Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang, tỉnh An Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 60/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang, tỉnh An Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang, tỉnh An Giang |
Số hiệu: | 60/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 17/06/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | bà D yêu cầu ly hôn với ông L và xin nuôi con chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN GÒ QUAO Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2025.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Ông Lê Hữu Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò
Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị
Kim Lài – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh
Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:
28/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn và tranh chấp
về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HNGĐ,
ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2025/QĐST-HNGĐ,
ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy D - sinh ngày 09/9/1997, có đơn xin vắng
mặt.
Địa chỉ: ấp L, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Chí L - sinh ngày 09/11/1996, vắng mặt.
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện G, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Thùy D như sau:
2
Vào năm 2019, bà và ông Nguyễn Chí L tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện,
vợ chồng ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã
V, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 01/8/2019.
Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường
xuyên cự cãi do ông L ít quan tâm vợ con, ngoài ra bà còn mâu thuẫn với mẹ chồng.
Từ tháng 8/2023, bà bỏ về nhà cha mẹ ruột và vợ chồng bà đã sống ly thân từ đó đến
nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không
còn tình cảm với ông Nguyễn Chí L nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly
hôn với ông Nguyễn Chí L.
Thời gian chung sống vợ chồng bà có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn P –
sinh ngày 24/9/2020, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan hiện vợ chồng bà không có nợ chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng
bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của
pháp luật.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn
Chí L.
Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Tấn P – sinh ngày
24/9/2020 và không yêu cầu ông Nguyễn Chí L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Chí L đã được Tòa án niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng
nhưng ông Nguyễn Chí L không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến
hay bất cứ yêu cầu nào của ông Nguyễn Chí L.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao,
tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án
đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách
đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống
đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai
3
chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ
thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp
luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng
mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng
xét xử xử cho bà Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với ông Nguyễn Chí L. Về con
chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Tấn P – sinh ngày 24/9/2020 cho
bà Nguyễn Thị Thùy D nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ
chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ
và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Nguyễn Chí L
là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Chí L là bị đơn trong vụ án, ông Nguyễn Chí L có địa chỉ rõ ràng,
đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Nguyễn Chí L vẫn còn
hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định
tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Chí L vắng mặt tại phiên tòa
02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố
tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Chí L.
Bà Nguyễn Thị Thùy D có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Nguyễn
Thị Thùy D không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ
quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Thùy
D.
4
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Nguyễn Chí L tổ chức đám
cưới vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2010 ông bà đăng ký kết hôn theo
quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy
chứng nhận đăng ký kết hôn số 90/2019, ngày 01/8/2019, như vậy, Hội đồng xét xử
xác định hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Nguyễn Chí L là hôn nhân hợp
pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thùy
D và ông Nguyễn Chí L là hôn nhân tự nguyện nhưng trong quá trình sống chung đã
phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Nguyễn Thị Thùy D cho rằng vợ
chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi do ông
Nguyễn Chí L ít quan tâm vợ con, ngoài ra bà còn mâu thuẫn với mẹ chồng. Vợ chồng
đã ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông Nguyễn
Chí L không thường xuyên liên lạc với nhau. Ngày 24/4/2025 và ngày 12/5/2025, Tòa
án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng
ông Nguyễn Chí L vắng mặt và bà Nguyễn Thị Thùy D cương quyết ly hôn với ông
Nguyễn Chí L. Xét thấy, vợ chồng bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Nguyễn Chí L đã
sống ly thân với nhau hơn 01 năm, trong thời gian này, ông Nguyễn Chí L và bà
Nguyễn Thị Thùy D không tìm được tiếng nói chung để hàn gắn hôn nhân, khi Tòa
án mời ông Nguyễn Chí L đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ
chồng ông bà đoàn tụ thì ông Nguyễn Chí L không có mặt cho thấy ông không còn
quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không
đạt được. Bà Nguyễn Thị Thùy D cương quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Chí L và
tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Nguyễn Chí L, vì vậy, căn cứ khoản
1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy D.
[4] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy D và ông Nguyễn Chí L có 01 người
con chung tên Nguyễn Tấn P – sinh ngày 24/9/2020, hiện nay bà Nguyễn Thị Thùy D
đang nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Chí L không nuôi con và không có ý kiến về quyền nuôi. Bà
Nguyễn Thị Thùy D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tấn P
– sinh ngày 24/9/2020 và cháu Tấn Phát H chưa đủ 04 tuổi cần sự chăm sóc của mẹ
và bà D nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu nên căn
5
cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà
Nguyễn Thị Thùy D.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thùy D không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thùy D không yêu cầu nên
Hội đồng xét xử miễn xét.
[7] Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát
có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại
phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Thị Thùy D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án
phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo
biên lai thu số 0010122, ngày 10/02/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò
Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy D.
Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Thùy D ly hôn với ông Nguyễn Chí L.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn P – sinh ngày 24/9/2020 cho bà Nguyễn
Thị Thùy D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông Nguyễn Chí L được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Không ai được phép cản trở ông L thực hiện quyền này.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con
theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem
xét.

6
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thùy D phải nộp 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí trước đây theo biên lai thu số 0010122, ngày 10/02/2025, của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều
7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
-TAND tỉnh;
-VKS Gò Quao;
-Chi cục THA;
-Các đương sự;
- UBND xã VHHN;
-Lưu hồ sơ. Phan Thị Thùy Trang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Bản án số 23/2025/HNGĐ-PT ngày 08/08/2025 của TAND TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm