Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 65/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long |
Số hiệu: | 65/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/06/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ly hôn giữa Trần Thị Bé P và Nguyễn Nhựt T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 6 - 2025
V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn T Phong
2. Ông Nguyễn T Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Phú Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 472/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng
12 năm 2024 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định
hoãn phiên tòa số: 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé P, sinh năm 1989; ĐKTT: 60/2 khu phố
A, Thị trấn Th, huyện T, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: 111/2 khu phố B, Thị trấn T,
huyện T, tỉnh B (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Nhựt T, sinh năm 1987; địa chỉ: 60/2 khu phố A,
thị trấn T, huyện T, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản khai, Đơn xin xét xử vắng mặt trong quá
trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Bé P trình bày:
Chị và anh Nguyễn Nhựt T qua thời gian tìm hiểu, được gia đình tổ chức lễ
cưới rồi tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy
2
ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh B, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết
hôn ngày 09/12/2009. Thời gian sống chung chị và anh T có 01 con chung Nguyễn
Trần Thanh K, sinh ngày: 21/11/2014, hiện đang sống cùng chị. Thời gian đầu
sống hạnh phúc, tuy nhiên từ khoảng năm 2012 thì anh T tham gia chơi cờ bạc,
nhậu nhẹt. Chị và gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng anh không sửa đổi. Chị đã
nhiều lần gồng gánh phụ trả nợ cờ bạc của anh, hi vọng anh cải sửa. Tuy nhiên chị
nhận thấy anh càng tham gia cờ bạc, nhậu nhẹt nhiều hơn. Nhận thấy hôn nhân
không còn khả năng hàn gắn, chị không thể tha thứ và tiếp tục chịu đựng để gồng
gánh trả nợ thay anh T nữa. Chị đã cố gắng chịu đựng trong thời gian dài để anh T
cải sửa nhưng anh không thay đổi. Từ lúc chị trở về nhà mẹ ruột sinh sống từng
tháng 02/2024 cho đến nay, anh không có lần nào đến thăm con, cũng không liên
lạc gì với chị để hàn gắn tình cảm. Vì vậy nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị khi ly hôn.
Về con chung: chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn
Trần Thanh K, sinh ngày 21/11/2014 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Thu
nhập từ tiệm bán bánh kem của chị đủ chi phí để chị trang trải nuôi con nên chị
không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Nhựt T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều
vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự từ khi thụ lý cho
đến khi đưa vụ án ra xét xử. Do nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn
đã được triệu tập lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả
những người tham gia tố tụng trong vụ án.
Về nội dung: xét lời trình bày của chị P cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Thấy rằng trong thời gian chung sống chị P và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn,
không hàn gắn đoàn tụ được. Do đó có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh chị P và
anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82,
83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
3
xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ
vào đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bé P, chị yêu cầu ly hôn với anh
Nguyễn Nhựt T nên đây là tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1
Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn
anh Nguyễn Nhựt T cư trú tại số 60/2 khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh B, do đó
căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Thạnh Phú.
[2] Về tố tụng: chị P có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T đã được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân
sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ
án.
[3] Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị
P và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân
dân thị trấn T, huyện T, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày
09/12/2009. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều
kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp
pháp.
Xét lời trình bày của chị P cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị và
anh T đã trải qua khoảng thời gian dài mất hạnh phúc, từ nguyên nhân anh T tham
gia chơi cờ bạc. Chị và gia đình nhiều lần phụ trả nợ cờ bạc của anh và khuyên giải
nhưng anh không sửa đổi mà càng sa đà nhiều hơn. Chị và anh T đã ly thân từ
tháng 02/2024 cho đến nay, anh cũng không có lần nào đến thăm con, cũng không
liên lạc gì với chị để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên chị thấy rằng không có khả
năng hàn gắn đoàn tụ.
Đối với anh Nguyễn Nhựt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng vẫn vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử cùng với kết quả xác minh về
tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh T cho thấy nội dung mà chị P đã trình bày về
tình trạng hôn nhân giữa chị và anh T là có căn cứ chấp nhận. Từ đó cho thấy mâu
thuẫn của vợ chồng chị P và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn
nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P là phù hợp
.
[4] Về con chung: cháu Nguyễn Trần Thanh K, sinh ngày 21/11/2014 hiện
đang sống cùng chị P và cháu K có nguyện vọng sống cùng chị P. Xét thấy chị P
4
có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dạy để con chung phát triển tốt về thể chất, tinh
thần. Vì vậy giao cháu K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định
tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời ghi nhận việc anh T không cấp
dưỡng nuôi con chung do chị P không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: chị P trình bày không có và không yêu cầu
giải quyết; anh T không có lời trình bày về vấn đề này, do đó Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết. Chị P và anh T được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án
giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung trong vụ án dân sự khác (nếu có yêu
cầu).
[6] Về án phí: chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch
đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; các Điều 39, Điều 147, Điều
228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn
nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bé P. Chị Trần
Thị Bé P được ly hôn với anh Nguyễn Nhựt T.
Chị P và anh T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng
khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
2. Về con chung: chị P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần
Thanh K, sinh ngày 21/11/2014 và ghi nhận việc anh T không cấp dưỡng nuôi con
chung do chị P không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, cha
mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp
nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có căn cứ.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị P trình bày không có và không yêu cầu
giải quyết; anh T không có lời trình bày về vấn đề này nên không xem xét giải
5
quyết. Chị P và anh T được quyền khởi kiện yêu cầu về việc giải quyết về vấn đề
tài sản chung, nợ chung trong vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị Bé P phải chịu
300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
số 0006055 ngày 02/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú
xem như đã nộp xong.
5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- UBND Thị trấn Thạnh Phú;
- VKSND huyện Thạnh Phú;
- Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
- TAND tỉnh Bến Tre;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phan Cẩm Nhung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm