Bản án số 67/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 67/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 67/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 67/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị V yêu cầu T phải trả tiền cọc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 67/2026/DS-PT
Ngày 30 - 01 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và bà Nguyễn Thị Nhung.
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Kim Duyên - Tký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trương Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 434/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11
m 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số:
03/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Đắk
Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 484/2025/QĐ-PT ngày
12/12/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 16/QĐ-PT ngày 08/01/2026 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị V, sinh năm 1981; Địa chỉ: C H, Q, tỉnh Đắk
Lắk. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 và Bế Thị C, sinh năm
1985; Địa chỉ: Buôn K, xã C, tỉnh Đắk Lắk. Đều có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Văn Đức M, Luật
thuộc Văn phòng L chi nhánh Đ, Đoàn Luật tỉnh Đ. Địa chỉ: A N, Q, tỉnh
Đắk Lắk. Có mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị V trình bày:
Vào ngày 30/01/2022, V có nhận chuyển nhượng thửa đất tại thôn H, xã
Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk của vợ chồng ông Nguyễn Văn TBế Thị C với số
tiền 1.100.000.000đ. V đã chuyển khoản vào tài khoản của C số tiền
2
100.000.000đ để đặt cọc. Do đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng
(GCNQSD) đất, chỉ mới số liệu đo đạc nên hai bên thỏa thuận để V tự làm
hồ cấp GCN, khi nào làm đủ thủ tục nộp lên Phòng Tài nguyên Môi trường
huyện C, hồ sơ mang tên V thì bà V chồng đủ số tiền còn lại là 1.000.000.000đ.
Trong thời gian làm hồ thì bị gián đoạn do dịch covid, hơn nữa việc làm
thủ tục hồ cấp GCN phải được thực hiện theo trình tự, quy định của pháp luật
về mặt thời gian, vấn đề này V có thông báo cho ông T, C biết nhưng hai ông
bà không hợp tác để làm thủ tục và tiếp tục việc mua bán mà đổ lỗi cho bà V làm
chậm và tự ý hủy hợp đồng chuyển nhượng.
Đến ngày 04/10/2022, ông T C hẹn V ra quán phê và hai bên thống
nhất hủy giấy cọc không thực hiện việc chuyển nhượng đất nữa, V yêu cầu
trả lại số tiền cọc thì ông T, bà C đồng ý nhưng xin chờ đến tết có mấy ông anh ở
Lào về thì sẽ trả tiền cho V, nhưng từ đó đến nay ông T bà C cố tình tránh,
không chịu trả tiền cho bà V. Vì vậy, bà V yêu cầu Toà án giải quyết:
1. Tuyên hiệu hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất đề ngày 30/01/2022
giữa bà V với ông T, bà C.
2. Buộc ông T và bà C phải trả số tiền cọc là 100.000.000đ, bà V xin rút một
phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu tính lãi suất.
Đối với nội dung bà C trình bày sau 01 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng đặt
cọc (ngày 30/01/2022), V phải thanh toán số tiền còn lại 1.000.000.000đ
không đúng, bà V không thỏa thuận nội dung này.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn T Bế Thị C trình
bày:
Ngày 30/01/2022, vợ chồng ông T, bà C đã ký kết hợp đồng đặt cọc với bà V
để đảm bảo việc thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho V thửa đất s
02, tờ bản đồ 64, diện tích 28.998,4m
2
với giá 1.100.000.000đ, theo thỏa thuận
miệng giữa hai bên thì sau 01 tháng ktừ ngày kết hợp đồng đặt cọc (ngày
30/01/2022), V phải thanh toán cho ông T, C số tiền còn lại 1.000.000.000đ
tại Phòng T1. Bà V người trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng cấp
GCNQSD đất đối với thửa đất trên. Ông T, bà C trách nhiệm hỗ trợ V các
văn bản, giấy tờ liên quan đến việc đo đạc, đăng cấp GCNQSD đất khi V
yêu cầu.
Từ tháng 3/2022, ông T, bà C đã nhiều lần liên hệ yêu cầu V thực hiện thủ
tục đo đạc, đăng cấp GCNQSD đất thực hiện nghĩa vthanh toán số tiền còn
lại nhưng V liên tục từ chối thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận. Bà V người
vi phạm thỏa thuận ngày 30/01/2022, ông T, C đã thông báo cho V biết về
việc V vi phạm hợp đồng đặt cọc ngày 30/01/2022 và chấm dứt thực hiện hợp
đồng đặt cọc đã kết. Trong trường hợp nêu trên bên nhận đặt cọc không nghĩa
vụ phải tiếp tục thực hiện đặt cọc hoàn trả số tiền đặt cọc theo quy định tại khoản
2 Điều 328 Bộ luật dân sự.
3
Quá trình giải quyết vụ án, ông T C làm đơn phản tố, đề nghị Tòa án
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên tài sản đặt
cọc 100.000.000đ thuộc về bên nhận đặt cọc. Tuy nhiên, yêu cầu này không cần
thiết nên ông xin t lại đơn phản tố đề nghị Toà án không chấp nhận đơn
khởi kiện của bà V.
Tại Bn án dân sự thẩm s03/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 3- Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 122, Điều 123, Điều
131, Điều 407, khoản 1 Điều 408 B luật Dân sự năm 2015;
[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị V.
Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 30/01/2022 giữa bên đặt cc là bà Phạm Thị V
bên nhận cọc ông Nguyễn Văn T, Bế Thị C vviệc đặt cọc đchuyển
nhượng 28.998,4m
2
đất tại xã Q, huyện C là vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C phải trả cho bà Phạm Thị V số tiền
đã nhận cọc là 100.000.000 đồng;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[2] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V về việc yêu cầu
bị đơn ông Nguyễn Văn T và Bế Thị C phải trả lãi suất với số tiền 25.000.000
đồng.
[3]. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu Tòa án công nhận
tài sản đặt cọc thuộc về bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/7/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn T Bế Thị C kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xác minh, yêu cầu UBND xã E
cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung Biên bản xác minh của Toà
án cấp thẩm tại UBND Q (nay UBND E) hoặc triệu tập ông Hồ Văn
Ngọc H là công chức địa chính xã để làm rõ các tình tiết có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, người kháng cáo giữ nguyên các nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận cho rằng: Cấp
thẩm kết luận đất không đủ điều kiện cấp GCNQSD đất chủ yếu dựa vào lời khai
ông Hồ Văn Ngọc H công chức địa chính. Ủy ban nhân dân K cung cấp thông
tin phải có hồ sơ, tài liệu chứng minh nhưng chưa được thu thập đầy đủ. Bị đơn đã
kháng cáo yêu cầu xác minh lại chứng cứ hoặc triệu tập ông H tham gia phiên tòa
nhưng chưa được xem xét. Chưa tài liệu thể hiện hồ xin cấp GCNQSD đất
đã bị quan thẩm quyền từ chối. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tạm
ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án thẩm
số 03/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3- Đắk
Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ vụ án, được
thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương
sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp
tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm là phù
hợp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hiệu hợp đồng
đặt cọc chuyển nhượng đất đề ngày 30/01/2022 thấy rằng:
Ngày 30/01/2022, nguyên đơn bà Phạm Thị V và bị đơn ông Nguyễn Văn T,
Bế Thị C ký hợp đồng đặt cọc có nội dung ông T, bà C đồng ý chuyển nhượng
cho bà V thửa đất số 2, tờ bản đồ s64, diện ch 28.998,4m
2
tại thôn H, Q,
huyện C với giá 1.100.000.000 đồng, V đã đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng,
do đất chưa được cấp GCNQSD đất nên các bên thoả thuận V người đi làm
thủ tục đăng khai xin cấp GCNQSD đất, còn ông T C phải hợp tác
cùng V để đo đạc làm thủ tục, sau khi làm đầy đủ hồ nộp lên Phòng Tài
nguyên môi trường khi đó hmang tên V tV sẽ trả đủ số tiền còn lại
1.000.000.000 đồng; trường hợp ông T, C không chuyển nhượng nữa thì đền
cọc gấp 5 lần, bà V đến ngày làm đủ hồ sơ mà không trả đủ tiền thì mất cọc.
Tại thời điểm này, ông T, bà C chưa được cấp GCNQSD đất, bà V cũng biết
nội dung này nhưng các bên đều thống nhất đặt cọc để đảm bảo việc giao kết,
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tòa án cấp thẩm nhận
định, ông T C chưa được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất trên, tại thời
điểm đặt cọc đất cũng không thuộc trường hợp đủ điều kiện làm thủ tục cấp
GCNQSD đất nên ông T, C chưa được quyền giao kết hợp đồng đặt cọc để
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bản án thẩm tuyên hợp đồng đặt cọc ngày
30/01/2022 bị hiệu có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 122, Điều 123
Bộ luật dân sự. Do đó, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở xem xét.
[2.2]. Xét yêu cầu buộc ông T bà C phải trả cho V s tiền cc
100.000.000 đồng:
5
Theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự quy định: “…2. Khi giao
dịch dân sự hiệu tcác bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
những đã nhận”. Do đó ông T, bà C phải trả lại cho bà V số tiền đặt cọc đã nhận
là phù hợp.
Về lỗi dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng đất hiệu: cả nguyên đơn bị
đơn khi đặt cc đều biết rõ đất chưa được cấp GCNQSD đất nhưng vẫn thoả thuận
đặt cọc để chuyển nhượng nên cả hai bên đều lỗi. Quá trình giải quyết ván,
các bên không ai có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra để giải quyết.
Đối với yêu cầu đòi tiền lãi suất trên số tiền đặt cọc, V đã rút một phần đơn
khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết là phù hợp.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, bị đơn đơn phản tố đề nghị
Tòa án không chấp nhận toàn byêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên i
sản đặt cọc 100.000.000 đồng thuộc về bên nhận đặt cọc. Tòa án cấpthẩm thụ
yêu cầu phản tố trên không phù hợp với quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng
dân sđây chỉ ý kiến phản bác của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Tại phiên tòa, bị đơn rút yêu cầu này nên đình chỉ giải quyết, không
làm phát sinh hậu quả, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2.4] Xét kháng cáo của bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác minh, yêu
cầu UBND E cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung Biên bản
xác minh của Toà án cấp sơ thẩm tại UBND xã Q (nay là UBND xã E) hoặc triệu
tập công chức địa chính xã để làm các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử xét
thấy các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án đã ràng, yêu cầu này
là không cần thiết.
[2.5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của bà V được chấp nhận nên
ông T, bà C phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. V
được nhận lại số tiền trên sau khi thu được từ bị đơn.
[3] Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy Toà án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà V về việc tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu và buộc
ông T, bà C phải trả lại số tiền cọc là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn không
cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên Hội đồng xét xử
phúc thẩm không sở xem xét, cần giữ nguyên quyết định của Bản án thẩm.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông T, C phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:
6
Không chấp nhận kháng cáo bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 3- Đắk Lắk.
- Căn cứ khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 122 Điều
123, Điều 131, Điều 407, khoản 1, Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lphí Tòa án.
[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị V.
- Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 30/01/2022 giữa bên đặt cọc là bà Phạm Thị
V bên nhận cọc là ông Nguyễn Văn T, Bế Thị C về việc đặt cọc để chuyển
nhượng 28.998,4m
2
đất tại xã Q, huyện C là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Văn T Bế Thị C phải trả cho bà Phạm Thị V số tiền
cọc đã nhận là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[2] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V về việc yêu cầu
bị đơn ông Nguyễn Văn T và Bế Thị C phải trả lãi suất với số tiền là 25.000.000
đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
[3]. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T Bế Thị C
về việc yêu cầu Tòa án công nhận tài sản đặt cọc thuộc về bị đơn.
[4]. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn T Bế Thị C phải chịu
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bà Phạm Thị
V được nhận lại số tiền trên sau khi thu được từ ông Nguyễn Văn T Bế Thị
C.
[5]. Về án phí:
[5.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C phải
chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) án phí dân sự thẩm, được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí phản tố đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo
biên lai thu số AA/2023/0008173 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện Cư M’gar (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3). Ông Nguyễn Văn
T và bà Bế Thị C còn phải nộp 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).
Trả lại số tiền tạm ng án phí 3.425.000 đồng (Ba triệu bốn trăm hai mươi
lăm nghìn đồng) cho Phạm Thị V theo biên lai số AA/2023/0007759 ngày
11/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar (nay là Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 3).
[5.2] Án pdân s phúc thm: Ông Nguyễn Văn T và bà Bế Thị C mỗi người
7
phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu
trừ trong số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu s0005703 ngày 25/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lk.
2. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà TP TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 3;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Thị Thanh Huyền
Tải về
Bản án số 67/2026/DS-PT Bản án số 67/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 67/2026/DS-PT Bản án số 67/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất