chỉ vàng 10. Tổng cộng 100 chỉ (bút lục 7). Năm 2002,
T4 ông C2 cất nhà trên đất sinh sống. Nên diện tích ông T1 được ủy ban
nhân dân xã Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định của
pháp luật nên đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1 đ
nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1, T5, ông
Q với ông T2 chia di sản thừa kế diện tích 300 m
2
.
[2.2] Xét thấy: giấy tay ngày 22/9/2001, bà Nguyễn Thị Minh T4 ông
Hùng C2 cha mẹ của ông H ông T1 mua của ông Nguyễn Văn Ú
Nguyn Th C3 phần đất diện tích 9,0 m x 71 m với giá 01 mét ngang là
12,5 chỉ vàng 10. Tổng cộng 100 chỉ (bút lục 07) ghi không đúng với giá đất
hai bên thỏa thuận mua bán hai bên thỏa thuận không phải 100 chỉ vàng là
112,5 chỉ vàng, không thể hiện giao nhận vàng hay chưa, không thể hiện đất tọa
lạc tại đâu. Ông C2, bà T4 không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Năm 2002,
T4 và ông C2 cất nhà trên đất sinh sống. T5 vợ ông T1 cho rằng bà T4 cho vợ
chồng một phần diện tích đất nên ông T1 mới tiến hành làm thủ tục chuyển
quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AD240803 thuộc thửa đất 2659, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại ấp B,
H, huyện Đ, tỉnh Long An diện tích 300 m
2
(bút lục 167).
[2.3] Ông H cho rằng T4 và ông C2 là người đóng thuế đất nhưng theo
giấy tay bán đất ngày 22/9/2001, giấy nộp thuế ngày 22/8/2001 trước khi
mua đất. Nên việc ông H trình bày bà T4 ông cường đóng thuế đất trên diện
tích 300 m
2
là không có cơ sở.
[2.4] Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/6/2005
giữa bà Nguyễn Thị C3 với ông Võ Thanh T1 (bút lục 215 a). Về hình thức Hợp
đồng: Hợp đồng giữa các bên công chứng, chứng thực nên đảm bảo tuân thủ
đúng nh thức theo quy định tại 697 khoản 3 Điều 688 của Bộ luật Dân s
năm 2005 và Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 167 của
Luật Đất đai năm 2013. Ông T1 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AD 240803 đối với thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 04
tọa lạc tại ấp B, H, huyện Đ, tỉnh Long ngày 05/8/2005 (bút lục 219); Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có 01 bà C3 ký tên là do giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của chính được Ủy ban nhân dân Đ cấp ngày 12
tháng 9 năm 1997 diện tích 22.040 m
2
chỉ có bà C3 đứng tên quyền sử dụng đất.
Ông Ú cũng không khiếu nại hay ý kiến về việc C3 chuyển quyền sử
dụng đất cho ông T1 (bút lục 189). Nên việc Ủy ban nhân dân xã Đ cấp cho ông
T1 diện tích 300m
2
đúng quy định của pháp luật Dân sự và Luật Đất đai.
[2.5] Sau khi được được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận
quyền sdụng đất đất sAD 240803 đối với thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 04
tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long ngày 05/8/2005 thì ông T1, T5 thế
chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240803 cho Ngân hàng TMCP
X-C6 vay tiền từ năm 2018, khi vay Ngân hàng thẩm định tài sản, thời điểm
ông T1, T5 vay tiền T4 còn sống, T4 không ý kiến hay phản đối gì,
đến năm 2022, ông T1 mới xóa thế chấp (bút lục 244). Mặt khác diện tích 300m
2
ông T1, T5 nhận chuyển nhượng sau khi T4 cất nhà, khi ông T1 được
quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp
đã thế chấp Ngân hàng vay tiền thời gian dài không ai tranh chấp.
[2.6] Ngày 28/02/2023, ông T1 làm đơn yêu cầu quan văn phòng đăng
đất đai tả ranh giới, mốc thửa đất thì ông H tứ cận đất về tình hình
biến động, ranh giới thửa đất từ khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cán bộ địa chính, người đo v xác định thửa đất có ranh giới rõ ràng, sử dụng ổn
định, không tranh chấp với các hliền kề, đất không bị biên, phía đông đất
giáp với đường tỉnh 824, diện tích thửa đất thay đổi do sai sót trong quá trình đo
đạc cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất được Phó Chtịch Ủy ban nhân dân
xã H ký cho ông T1 (bút lục 100). Tại phiên tòa phúc thẩm ông H xác định phn
đất ông C2 T4 mua của ông Ú, bà C3 diện tích 9,0 m x 71m = 639 m
2
, ông
T1 đứng tên 300 m
2
. Còn lại 339 m
2
, ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nhưng ông cho rằng do mẹ ông là bà T4 kê khai cho ông đng tên, ông
có xây căn nhà cấp 4 trên đất sinh sống. Đến năm 2022, đổi lại giấy đất ông mới
biết ông đứng tên quyền sử dụng đất. Ông có tên xác định tứ cận đất của ông
giáp đất ông T1 hay không thì ông cũng không nhớ nhưng ông không yêu cu
giám định chữ ký tên H trên giấy ký xác nhận tứ cận. Nên việc ông T1 đứng tên
quyền sử dụng đất 300 m
2
là ông H biết nhưng không có ý kiến còn ký tứ cận xác
định đất cho ông T1
Do đó, diện tích 300m
2
không phải di sản thừa kế của T4 ông C2
mà tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân ông T1.
[2.7] Xét hợp đồng ủy quyền: Ngày 09/3/2023, ông T1, bà T5 và ông Q có
ký “giấy thỏa thuận”, nội dung T5, ông T1 ợn ông Quân s tiền
4.000.000.000 đồng, tài sản đảm bảo thửa đất 2659, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại
ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Cùng ngày 09/3/2023, ông T1, bà T5 có đến
Văn phòng C4 đkết hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất nêu trên cho ông
Trang Minh Q, hợp đồng công chứng số 841, quyển số 03/2023TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/3/2023 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD
240803 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Võ Thanh T1 ngày 05/8/2005.
Nội dung của hợp đồng ủy quyền việc định đoạt thửa số 2659, tờ bản đồ số 4. Nếu
ông T1, bà T5 không thanh toán tiền lãi hàng tháng cho ông Q sau 02 (hai) tháng
thì ông Q quyền chuyển nhượng cho người khác (bút lục từ 115 đến 120). Hợp
đồng ủy quyền của ông T1, T5 cho ông Q đúng quy định theo Điều 562 của
Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/05/2014.
[2.8] Do ông T1 T5 không trả tiền lãi nên ngày 17/8/2023, giữa ông
Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông Âu
Dương T2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập tại Văn phòng
C4, tỉnh Long An, công chứng số 4482 quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD (bút
lục 190;191,192). Về hình thức Hợp đồng: Hợp đồng giữa các bên công chứng,
chứng thực nên đảm bảo tuân thủ đúng hình thức theo quy định tại Điều 502 Bộ
luật Dân sự và điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013.
[2.9] Ông T2 cho rằng khi nhận chuyển nhượng nhà đất của ông T1 thì nhà
đất đang cho thuê. Lời khai ca ông T2 phù hợp với công văn số 330/CV-UBND
về việc cung cấp chứng cứ theo công văn số 828/CV-TA của Tòa án nhân dân
huyện Đức Hòa của H thể hiện: Trên thửa đất nhà trên đất, lúc trước do
ông Hùng C2 Nguyễn Thị Minh T4 sinh sống sử dụng đến ngày
22/01/2023 T4 mất hiện tại nhà và thửa đất trên đang cho thuê (bút lục 237).
Tại phiên tòa ông H thừa nhận cho mt người gần nhà bán ớc trên diện
tích đất của ông T1.
[2.10] Xét thy ti thời điểm kết hợp đồng chuyn nhượng 17/8/2023,
giữa ông T1, bà T5, ông Q với ông T2 thửa đất 2659, t bản đ s 4 tọa lạc tại ấp
B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, không bbiên, không b phong ta, không
quyết đnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nào của cơ quan có thẩm quyn.
Hợp đồng chuyển nhượng được lập thành văn bản, được công chng, chng thc,
đúng về hình thức, thủ tục theo quy định ca Lut Công chng Lut Dân s,
Luật Đất đai.
[2.11] Việc ông T2 nhn chuyển nhượng quyn s dng din tích 300m
2
thuộc thửa đt 2659, t bản đồ s 4 tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
từ ông T1, T5, ông Q ông T2 không biết đất do T5, ông T1 vay tin ca
ông Q. Nên ông T2 người th ba ngay tình trong giao dch bất động sn. Quyn
li ích hp pháp của người th ba ngay tình đưc pháp lut dân s bo v.
Căn cứ vào Điu 133 B lut Dân s năm 2015 quy đnh, thì hợp đng
chuyển nhượng QSD đất ngày 17/8/2023, giữa ông Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị
Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại din vi ông Âu Dương T2. Hợp đồng chuyn
nhưng quyn s dụng đất được lp ti Văn phòng C4, tnh Long An, công chng
s 4482 quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD hiệu lực pháp luật họ
người th ba ngay tình.
[3] Đi với căn nhà trên đất luật sư cho rằng ông T1, bà T5 không thế chấp
nhà cho ông Q thì thấy rằng căn nhà gắn lin với đất nên ông Q cho rằng thế chấp
cho ông c nhà và đất. Mặt khác tại bản t khai ngày 26/10/2023 bà T5 khai nhà
đất do bà T4 cho v chng bà và ông T1 cũng không có ý kiến gì về việc bán đất
không bán nhà (bút lục 167). Theo biên bản định giá ngày 25/01/2024 thì đất
giá 3.944.160.000 đồng; giá tr căn nhà 420.302.288 đồng. Tng cng nhà đt là
4.364.462.288 đng (bút lục 227), ông T1, T5 làm giy nhn tin chuyn
nhưng cho ông Q 4.000.000.000 đồng giy tha thun ngày 09/3/2023 ti
phòng công chứng. Nếu ông T1, bà T5 không thanh toán tiền lãi suất hàng tháng
cho ông Q sau 02 (hai) tháng thì ông Q có quyn chuyển nhượng cho người khác.
Đồng thi ông T1, T5 m hp đồng y quyền được công chng chng nhn
ông Q đưc quyn chuyển nhượng thửa đất s 2659, t bản đồ s 04 ta lc ti p
B, H, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông Q chuyển nhượng cho ông T2
4.200.000.000 đồng tương với giá đã định nên vic ông Q ông T2 cho rng ông
T1T5, chuyển nhượng luôn nhà và đất là có cơ sở.
[4] Tại biên bản thẩm định tại chổ ngày 25/01/2024, trên đất căn nhà cấp
4 do ông H xây năm 2002 căn nhà tiền chế ông H cất năm 2015. Trên đất không
mồ (bút lục 252,253,254). Ông H cho rằng căn nhà cấp 4 ông H xây
không đúng với nội dung đơn khởi kiện của ông H viết ngày 06 tháng 10 năm
2023 đơn ông Hi V1 nhà cấp 4 do bà T4 và ông C2 xây (bút lục 45).
[5] Trong quá trình giải quyết ông H cho rằng năm 2015 ông H có sửa nhà
nhưng không xác định chi phí sửa bao nhiêu, khi sửa nhà ông T1 đồng ý hay
không, do ông T1 vắng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H cho rằng ông sửa n
hết 200.000.000 đồng nhưng ông đồng ý theo kết quả định giá và đồng ý chia các
đồng thừa kế không yêu cầu tách riêng tiền sửa nhà cho ông. Kết quả định giá căn
nhà 420.302.288 đồng; ờng rào 3.839.415 đồng. Tổng cộng: 424.141.703 đồng.
T5 cho rằng bà T4 cho ông T1, bà T5. Ông H không thừa nhận. Nên nhà chia
cho các thừa kế T4 ông C2. T4 ông C2 05 người con nên được
chia như sau: 424.141.703 đồng: 5 người = 84.828.340 đồng. Do Ông Hùng
D, Thị Bạch H1, Võ Thị Tuyết N cho kỹ phần mình đưc ởng cho
ông H nên ông T1, T5 trách nhiệm giao cho ông H số tiền 339.313.363
đồng. Nên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H.
[6] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát thì thấy rằng:
[6.1] Tại phiên tòa thẩm, đại diện của ông Trang Minh Q là ông Đỗ Anh
H4 yêu cầu bổ sung: Trường hợp căn cứ chia thừa kế đề nghị ông T1,
T5, ông Ú và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà C3 có trách
nhiệm liên đới trlại cho ông Quân số tiền gốc 4.000.000.000 đồng tiền lãi
theo mức lãi suất 1.67% t ngày 09/7/2023 đến ngày xét xử thẩm. Xét thấy,
yêu cầu này phát sinh sau khi Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ như Tòa án đã nhận định tại mục [2.5.2]
trang 18 Bản án: “...Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Únhững người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C3 nghĩa vụ liên đới cùng
ông Võ Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang Minh Q, yêu
cầu này tại phiên tòa vượt quá phạm vi khởi kiện nên Hội đồng xét xử không
xem xét. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án, Tòa cấp thẩm đã tuyên:
Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Ú những người thừa kế quyền
nghĩa vụ tố tụng của Nguyễn Thị C3 nghĩa vụ liên đới cùng ông
Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang Minh Q buộc ông
Trang Minh Q trả 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu buộc liên đới không được
chấp nhận là mâu thuẫn.
[6.2] Yêu cầu buộc liên đới của ông Trang Minh Q không được Tòa án xem
xét, thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện nên không phải là yêu cầu độc lập. Tòa cấp
thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu của ông Q buộc ông Nguyễn Văn Ú
những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C3 nghĩa
vụ liên đới cùng ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 trả tiền cho ông Trang
Minh Q nhưng lại buộc ông Q chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận
là vượt quá phạm vi yêu cầu độc lập ban đầu của đương sự, ảnh hưởng đến quyền
lợi ích hợp pháp của đương sự.
[6.3] Bản án tuyên buộc ông Thanh T1 và Nguyễn Thị Thùy T5
nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trang Minh Q tổng số tiền vay gốc, lãi tính
đến ngày 26/9/2025 5.774.653.322 đồng, theo quy định tại khoản 6 Điều 26
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì ông T1 T5 phải chịu
án phí có giá ngạch là 113.774.653 đồng nhưng Tòa án không tuyên buộc án phí
đối với ông T1, bà T5 là thiếu sót, không đúng quy định của pháp luật.
Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Tây
Ninh là có căn cứ.
[7] Từ nhân định phân tích trên Hội đồng xét xxét thấy căn cứ chấp
nhận đơn kháng cáo của ông Trang Minh Q, chấp nhận kháng cáo của ông Âu
Dương T2, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3. Chấp
nhận một phần đề nghị của Viện Kiểm sát tỉnh Tây Ninh. Sửa bản án dân sự
thẩm số 422/2025/DS-ST ngày 29/9/2025, của Tòa án nhân dân khu vực 3 -Tây
Ninh, theo hướng: chấp nhận một phần đơn khởi kiện chia di sản thừa kế của ông
Võ Thanh H đối với ông Võ Thanh T1.
Buộc ông ông Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 trách nhiệm giao
cho ông Võ Thanh H số tiền 339.313.363 đồng.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 542 giữa Nguyễn Thị
C3ông Võ Thanh T1 ngày 17/6/2005, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ,
tỉnh Long An chứng nhận ngày 29/6/2005 hiệu lực pháp luật.Chấp nhận yêu
cầu độc lập của ông Trang Minh Q đối với ông Thanh T1, Nguyễn Thị
Thùy T5.
Hợp đồng ủy quyền được kết ngày 09/3/2023 giữa ông Thanh T1,
Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4, quyển số
03/2023TP/CC-SCC/HĐGD có hiệu lực pháp luật.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Âu ơng T2 về việc công nhận hiệu
lực hp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 17/08/2023 giữa ông
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông Âu
Dương T2, được Văn phòng C4, tỉnh Long An công chứng số 4482, quyển số
08/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 17/08/2023 giữa
ông Võ Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông
Âu Dương T2, được Văn phòng C4, quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD
hiệu lực Pháp luật. Ông Âu Dương T2 đưc quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước
thẩm quyền làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật.
Buộc ông Thanh H, bà Mai Thị Ngọc P cháu An P1, cháu Thế
V, bà Võ Thị Bạch H1, bà Võ Thị Tuyết N di dời đi nơi khác trả nhà cho ông Âu
Dương T2.
Buộc ông Thanh H, Mai Thị Ngọc P có trách nhiệm di dời nhà tiền
chế có diện tích 131,1 m
2
và máy che diện tích 8,3 m
2
đi nơi khác để giao đất cho
ông T2.
Ông Võ Thanh H, bà Mai Thị Ngọc P cháu Võ An P1, cháu Võ Thế V, bà
Võ Thị Bạch H1, Thị Tuyết N được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng
kể ngày án có hiệu lực.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 B luật T tụng dân sự
và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Ông Thanh Tâm Nguyễn Thị Thùy T5 phải chịu 600.000 (sáu trăm
nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Thanh T1 phải chịu 4.241.417 (bốn triệu hai trăm bốn mươi mốt
nghìn bốn trăm mười bảy đồng) đồng tiền án phí dân sự.
Ông Thanh H phải chịu 16.965.668 (ời sáu triệu chín trăm sáu lăm
nghìn sáu trăm sáu mươi tám) đồng. Khấu trừ số tiền ông H đã nộp tạm ứng án
phí 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005941 ngày
06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa 900.000 (chín trăm
nghìn) đồng theo biên lai thu s0001192 ngày 18/7/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh. Ông H còn phải nộp tiếp số tiền 13.265.668 (ời ba triệu hai
trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi tám) đồng.
Ông Trang Minh Q không phải chịu tiền án phí dân sự thẩm. Hoàn trả
cho ông Q tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.334.000 (năm mươi sáu triệu ba trăm ba
mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000393 ngày 10/7/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Âu Dương T2 không phải phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn
trả cho ông Âu Dương T2. Hoàn trả cho ông T2 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã
nộp theo biên lai thu số 0001535 ngày 24/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh.
[9] Ván phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật T tụng
Dân sự khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Trang Minh Q, ông Âu
Dương T2 kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu tiền án phí dân sự phúc
thẩm.
[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo kháng ngh
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Trang Minh Q, ông Âu Dương T2.
Chấp nhận kháng nghị s 14/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh
Sửa bản án dân sự thẩm số 422/2025/DS-ST ngày 29/9/2025, của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 148, Điều 157,
Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 411 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 357, 468, 609, 612, 623, 649, 650, 651, 660
của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thanh
H đối với bị đơn ông Võ Thanh T1.
2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất số 542 giữa
Nguyễn Thị C3 ông Võ Thanh T1 ngày 17/6/2005, được Ủy ban nhân dân xã
H, huyện Đ, tỉnh Long An chứng nhận ngày 29/6/2005 có hiệu lực pháp luật.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trang Minh Q đối với ông Thanh
T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5.
3.1. Tuyên bố hợp đồng ủy quyền được kết ngày 09/3/2023 giữa ông
Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy T5 ông Trang Minh Q, được văn phòng C4,
quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD có hiệu lực pháp luật.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Âu Dương T2 vviệc công nhận
hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/08/2023 giữa ông
Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh Q đại diện và ông Âu
Dương T2, được Văn phòng C4, tỉnh Long An công chứng số 4482, quyển số
08/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
4.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất kết ngày
17/08/2023 giữa ông Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 do ông Trang Minh
Q đại diện và ông Âu Dương T2, được Văn phòng C4, quyển s 08/2023TP/CC-
SCC/HĐGD có hiệu lực pháp luật.
4.2. Ông Âu Dương T2 được quản lý và sử dụng quyền sử dụng đất thuộc
các thửa đất 2659, tờ bản đồ số 4 (thửa mới 156, 157, tờ bản đồ số 60) tọa lạc tại
ấp B, H, huyện Đ, tỉnh Long An, diện ch đo đạc thực tế 297m², diện tích
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 297m², loại đất trồng lúa. Vị trí, t
cận theo Mảnh trích đo địa chính do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 đo vẽ ngày
28/3/2024 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày
09/4/2024.
4.3. Ông Âu Dương T2 quyền liên hệ quan thẩm quyền về cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc đ
nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất phù hợp với kết quả giải quyết
của Tòa án đối với thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 4 (thửa mới 156, 157, tờ bản đ
số 60) tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án của Tòa án
để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa á
5. hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hình thức giấy
tay giữa Nguyễn Thị C3, ông Nguyễn Văn Ú và ông Võ Hùng C2 và Nguyễn
Thị Minh T4 ngày 22/9/2001.
Xác định quyền sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 2659, tờ bản đồ số 4
(thửa mới 156, 157, tờ bản đồ s60) tọa lạc tại ấp B, H, huyện Đ, tỉnh Long
An không phải di sản của ông C2, bà T4.
5.1. Công nhận stự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế tài sản là giá trị
quyền sử dụng đất giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hùng D,
Võ Thị Bạch H1, bà Võ Thị Tuyết N với nguyên đơn ông Võ Thanh H.
6. Ông Võ Thanh T1, bà Nguyễn Thị Thùy T5 nghĩa vụ thanh toán cho
ông Thanh H giá trị kphần thừa kế ông H được hưởng 339.313.363 (ba
trăm ba mươi chín triệu ba trăm mười ba nghìn ba trăm sáu mươi ba) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án, có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
bị thi hành án không thi hành án, không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng
người bị thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với
số tiền chậm tr tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự.
7. Buộc ông Thanh H, Mai Thị Ngọc P, cháu Võ An P1, cháu
Thế V, bà Thị Bạch H1, Võ Thị Tuyết N di dời đi nơi khác trả nhà, đất cho
ông Âu Dương T2.
8. Buộc ông Thanh H, Mai ThNgọc P có trách nhiệm di dời nhà
tiền chế diện tích 131,1 m
2
máy che diện tích 8,3 m
2
đi nơi khác đgiao nhà,
đất cho ông T2.
9. Ông Võ Thanh H, bà Mai Thị Ngọc P, cháu Võ An P1, cháu Võ Thế V,
Thị Bạch H1, Thị Tuyết N được quyền lưu trong thời hạn 03
tháng kể ngày án có hiệu lực.
10. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ tổng số tiền
28.274.000 (hai mươi tám triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn) đồng, do ông H
chịu. Ông H đã nộp và chi xong.
11. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Thanh Tâm Nguyễn Thị Thùy T5 phải chịu 600.000 (sáu trăm
nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Thanh T1 phải chịu 4.241.417 (bốn triệu hai trăm bốn mươi mốt
nghìn bốn trăm mười bảy đồng) đồng tiền án phí dân sự.
Ông Thanh H phải chịu 16.965.668 (ời sáu triệu chín trăm sáu mươi
lăm nghìn sáu trăm sáu mươi tám) đồng. Khấu trừ số tiền ông H đã nộp tạm ứng
án phí là 2.800.000 (hai triệu tám trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005941
ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa 900.000 (chín
trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001192 ngày 18/7/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông H còn phải nộp tiếp số tiền 13.265.668 (ời ba triệu
hai trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm sáu mươi tám) đồng.
Ông Trang Minh Q không phải chịu tiền án phí dân sự thẩm. Hoàn trả
cho ông Q tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.334.000 (năm mươi sáu triệu ba trăm ba
mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000393 ngày 10/7/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Âu Dương T2 không phải phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn
trả cho ông Âu Dương T2. Hoàn trả cho ông T2 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã
nộp theo biên lai thu số 0001535 ngày 24/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây
Ninh.
12. Về án pphúc thẩm: ông Trang Minh Q không phải chịu tiền án phí
phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Q 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạmng án
phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu số 0006334 ngày 08/10/ 2025 Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Âu Dương T2 không phải phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. hoàn
trả lại cho ông T2 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai
thu số 0007111 ngày 13 tháng 10 2025 Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
13. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thinh
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND Khu vực 3 – Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Hồng Vân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 775/2026/DS-PT Bản án số 775/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất