Bản án số 71/2017/DS-ST ngày 20/09/2017 của TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 71/2017/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 71/2017/DS-ST ngày 20/09/2017 của TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Núi Thành (TAND tỉnh Quảng Nam)
Số hiệu: 71/2017/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2017
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông Nguyễn Văn L yêu cầu ông Nguyễn L phải công nhận là bờ đi chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 71 /2017/DSST
Ngày 20/9/2017
V/v ”tranh chấp về quyền sử dụng
đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Trà
Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Phước Nhật
- : Phan Thị Thanh Dung
Thư ghi biên bản phiên tòa: Phạm Thị Mùi Thư Tòa án nhân dân
huyện Núi Thành.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa:
Phan Thị Tiền Kiểm sát viên.
Ngày 20/9/2017, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng
Nam xét xử thẩm công khai vụ án n sự thụ lý số 90/2016/TLST-DS ngày
17/11/2016 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 16/2017/QĐXX-ST-DS ngày 05/9/2017 giữa các đương sư:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, Sinh năm 1973- Hiện trú tại : Tổ 5,
Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam
2. Bị đơn: Ông Nguyễn L, sinh năm: 1932 - Hiện trú tại : Hiện trú tại : Tổ 5,
Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Ông L y quyền cho bà Nguyễn Thị T
Nguyễn Thị G, sinh năm 1967- Trú tại: Thôn L, T, huyện N, tỉnh Quảng Nam
tham gia tố tụng
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm
1971- Trú tại: Tổ 14, khối phố H, phường H, Thành phố T, tỉnh Quảng nam .
Các đương sự có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Năm 1995 Tôi được UBND
cho đắp đập nuôi trồng thủy sản với diện tích 1.550m
2
tôi nuôi tôm cho đến
nay. Sát với diện tích của tôi là diện tích đất nuôi trồng thủy sản của ông Nguyễn L.
Từ trước đến nay giữa tôi và ông L sử dụng chung bờ hồ nhưng nay bà Nguyễn Thị
T là con ông L về sử dụng hồ nuôi trồng thủy sản đã rào bờ lại không cho tôi đi, để
bao đất xuống phía mặt nước của hồ tôi. Tôi đã làm đơn đến chính quyền giải quyết
nhiều lần nhưng không thành nên nay tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L tháo
gỡ bờ rào để tôi có đường đi lại cho tôm ăn và yêu cầu bà T thu dọn toàn bộ số bao
cát bà đã bỏ qua phía mặt nước của hồ nuôi tôm của tôi.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn ThT trình bày: Cha tôi ông Nguyễn L. Nguyên
trước đây cha tôi có đắp 01 cái đập nuôi tôm, đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Cha tôi đắp bờ tứ cận 01 bên bờ giáp với đất của đường thông
hào. Phần bờ này cha tôi đắp trước. Sau này ông L mới hồ nuôi tôm lên đường
thông hào này xin cha tôi cho dựa bờ đỡ vài năm rồi làm bờ riêng cha tôi không
cho nhưng do gia đình tôi không có ai nên ông L dựa đỡ nhưng nay tôi về nuôi tôm
thì ông L không làm bờ mà còn làm hồ lấn sang đất bờ của cha tôi. Vì bờ đi này
đi sạc lỡ nên cha tôi đã rào lại tôi bỏ bao cát qua phần đường thông hào để đất
bờ đi không sạc lỡ đất đường thông hào. Nay ông Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu
cho rằng bờ giữa hồ của cha tôi hồ của ông là bờ chung tôi không đồng ý, về số
bao cát tôi bỏ sang hồ ông L bờ sạt lở đất nên tôi có chặn bao cát chống sạt lở,
khi nào ông L làm bờ thì tôi tháo gở toàn bộ bao cát của tôi.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị G trình bày:
Bà đồng ý như ý kiến trình bày của bà T và không trình bày gì thêm.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng của
pháp luật, việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân skể từ khi thụ vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét
nhận định:
[1]Về áp dụng pháp luật tố tụng: Cho rằng khi đắp hồ nuôi tôm ông L đắp
chung bờ với ông Nguyễn L nhưng nay con gái ông L bà Nguyễn Thị T sử dụng
hồ nuôi tôm của ông L đã rào ngang bờ chung, ông L không cho ông L sử dụng bờ
chung này T đã bỏ bao cát sang hồ nuôi tôm của ông L nên ông L khiếu nại
đến UBND xã Tam Tiến giải quyết nhưng tại UBND xã hòa giải không thành. Ông
L khởi kiện đến Tòa án dân dân huyện Núi Thành yêu cầu Tòa án buộc ông L tháo
gỡ bờ rào để ông đường đi lại cho tôm ăn yêu cầu T thu dọn toàn bộ số
bao cát đã bỏ qua phía mặt nước của hồ nuôi tôm của ông. Đây vụ án tranh
chấp về quyền sử dụng đấtthì theo quy định tại Điều 26 Điều 35 Bộ luật tố
tụng dân sự vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi
Thành.
[2]Về áp dụng pháp luật nội dung: V ngun gc diện tích đất đang
tranh chp: Theo công văn s676/UBND-TNMT ngày 19/6/2017 của UBND
huyện Núi Thành thì diện tích đất tranh chấp thuộc bờ ao do UBND xã quản lý.
Thực hiện Chỉ thị 299/TTg thì khu vực này đất thuộc sông Trường Giang
do Ủy ban nhân dân xã Tam Tiến quản lý.
Thực hiện nghị định 64/CP, ông Nguyễn Văn L đứng tên chủ sử dụng đất
thửa 61 tờ bản đồ số 01, diện tích 1.205m
2
, loại đất ao nuôi tôm; ông Nguyễn L
đứng tên chủ sdụng đất thửa 60, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.156m
2
, loại đất ao
nuôi tôm đã được UBND huyện Núi Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 02/3/2017 thì hiện tại ông L
đang sử dụng diện tích 1.585,3m
2
và ông L đang sử dụng diện tích 2627,2m
2
Nguyên nhân chênh lệch thừa là do phương tiện phương pháp đo khác
nhau.
Tuy nhiên theo biên bản xác minh tại UBND Tam Tiến ngày 10/8/2017
thì nguyên nhân chênh lệch diện tích đất sử dụng thực tế và diện tích đất các hộ
khai theo nghị định 64/CP do các hộ lấn ra sông Trường Giang. diện tích đất
bờ ao này tại địa phương thì hộ nào đắp thì quản sử dụng, UBND Tam Tiến
không quản lý đối với diện tích bờ ao nuôi tôm.
Theo lời trình bày của những người làm chứng ông Nguyễn G, ông Trần Văn
S, ông Nguyễn Văn G, ông Nguyễn L thì ông Nguyễn Văn L là người đắp hồ trước.
Ông L đã đắp bờ xong nuôi tôm rồi thì ông Nguyễn Văn L mới xin đắp hồ nuôi cua
ông L đắp hồ sau nên dựa bờ của ông L, ông G không đắp bờ chung với
hai ông này. Và các bên cũng không có thỏa thuận đắp bờ chung để sử dụng chung.
Tại các phiên hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay ông L không chứng minh được
việc khi đắp bờ các bên cùng đắp chung nên sử dụng chung
Việc UBND huyện Núi Thành cho rằng bờ ao bờ chung giữa hai hvà
diện tích đất tranh chấp thuộc bờ ao do UBND Tam Tiến quản là không đủ
căn cứ bởi lẽ khi cấp đất hồ nuôi tôm cho các hộ, UBND huyện Núi Thành không
tính trừ diện tích đất làm bờ chỉ cấp theo mặt nước cho các hộ dân sdụng, các
hộ nhận mặt nước rồi tự đắp lên nên hộ nào đắp thì hộ đó được quyền sử dụng.
Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Điều 245, điều 246, điều
248 B lut dân s không có cơ sở để chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn
Tuy nhiên khi sử dụng đất nuôi tôm, ông Nguyễn L không sdụng mà cho
con gái Nguyễn Thị T nuôi tôm, T đã bỏ một số bao cát qua hồ nuôi tôm
của ông Nguyễn Văn L làm ảnh hưởng quyền sử dụng đất của ông L nên buộc bà T
phải tháo gở toàn bộ số bao cát đã bỏ sang hồ nuôi tôm của ông L. Nên áp dụng
khoản 2 điều 11 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[3] Về án phí - Ông Nguyễn Văn L phi chịu án phí đối vi phn yêu cu
không được chp nhn là 55,3m
2
x 30.000đ/m
2
= 1.659.000đ tương ứng vi s tin
phi chu án phí dân s sơ thẩm là 200.000đồng.
Ông Nguyễn Văn L yêu cu bà Nguyn Th T tháo g s bao cát mà bà đã bỏ
sang h nuôi tôm ca ông yêu cu này ca ông L đưc chp nhn nên
Nguyn Th T phi chu án phí dân s sơ thẩm là 200.000đồng.
B đơn ông Nguyn L không phi chu án phí dân s sơ thẩm
Giá đất được tính theo quyết định 48/2014/QĐ-UBND ngày 25/12/2014 ca
y ban nhân dân tnh Qung Nam
[4] Về chi phi tố tụng: Việc định giá tài sản được tiến hành theo yêu cu ca
ông Nguyễn Văn L ông đã nộp chi phí định giá thẩm định 4.000.000đồng
yêu cu khi kin ca ông Nguyễn Văn L đưc chp nhn mt phn nên ông
Nguyễn Văn L và Nguyn Th T mỗi người phi chu ½. buc Nguyn
Th T phi tr cho ông Lên 2.000.000đ chi phí giám định định giá.
[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ
án: Ông L đắp bờ trước, ông L đắp bờ nuôi tôm sau nên không sở cho rằng
bờ này hai ông đắp chung nên việc ông L buộc ông L tháo gở bờ rào gai ông đã rào
trên bờ của ông không căn cứ đề nghị HĐXX xem xét bác yêu cầu này của
nguyên đơn.
Đối với hành vi của bà T bỏ bao cát qua phần hồ của ông L đây là hành vi bà
T cũng thừa nhận không đúng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của ông L
buộc bà T phải tháo gở toàn bộ số bao cát đã bỏ lấn qua hồ nuôi tôm của ông L.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dng: Điều 166, Điu 203 Luật đất đai năm 2013, Khoản 2 Điều 11, Điu
245, điều 246, điều 248 B lut Dân s năm 2015; Khoản 1 Điều 147 B lut T
tng Dân s, Điu 27 Pháp lnh án phí, l phí Toà án.
X: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L
v vic: Tranh chp v quyn s dụng đất’’ vi b đơn ông Nguyn L đối vi din
tích tranh chp 55,3m
2
đất thuc b h nuôi tôm nm gia hai tha đất tha s
60, t bản đồ s 01 thửa đất s 61, t bản đồ s 01 ti thôn B, xã T, huyn N,
tnh Qung Nam b ao chung nên không chp nhn yêu cu ca ông Nguyn
Văn L v vic buc ông Nguyn L tháo g bo gai đã rào trên diện tích đất này.
Đất có v trí như sau:
Đông giáp đất h nuôi tôm ca ông Nguyễn Văn L;
Tây giáp đất h nuôi tôm ca ông Nguyn L;
Nam giáp b đê;
Bc giáp sông Trường Giang;
(Vị trí, hiện trạng đất tranh chấp có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L, Buộc Nguyễn Thị
T phải tháo gở toàn bộ số bao cát đã bỏ sang hồ của ông Nguyễn Văn L dài dọc
theo diện tích bờ đang tranh chấp là 43,4m.
V án phí dân s thẩm: ông Nguyễn Văn L phi chu 200.000đồng được
tính tr vào s tin ông Lên đã nộp 200.000đ theo biên lai thu s 0001138 ngày
17/11/2016 ti Chi cc thi hành án dân s huyn Núi Thành, bà Nguyn Th T phi
chu 200.000đ
- V chi p xem xét thẩm định ti ch: Buc Nguyn Th T phi thi tr
chi phí định giá tài sn cho ông Nguyễn Văn L là 2.000.000đ;
Kể từ ngày ông L đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền phải thi hành án
nêu trên, nếu T không thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Các đương sự quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án sơ
thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam
- VKSND huyện Núi Thành;
- THADS huyện Núi Thành;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(đã ký)
Nguyễn Thị Hoàng Trà
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam
- VKSND huyện Núi Thành;
- THADS huyện Núi Thành;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Hoàng Trà
Tải về
Bản án số 71/2017/DS-ST Bản án số 71/2017/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất