Bản án số 7/2026/LĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 7/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 7/2026/LĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 7/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Xuân Trang yêu cầu Công ty cổ phần công nghiệp Quảng An I đong bảo hiểm các loại
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 7/2026/LĐ-ST Bản án số 7/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 7/2026/LĐ-ST Bản án số 7/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 7/2026/LĐ-ST
Ngày: 21-8-2026
V/v “Tranh chấp
về các loại bảo hiểm”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích
Bà Bùi Thị Lý Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Anh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà
Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét
xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 58/2026/TLST- LĐ ngày 05 tháng 6 năm
2026 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1013/2026/QĐXXST-LĐ ngày 16 tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
1003/QĐST-LĐ ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, Sinh ngày: 21/4/1984; Số CCCD:
************, Ngày cấp: 30/9/2024; Địa chỉ: Tổ G, thôn M, phường H, thành phố Đà
Nẵng, Số điện thoại: 0935404586
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc O, sinh năm 1980 và bà
Huỳnh Thị Phương G, sinh năm 1981 (theo giấy ủy quyền ngày 22/7/2026) (Bà G có
mặt tại phiên tòa)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần C1; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp T, xã H, huyện
T, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh); Địa chỉ chi nhánh: Đường H, phường N,
thành phố Đà Nẵng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Văn T1, chức vụ: Tổng
Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bảo hiểm xã hội cơ sở H1; Đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Kim H -
Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện
theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1983; CCCD số: ************ cấp
2
ngày 17/4/2024 - Chức vụ: Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 (Theo giấy ủy
quyền số 547/GUQ-BHXH ngày 30/6/2026); Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố
Đà Nẵng. (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Ông Lưu Thanh T2, sinh ngày: 18/9/1987 - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh I
- Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng; Địa chỉ: Đường H, phường N, thành phố Đà Nẵng.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 22/4/2026 và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình
bày: Bà Nguyễn Thị Xuân T vào làm việc tại Chi nhánh I – Công ty cổ phần C1 - tại
Đà Nẵng từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 7 năm 2023.
Trong quá trình làm việc bà Nguyễn Thị Xuân T luôn chấp hành nội quy, quy
định của Công ty, với công việc là nhân viên bán vé xe buýt. Đến thời điểm 7/2023 bà
T nghỉ việc nhưng Công ty vẫn chưa đóng Bảo hiểm xã hội cho bà T từ 01/2022 đến
tháng 07/2023 (Theo công văn số 768/BHXH - BPQLT ngày 12/8/2026 của bảo hiểm
xã hội H1). Cụ thể như sau:
- Cộng các khoản nợ bảo hiểm là 26.258.000 đồng. Trong đó: nợ BHXH là
20.600.000 đồng; nợ BHYT là 3.708.000 đồng; nợ BHTN là 1.648.000 đồng; nợ
BHTNLĐ,BNN là 302.000 đồng.
- Lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 9.691.169 đồng. Trong đó lãi BHXH
là 7.191.538 đồng; lãi BHYT là 1.813.447 đồng; lãi BHTN là 575.314 đồng, lãi
BHTNLĐ,BNN là 110.870 đồng.
Tổng cộng là: 35.949.169 đồng (Ba mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi chín
nghìn, một trăm sáu mươi chín đồng)
Nay bà Nguyễn Thị Xuân T yêu cầu Công ty cổ phần C1 có trách nhiệm đóng
tiền nợ Bảo hiểm cho bà T theo số tiền thực tế hiện nay, do Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa
C cung cấp, để thực hiện chốt sổ Bảo hiểm cho bà T.
*Bị đơn Công ty Cổ phần C1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Quyết định hoãn phiên toà) nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần
C1 không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, hòa giải... và các phiên tòa theo các
thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Thanh T2, giám đốc Chi nhánh
II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc
3
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Quyết định hoãn phiên toà) nhưng ông Lưu Thanh T2 không đến Tòa án để tham gia
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,….và các
phiên tòa theo các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 có ý kiến:
Tại Công văn số 552/BHXH-BPQLT ngày 30/6/2026 người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C trình bày:
Bà Nguyễn Thị Xuân T có thời gian tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT),
tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
(BHTNLĐ-BNN) tại Chi nhánh II - Công ty CP C1 tại Đà Nẵng từ tháng 01/2022 đến
tháng 7/2023. Tính đến 30/6/2026, Đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-
BNN cho người lao động và hoàn thành việc trích chuyển các khoản đóng bảo hiểm nêu
trên đến hết tháng 06/2019.
Tại Công văn số 768/BHXH-BPQLT ngày 12/8/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa C đã xác nhận cụ thể tình trạng nợ bảo hiểm của bà Nguyễn Thị Xuân T tính đến
ngày 21/8/2026 thì tổng số tiền mà Công ty C1 còn nợ liên quan đến bà T 35.949.169
đồng (Ba mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi chín nghìn, một trăm sáu mươi chín đồng)
Trong đó: nợ BHXH là 20.600.000 đồng; nợ BHYT là 3.708.000 đồng; nợ BHTN là
1.648.000 đồng; nợ BHTNLĐ-BNN là 302.000 đồng.
- Lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 9.691.169 đồng. Trong đó lãi BHXH
là 7.191.538 đồng; lãi BHYT là 1.813.447 đồng; lãi BHTN là 575.314 đồng, lãi
BHTNLĐ-BNN là 110.870 đồng.
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho
đến phiên toà xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng khác: Nguyên đơn và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C kể từ khi thụ lý vụ
án cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật, bị đơn Công ty Cổ phần C1 và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan giám đốc Chi nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng
không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật;
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 17, Điều 168 Bộ luật
Lao động; các Điều 9, 13 Luật Bảo hiểm xã hội đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận
4
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty cổ phần C1 phải nộp số tiền 35.949.169
đồng vào tài khoản của Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C để thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm
xã hội và giải quyết các chế độ liên quan cho bà Nguyễn Thị Xuân T và tiếp tục chịu
lãi suất chậm đóng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét,
thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là tranh chấp về nghĩa vụ đóng
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Theo điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp về bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bà Nguyễn Thị Xuân T lựa chọn nơi Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 hoạt động
để khởi kiện. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
[2] Về tư cách tố tụng của các đương sự và việc xét xử vắng mặt:
Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 là đơn vị phụ thuộc của Công ty Cổ phần C1,
không có tư cách pháp nhân độc lập. Do đó, Công ty Cổ phần C1 là bị đơn trong vụ án.
Ông Lưu Thanh T2 là Giám đốc Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa ông T2 tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và ông Lưu Thanh T2
nhưng những người này không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến, tài
liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, bị đơn và
ông Lưu Thanh T2 tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và
không có lý do chính đáng, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Bà Nguyễn Thị Xuân T trình bày vào làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần
C1 tại Đà Nẵng từ tháng 12/2019 đến tháng 7/2023, công việc là nhân viên bán vé xe
buýt. Trong quá trình làm việc, bà T xác lập quan hệ lao động với Công ty Cổ phần C1.
Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội,
5
bà Nguyễn Thị Xuân T có thời gian tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN
tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1. Công ty chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng
các khoản bảo hiểm bắt buộc cho bà T theo quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến việc
xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm của bà T.
Theo Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động và người lao
động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo
quy định của pháp luật. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có
trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo khoản 3 Điều 48 Bộ luật
Lao động năm 2019.
Đồng thời, theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao
động có trách nhiệm đăng ký tham gia, đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động; trường hợp chưa thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ thì phải hoàn thành việc đóng theo quy định để bảo đảm quyền lợi của người lao
động.
Do đó, việc Công ty Cổ phần C1 chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng các khoản
bảo hiểm bắt buộc cho bà Nguyễn Thị Xuân T là không đúng quy định pháp luật. Yêu
cầu của bà T về việc buộc Công ty thực hiện nghĩa vụ đóng số tiền bảo hiểm còn thiếu
để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận quá trình đóng và giải quyết các chế độ bảo hiểm
cho bà là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về số tiền bảo hiểm Công ty phải đóng:
Tại Công văn số 768/BHXH-BPQLT ngày 12/8/2026, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa
C xác nhận số tiền Công ty Cổ phần C1 còn nợ liên quan đến bà Nguyễn Thị Xuân T từ
tháng 01 năm 2022 đến tháng 7 năm 2023 là 35.949.169 đồng, gồm:
- Nợ BHXH: 20.600.000 đồng;
- Nợ BHYT: 3.708.000 đồng;
- Nợ BHTN: 1.648.000 đồng;
- Nợ BHTNLĐ, BNN: 302.000 đồng;
* Tiền lãi chậm đóng: 9.691.169 đồng, trong đó lãi BHXH là 7.191.538 đồng; lãi
BHYT là 1.813.447 đồng; lãi BHTN là 575.314 đồng; lãi BHTNLĐ, BNN là 110.870
đồng.Tổng cộng là 35.949.169 đồng.
Đây là số liệu do cơ quan bảo hiểm xã hội là cơ quan chuyên môn trực tiếp quản
lý việc thu, đóng và xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm của người lao động cung cấp
cho Tòa án.
Bị đơn Công ty Cổ phần C1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến phản đối và không cung cấp tài liệu, chứng
cứ chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ đóng số tiền bảo hiểm nêu trên. Do đó, có cơ sở
6
xác định Công ty Cổ phần C1 còn phải thực hiện nghĩa vụ đóng số tiền 35.949.169 đồng
theo xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội tính đến ngày 21/8/2026.
Hội đồng xét xử xét thấy khoản tiền nêu trên là nghĩa vụ đóng bảo hiểm của người
sử dụng lao động, được nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội để ghi nhận quá trình tham
gia bảo hiểm và bảo đảm quyền lợi về bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị Xuân T. Vì vậy,
cần buộc Công ty Cổ phần C1 nộp số tiền trên vào cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm
quyền để thực hiện việc xác nhận quá trình đóng bảo hiểm và giải quyết các chế độ có
liên quan cho bà T.
Đối với tiền lãi chậm đóng, cơ quan bảo hiểm xã hội đã xác định số tiền lãi phát
sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 9.691.169 đồng. Vì vậy, có cơ sở buộc Công ty phải
thực hiện nghĩa vụ nộp số tiền lãi chậm đóng này cùng với số tiền bảo hiểm còn thiếu
theo xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội.
Kể từ ngày 22/8/2026 đến khi Công ty T4 hoàn thành nghĩa vụ đóng, nếu tiếp tục
phát sinh tiền chậm đóng thì Công ty còn phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật có liên quan.
[5] Đối với ông Lưu Thanh T2:
Nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động thuộc trách nhiệm của Công ty Cổ
phần C1 với tư cách người sử dụng lao động. Ông Lưu Thanh T2 là Giám đốc Chi nhánh
I nhưng không phải là người có nghĩa vụ độc lập đối với khoản tiền bà T yêu cầu. Vì
vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm riêng của ông T2 trong vụ án này.
[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Nguyễn Thị Xuân T, buộc Công ty Cổ phần C1 phải nộp số tiền 35.949.169 đồng vào
cơ quan bảo hiểm xã hội để thực hiện việc xác nhận quá trình đóng bảo hiểm và tiếp tục
chịu lãi suất chậm đóng theo quy định pháp luật giải quyết các chế độ liên quan cho bà
T là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quy định của pháp luật
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Xuân T là người lao động khởi kiện yêu cầu người sử dụng lao
động thực hiện nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội nên thuộc trường hợp được miễn án phí lao
động sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14.
Công ty Cổ phần C1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm có giá ngạch theo quy định
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Giá trị nghĩa vụ Công ty phải thực hiện là 35.949.169 đồng, thuộc trường hợp án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bằng 3% giá trị tài sản có tranh chấp.
Án phí được xác định là 1.078.475 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi tám
7
nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 32, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều
227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 168, khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 9 và Điều
13 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024;
Căn cứ các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân T đối với Công ty Cổ
phần C1 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”.
Buộc Công ty Cổ phần C1 phải đóng các khoản bảo hiểm còn thiếu cho bà Nguyễn
Thị Xuân T, theo mã số bảo hiểm xã hội của bà T 4820999471, tại Bảo hiểm xã hội cơ
sở H1 với tổng số tiền 35.949.169 đồng (Ba mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi chín
nghìn một trăm sáu mươi chín đồng), gồm: Tiền BHXH: 20.600.000 đồng; Tiền BHYT:
3.708.000 đồng; Tiền BHTN: 1.648.000 đồng; Tiền BHTNLĐ, BNN: 302.000 đồng;
T3 lãi chậm đóng tính đến ngày 21/8/2026: 9.691.169 đồng.
Công ty Cổ phần C1 có trách nhiệm nộp số tiền nêu trên cho cơ quan bảo hiểm xã
hội để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận quá trình đóng bảo hiểm và giải quyết các chế
độ bảo hiểm có liên quan cho bà Nguyễn Thị Xuân T theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày 22/8/2026 đến khi Công ty Cổ phần C1 thực tế hoàn thành nghĩa vụ
đóng, Công ty còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đóng và nộp tiền chậm đóng phát
sinh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và các quy định pháp luật có liên
quan.
2. Về án phí lao động sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Xuân T được miễn án phí lao động sơ thẩm.
Công ty Cổ phần C1 phải chịu 1.078.475 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi
tám nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng) án phí lao động sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
8
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Thị Hai
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 7/2026/LĐ-ST Bản án số 7/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 7/2026/LĐ-ST Bản án số 7/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất